Tải bản đầy đủ (.doc) (95 trang)

thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988 đến nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (429.27 KB, 95 trang )

Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI
1. Khái niệm
Đầu tư nước ngoài là một hoạt đông kinh tế đối ngoại quan trọng đối
với quá trình phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới. Hoạt động
đầu tư nước ngoài trong từng giai đoạn lịch sử mang những đặc điểm riêng
phụ thuộc vào trình độ phát triển sản xuất thực tiễn ở mỗi quốc gia. Do vậy,
quan niệm về đầu tư nước ngoài cũng được nhìn nhận khác nhau trong luất
pháp của mỗi nước.
Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam năm 2000 quy định:
đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam bằng
tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầ tư theo quy định
của Luật này.
Tuy vậy, để có thể dễ dàng tham gia vào hoạt động đầu tư nước
ngoài, người ta thường sử dụng khái niệm chung nhất sau: đầu tư nước
ngoài là việc các nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân đưa vốn vay hay bất kỳ
hình thức giá trị nào khác vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hay đạt dược các hiệu quả
kinh tế- xã hội.
Trong hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác nhau.
Nhìn chung, vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước bằng hai con đường:
đường công cộng và đường tư nhân hoặc thương mại. Hình thức chủ yếu
trong đường công cộng là viện trợ, bao gồm viện trợ hoàn lại và cho vay
với lãi suất thấp từ các tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ các nước phát triển.
Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợ nước ngoài, nhưng quy mô nhỏ
và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ.
- 1 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988


đến nay
Các hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế là đầu tư trực tiếp, đầu
qua thị trường chứng khoán (Porfolio), cho vay của các định chế kinh tế và
các ngân hàng nước ngoài và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA).
Cho vay thương mại có lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ
nước ngoài trong tương lai. Đầu tư chứng khoán không trở thành nợ nhưng
sự thay đổi đột ngột trong hành động bán chứng khoán, rút tiền về nước
của nhà đầu tư nước ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vốn, gây
biến động tỷ giá và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô.
Trong khi đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thưc đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn
đầu tư vào các dự án nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát
các doanh nghiệp sản xuất hay kin doanh dịch vụ thương mại. Do vậy, FDI
cũng là hình thức đầu tư quốc tế không trở thành nợ, đây là vốn có tính chất
bén rễ ở nước bản xứ nên không dễ tút đi trong thời gian ngắn.
Vốn góp ở đây có thể bằng tiền (ngoại tệ mạnh, tiền nội địa, các vật
khác coi như tiền), cũng có thể bằng các tài sản hữu hình khác (sức lao
động, máy móc thiết bị, dây chuyên công nghệ ) hay bằng tài sản vô hinhg
(bí quyết công nghệ, uy tín hàng hoá, quyền sử dụng đất ).
2. Các đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI hiểu theo nghĩa rộng có thể được hiểu là việc thiết lập, giành
quyền sở hữu hay là sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư hiện có
trong một công ty, doanh nghiệp ở nước ngoài. Do đó, FDI mang những
đặc trưng cơ bản sau :
- Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tại nên phải tuân thủ
theo các quy định của pháp luật của nước đó đề ta đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
- FDI là một hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân, do các chủ đầu
tư tự quyết định đầu tư, cản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lãi,
lỗ nên hình thức này thường mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.

- 2 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
- Tỷ lệ góp vốn sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ
giữa các chủ đầu tư. Tuỳ theo luật của từng nước mà quyền và nghĩa vụ
giữa hai bên trong nước và ngoài nước được quy định khác nhau.
- Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh chứ không phải là một khoản thu nhập ổn định và lợi nhuận thường
được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong tổng số vốn pháp định sau khi đã
nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần.
- Hoạt động FDI phần lớn vì mục đích tìm kiếm lợi nên chủ yếu tập
trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đem lại lợi nhuận cao cho
nhà đầu tư.
- Về hình thức, nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong các cách thức
sau : bỏ vốn thành lập một doanh nghiệp mới ở nước ngoài, mua lại toàn bộ
hay một phần các xí nghiệp sẵn có ở nước tiếp nhận đầu tư, mua cổ phiếu
để thôn tính, sát nhập.
- Hiện tượng đa cực và đa biên trong FDI là hiện tượng đặc thù,
không chỉ gồm nhiều bên với tỷ lệ góp vốn khác nhau mà còn là các hình
thức khác nhau của tư bản, như tư bản tư nhân và tư bản Nhà nước cùng
tham gia.
- Tồn tại hiện tượng hai chiều trong FDI, đó là hiện tượng một nước
vừa nhận sự đầ tư của nước khác lại vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài
nhằm tận dụng lợi thế so sánh giữa các nước với nhau.
- Do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn liền với lợi ích do đầu
tư đưm lại nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần
trình độ quản lý, tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư.
- FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc
gia và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tễ.
3. Các hình thức đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Hiện nay, hoạt động FDI diễn ta ở Việt Nam chủ yếu dưới hình thức
sau:
- 3 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
* Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD)
HĐHTKD là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến
hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lâp pháp nhân
mới.
* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do chủ đầu tư
nước ngoài đầu tư vốn thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, thời gian hoạt
động không quá 50 năm.
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động theo
hình thức công ty TNHH, tuân thủ theo pháp luật của nước sở tại.
Toàn bộ vốn đầu tư duy trì sản xuất kinh doanh, kể cả phần đầu tư
xây dựng cơ sở vật chát ban đầu do nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra.
Vốn pháp định của doanh nghiệp không thấp hơn 30% vốn đầu tư.
Trong thời gian hoạt động hoạt động không được giảm vốn pháp đinh. Việc
tăng vốn pháp định phải được cơ quan cấp giấy phép chuẩn y.
Chủ đầu tư nước ngoài nắm 100% quyền quản lý, điều hành sản
xuất, kinh doanh và tự chịu tách nhiệm với hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
* Hình thức doanh nghiệp liên doanh (DNLD)
DNLD là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại
Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính
phủ Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do DNLD hợp tác với
nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Trong hình thức này
mỗi bên sẽ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết vào vốn pháp
định của liên doanh.
- 4 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
Ngoài ba hình thức cơ bản trên còn có các hình thức khác như: Xây
dựng - chuyển giao - kinh doanh (BOT); Xây dựng - kinh doanh - chuyển
giao (BTO); Xây dựng - chuyển giao (BT).
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU HÚT FDI
Thông qua một số khái niệm và đặc điểm của FDI đã được đề cập ở
trên, ta có thể thấy dòng FDI vào các nước sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố. Chung qui lại ta có thể chia ra làm hai nhóm yếu tố đó là: nhóm
nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan.
1. Các yếu tố khách quan.
1.1. Xu hướng của dòng FDI trên thế giới.
Nếu xu hướng này có chiều hướng tích cực, ngày càng gia tăng thì
thường nước tiếp nhận đầu tư có thêm khẳ năng và cơ hội để thu hút nhiều
vốn đầu tư hơn. Ngược lại, thì nó sẽ gây bất lợi, hạn chế đối với hoạt động
thu hút FDI của nước này.
1.2. Động cơ, chính sách của các nhà đầu tư.
Những nhân tố này tác động trực tiếp tới khả năng ký kết, thực hiện
và khả năng triển khai các dự án FDI, qua đó ảnh hưởng tới thu hút FDI
của nước tiếp nhận đầu tư.
Động cơ chung nhất của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi
nhuận cao và sự thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, động cơ
cụ thể của chủ đầu tư trong từng dự án lại rất khác nhau tuỳ thuộc vào
chiến lược phát triển của các doanh nghiệp và mục tiêu của nó ở thị trường
nước ngoài, tuỳ thuộc mối quan hệ sẵn có của nó với nước chủ nhà. Chung

quy lại, có ba động cơ cụ thể tạo nên ba định hướng khác nhau trong FDI
là:
- Đầu tư định hướng thị trường (market seeking investment): Hình thức
đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang
nước sở tại. Hình thức này giúp cho các chủ đầu tư giải quýêt được vấn đề
- 5 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
bành trướng thị trường, khó khăn trong thâm nhập thị trường nước ngoài do
hệ thống bảo hộ của nước đó, kéo dài vòng đời sản phẩm.
- Đầu tư định hướng chi phí (Efficiency seeking investment): Là hình
thức đầu tư ở nước ngoài nhằm giảm chi phí sản xuất thông qua việc tận
dụng lao động và tài nguyên rẻ của nước sở tại, nhằm tăng sức cạnh tranh
của nước sở tại, nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Hình thức này còn giúp cho
chủ đầu tư giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội khác như: tránh được
những quy định chặt chẽ của các nước phát triển về môi trường sự dư thừa
vốn trong nền kinh tế thị trường, sự tăng giá của đồng tiền
- Đầu tư định hướng nguồn nguyên liệu (resource seeking investment):
là hình thức đầu tư theo chiều dọc, trong đó các cơ sở đầu tư ở nước ngoài
là một bộ phận cấu thành, trong dây truyền kinh doanh của công ty mẹ, có
trách nhiệm khai thác nguyên liệu tại chổ của nước sở tại, cung cấp cho
công ty mẹ để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm. Hình thức này giúp chủ đầu tư
tháo gỡ được khó khăn khi thiếu nguồn nguyên liệu phù hợp với các dự án:
khai thác và sơ chế các sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, khai thác dầu
khí và các tài nguyên thiên nhiên khác.
Ngoài ra, hiện nay còn tồn tại một loại hình đầu tư nữa rất phổ bíên
là đầu tư định hướng liên minh: Là hình thức đầu tư có mục đích tạo thế
độc quỳên, thương là do các nhà đầu tư tiến hành sát nhập với nhau. Hình
thức này đem lại mối lợi lớn cho nhà đầu tư nhưng không có lợi cho thị
trường.

2. Môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư (Các yếu tố khách
quan).
Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh
tế, xã hội có liên quan, tác động đến các hoạt động đầu tư và đảm bảo khả
năng sinh lợi của vốn đầu tư. Đây cũng là tổng hoà các nhân tố chủ quan
đối với một nước khi tiếp nhận dòng vốn FDI.
2.1. Môi trường chính trị.
- 6 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
Môi trường chính trị phải ổn định là tiền đề quan trọng quyết định
đến đầu tư hay không của các nhà đầu tư. Môi trường đầu tư ổn định sẽ góp
phần cũng cố lòng tin của các nhà đầu tư, làm cho họ yên tâm hơn khi
quyết định bỏ vốn. Nhà đầu tư nước ngoài có mục tiêu là tìm kiếm lợi
nhuận nên họ không dại gì mà đầu tư vào một nước đang trong thời kỳ
chiến tranh hay bạo loạn, khủng bố vì như vậy ngay cả tính mạng của họ
còn không được bảo toàn, chưa nói gì tới đồng vốn của họ có giữ được hay
không và cũng khó có khả năng sinh lời do thi trường lúc đó không ổn
định,
2.2. Các chính sách kinh tế.
Để tạo sự hấp dẫn hơn nữa cho thị trường đẩu tư của nước mình, tạo
lợi thế cạnh tranh so với nước khác. Tất cả các nước trên thế giới đều có
những chính sách khuyến khích, ưu đãi cho những nhà đầu tư nước ngoài
thông qua các công cụ, biện pháp như: các ưu đãi về miễn giảm thuế, tín
dụng, quyền bảo hộ trí tuệ , đồng thời chính phủ cũng có thể nâng tính
ràng buộc đối với các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các quy định chặt
chẽ như: các quy định về lĩnh vực và nghành nghề cấm, hạn chế đầu tư và
đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đó để tránh những điều bất
lợi mà đầu tư nước ngoài có thể gây ra.
2.3. Hệ thống luật pháp.

Hệ thống luật pháp của một nước cần phải thông thoáng để có thể
thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cũng cần phải có những ràng
buộc để tránh những tác động xấu. Nhưng điều cần thiết là hệ thống các
văn bản pháp luật phải rõ ràng, thống nhât, tạo nên cơ sở vững chắc cho các
nhà đầu tư tham khảo để đi đến quyết định của mình.
2.4. Các thủ tục hành chính
Hiện nay, so với một số nước thủ tục hành chính cho việc xin cấp
phép, gia hạn, thêm vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta vẫn bị đánh giá là
quá phiền hà. Tất cả những điều này sẽ gây cho nhà đầu tư nước ngoài cảm
- 7 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
giác chán nãn, không muốn đầu tư vì lãng phí quá nhiều thời gian. Đối với
nhà đầu tư nước ngoài thì một cơ chế, các thủ tục hành chính nhanh gọn,
chính xác và kịp thời sẽ là sự cổ vũ rất lớn cho họ khi quyết định đầu tư và
triển khai dự án ở một số nước.
III. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1. Tác động tích cực của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhìn nhận khác nhau từ phía các
nước đang phát triển. Trong nhửng thập kỷ 60 và 70 do mới thoát khỏi chế
độ thuộc địa, phần lớn các nước đang phát triển đã theo hướng xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiên chiến lược công nghiệp hoá thay thế
nhập khẩu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh đó vẫn được coi là
một hinhdf thức xuất khẩu tư bản, một phương tiện xâm lược kinh tế từ bên
ngoài và do đó cần có thái độ thận trọng. Xét từ phái các nhàđầu tư nước
ngoài đó là thời kỳ đi tìm các nguồn tài nguyên nguyên liệu mới và hướng
chính trong đầu tư vào các nước đang phát triển là khai thác tài nguyên.Từ
thập kỷ 80 trở lại nay đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát
triển đã có nhửng chuyển biến về chất, xét cả vè động cơ của nhà đầu tư

cũngnhư mong muốn của chủ nhà. Nền kinh tế thế giới phát triển theo
hướng toàn cầu hoá và các nước đều nhận thức được tínhtất yếu của sự phụ
thuộc lẫn nhau vè mặt kinh tế. Đầu tư nước ngoài trở thành một yêu tố
quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia
trong đó có cả nước đang phát triển. Những tác động cơ bản của FDI xét từ
cách nhìn nhận như vậy thể hiện trên những khía cạnh sau đây.
1.1. FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn đàu tư, ghóp phần tạo ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tỷ lệ vốn tích luỹ từ trong nước, đặc biệt là ở những nước đang phát
triển còn ở mức thấp là một trở ngại lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã
- 8 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
hội. Thu hút FDI là một hình thức huy động vốn để hổ trợ cho nhu cầu đầu
tư của nền kinh tế.
FDI vào các nước đang phát triển sẽ tạo động lực tích cự đối với việc
huy động các nguồn vốn khác như ODA, vốn đàu tư trong nước Rồi tiếp
tục từ đó nó tạo ra hình ảnh đẹp, đáng tin cậy về nước này trong các tổ
chức và cá nhân nước ngoài. Hơn nữa ngay trong quan hẹ đối nội, FDI còn
có tác dụng kính thích đối vớiviệc thu hút vốn đầu tư trong nước.
Trong 15 năm qua, nguồn vốn FDI vào Việt nam đã thực sự trở
thành một trong những nhân tố quan trọng nâng cao tốc độ tăng trưởng
kinh tế – xã hội. Nhờ có nguồn vốn FDI nguồn vốn ngân sách có thể được
dành nhiều hơn cho phát triển cơ sở hạ tầng, khuyến khích đầu tửtong nước
vào các vùng kinh tế khó khăn, do đó tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế đông
đều giữa các vùng. Như vây thông qua hình thức FDI nguồn vốn cần thiết
phần nào đã đáp ứng kịp thời ghóp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế Việt nam trong suốt thời kỳ mở cửa cho đến nay.
1.2. FDI mang lại kỹ thuật công nghệ cho nước tiếp nhận đầu tư
Bên cạnh vai trò cung cấp nguồn vốn, FDI còn mang lại cho các

nước tiếp nhận những quy trình sản xuất. Chuyển giao kỹ thuật, bản quyền
phát minh, kinh nghiệm quản lý cho nước chủ nhà, ghóp phần nâng cao và
phát triển lực lượng sản xuất cơ cấu lại nền kinh tế. Thông thường qua việc
thực hiện FDI quá trình chuyể giao công nghệ được thực hiện nhanh chóng
và thuận lợi cho cả hai bên (trong đó có cả một số công nghệ bị cấm xuát
theo con đường ngoại thương).
Nhìn chung kỹ thuật và quy trình công nghệ mới, hiện đại thường
được chuyển giao từ các nước chính quốc sang các nước đang phát triển
với 100%cổ phần của họ nhằm nâng cao cạnh tranh của các công ty đó tại
thị trường nước chủ nhà. Còn kỹ thuật hay quy trình sản xuất “ hạng hai ”
được chuyển giao cho đối tác nước chủ nhà thông qua kênh liên doanh
- 9 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
hoặc bán bản quyền. Đi kèm với việc chuyển giao công nghệ là việc
chuyển giao kỹ thuật và kỹ năng quản lý.
Đối với nước ta việc hợp tác với nước ngoài trong thời gian quađã
đem lại một khối lượng lớn máy móc thiết bị và cách thức sản xuất được
chuyển giao, ghóp phần nâng cao trình độ sản xuất. Chúng ta dã tiếp nhận
được một số công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong nhiều nghành kinh tế quan
trọng như viến thông, thăm dò dầu khí, điện tử, sản xuấtvà lắp ráp ô tô
Mặc dù chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI chưa đạt như mong
muốn, song nhìn chung là những công nghệ hơn hẵn công nghệ trong nước
hoặc trong nước chưa có. Trong đó, hơn 60% là đầu tư vào chiều sâu, đã
giúp cho việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước đẻ sản xuất ra ngày
càng nhiều sảnphẩm chất lượng cao, giá cả phù hợp, đáp ứng nhu câu trong
nước và phần lớn xuát khẩu để thu ngoại tệ. Đồng thời, FDI cũng kích
thích các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng đổi mới hoặc cải tiến công
nghệ hiện có để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.3. FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong điều kiện kinh tế mở, các quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra động
lực vàđiều kiện cho sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của các nước.
Trong đó, FDI là một động lực mạnh mẽ, tác động to lớn đến chuyển dịch
kinh tế theo hai hình thức: chuyển dịch cơ cấu nghành( đơn tức phân công
lao động xã hội theo chiều ngang) và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ
nghành (tức phân công lao động xã hội theo chiều dọc).
Sự tập trung đầu tư của các nhàđầu tư nước ngoài vào những ngành
nghề và địa phương có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ ghóp phần làm phát huy nội
lực của các nghành và lĩnh vực đó, đồng thời kéo theo sự phát triển của một
số nghành nghề có liên quan như các nghành bổ trợ đầu tư, các nghànhtiêu
thụ đầu ra và một số vùng lân cận. Khi đầu tư vào các lĩnh vực và các
nghành này trở nên bão hoà, các nhà đầu tư sẽ chuyển sang các nghành
nghề và địa phương khác theo định hướng của chính phủ thông qua một số
- 10 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
chính sách, ưu đãi đầu tư. Như vậy nó đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu
nghành nghề và cơ cấu vùng lãnh thổ theo hướng tích cực .
Những năm qua, nhờ có nguồn vốn FDI đầu tư vào nền kinh tế Việt
nam đã làm chuyển dịch từ một nền kinh tế mà nông nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng
chiếm ưu thế. Đặc biệt, đối với một số nghành như công nghiệp và xây
dựng cơ bản, dầu khí, bưu chính viễn thông là những nghành then chốt lại
có tỷ lệ vốn FDI rất cao. Đầu tư nước ngoài đã phục vụ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH- HĐH, tập trung vào sản xuất, xuất khẩu, xây
dựng kết cấu hạ tầng. Trong đó đầu tư nước ngoài vào xây dựng chiếm
khoảng 73% vốn thực hiện. FDI đã nâng cao mức độ sử dụng công nghẹ
mới trong các nghành công nghiệp dầu khí, hoá chất, điện tử, tin học, ôtô
Tỷ trọng một số sản phẩm chủ yếu do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
sản xuất ra chiém khá cao trong toàn nghành công nghiệp, ví dụ như: dầu

thô, ôtô chiếm 100%; tivi chiếm 80,8%; chất tẩy rữa chiếm 62,2%; sút
chiếm 76,4%; máy công cụ chiếm 56,4%
1.4. FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm
mới
Cùng với các dự án FDI là các xí nghiệp liên doanh, các công ty
100% vốn nước ngoài được thành lập, thu hút rất nhiều lao động trực tiếp
và gián tiếp, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp cho nước nhận đầu tư.
tính hết năm 2002, các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoài đã thu hút hoảng
hơn 48 vạn lao động cho Việt Nam, ngoài ra FDI còn tạo ra hàng chục vạn
lao động gián tiếp trong lĩnh vực xây dựng và các lĩnh vực khác.
Bên cạnh đó, những công nhân và cán bộ làm trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ tương đối cao so với mặt
băngf chung, lại được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến,
được làm việc với các nhà quản lý nước ngoài, cán bộ công nhân của nước
- 11 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
chủ nhà cũng học hỏi được cách lam việc vận dụng hết năng lực, có tính
sáng tạo và lây hiêu quả công việc làm đầu.
Dù FDI vào các nước đang phát triển dưới bất kỳ hình thức nào đều
thường kèm theo các nhà quản lý nước ngoài để hướng dẫn, từ đó bên Việt
Nam sẽ học hỏi được các kinh nghiệm và cách thức quản lý như tổ chức
sản xuất có hiệu quả hơn, kinh nghiệm quản lý các xí nghiệp lớn, giúp các
nhà quản lý Việt Nam tiếp cận với kho thông tin khổng lồ và những kiến
thức về phương pháp quản lý hiện đại, được phổ biến thông qua đào tạo
nhân sự người bản địa trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp
nước ngoài.
1.5. FDI làm tăng thu ngoại tệ và làm tăng nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nước
FDI đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua

việc thu thuế, phí và các nghĩa vụ tài chính khác của các doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, khu vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã tạo
ra trên 13% GDP, trên 34% giá trị sản xuất công nghiệp và gần 7% nguồn
thu ngân sách của nhà nước. Thành tựu này thực sự có ý nghĩa góp phần
thúc đẩy sự tăng trưởng của cả nước, thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh
và bền vững mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
FDI như là một giải pháp để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế vì
luôn có tình trạng mất cân đối chủ yếu là do nhập khẩu, hầu hết các dự án
FDI có chủ trương tăng cường xuất khẩu, từ đó thu lượng ngoại tệ lớn cho
nước chủ nhà. Từ thời kỳ 1988 đến nay tổng kim ngạch xuất khẩu của khu
vực FDI đạt hơn 13,8 tỷ USD. Tuy chưa phải là nhiều song trong bối cảnh
kinh tế của nước ta cũng như thế giới hiện nay, kết quả này thật đáng khích
lệ, đã góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế của Việt Nam.
1.6. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
- 12 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
Khi các nước đang phát triển nhận thức được rằng, sự phát triển kinh
tế không những phải dựa vào thị trường thế giới để tham gia phân công lao
động quốc tế thì một vấn ddè được đặt ra là bằng cách nào có thể thực hiện
quá trình đó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Hội nhập kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển từ thay
thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu. Các nghiên cứu về quá trình phát
triển kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những yếu tố
đảm bảo cho chiến lược công nghiệp hướng về xuất khẩu thành công là thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này, về mặt lý thuyết là do đầu tư trực
tiếp gắn bó chặt chẽ với thương mại, về mặt thực tế thì các nước đang phát
triển rất thiếu kinh nghiệm và khả năng xâm nhập thị trường nước ngoài.

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước đang phát triển được thu
hút vào mạng lưới phân công lao động quốc tế và khu vực.
Hầu hết các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu cao và tao ra những chuyển biến trong cơ cấu thương mại quốc tế của
mình là nhờ vào thu hút FDI vào các ngành công nghệ tiên tiến và những
ngành tạo ra những sản phẩm được ưu chuộng trên thế giới.
2. Những tác động tiêu cực
2.1. Ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế
FDI làm tăng sự phụ thuộc nền kinh tế các nước đang phát triển như
vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của các nước công nghiệp
phát triển. FDI đáp ứng nhu cầu khan hiếm vốn đầu tư, góp phần giải quyết
nguồn vốn cần có của các nước đang phát triển để tiến hành CNH- HĐH
nên nếu các nước này càng dựa vào FDI thì lại càng phụ thuộc về kinh tế
đối với các nước phát triển.
Thông qua hình thức FDI, một số nước chuyển những công nghệ lạc
hầu, không đạt tiêu chuẩn về môi trường ở nước mình sang các nước đang
phát triển, thậm chí còn định giá cao hơn giá trị thực của nó. Như vậy là khi
- 13 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
thực hiện dự án liên doanh hay 100% vốn nước ngoài tại các nước đang
phát triển, các nhà đầu tư nước ngoài thường được khuyến khích góp vốn
bằng các thiết bị vật tư, máy móc, công nghệ mà những nước đang phát
triển thường không làm được và không có. Mặt khác, họ cũng muốn tận
dụng công nghệ của mình ngay cả khi nó đã không còn tính cạnh tranh và
bị cấm ở nước mình.
FDI còn gây ra tình trạng phân phối thu nhập không đều cho nước
tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, khi các nhà đầu tư thực hiện FDI tại các
nước đang phát triển, họ tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc cho
mình với mức lương cao hơn mức trung bònh tài nước đó vì đối với họ thế

vẫn là rẻ. Vì vây, tại các nước chủ nhà xảy ra tình trạng có chênh lệch về
thu nhập giữa người lao động trong cơ quan nhà nước và doanh nghiệp
nước ngoài, đồng thời còn gây ra tình trạng chảy máu chất xám mà bấy lâu
nay chúng ta vẫn quan tâm.
Thông qua hình thức FDI, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm
lĩnh thị trường, đẩy các doanh nghiệp trong nước vào một môi trường
không cân sức giưa một bên là các công ty xuyên quốc gia luôn có thế
mạnh về tài chính, kỹ thuật, công nghệ với một bên là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có năng lực thấp. Nếu các doanh nghiệp này không chuẩn bị kịp
và vươn lên đứng vững họ sẽ bị đào thải khỏi cuộc đua.
Hoạt động FDI còn nhằm khai thác các nguông tài nguyên mà
nướcđầu tư không có hay khan hiếm, cộng với sự quản lý lỏng lẻo về khai
thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường của nước chủ nhà sẽ
dẫn đến việc khai thác một cách bừa bãi, làm cho nguồn tài nguyên ngày
càng cạn kiệt và gây ra hậu quả ô nhiễm môi trường.
2.1. Những ảnh hưởng về mặt chính trị - xã hội
Hiện nay, một trong những điều làm Chính phủ các nước đang phát
triển lo ngại khi mở cữa đón nhận FDI là việc thông qua hoạt động này, các
- 14 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
nước công nghiệp phát triển có thể can thiệp vào nội bộ chính trị của nước
mình.
Với những tác động tiêu cực đã nêu trên, có thể thấy rằng bằng cách
tăng cường sự phụ thuộc kinh tế, thôn tính các doanh nghiệp các nước
công nghiệp phát triển có thể gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế và lợi dụng
điều đó để can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước sở tại.
IV. MỘT SỐ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA DÒNG FDI HIỆN NAY
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong tăng trưởng và phát triển nền kinh tế thế giới, cả với nhận đầu tư và

nước đầu tư. Cũng như sự phát triển của nền kinh tế thế gới, sự vận động
của dòng vốn FDI chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau như: kinh
tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội và các nhân tố tự nhiên khác. Cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Châu Á cùng với xu hướng quốc tế hoá
đời sống kinh tế thế giới đã khiến hoạt dộng đầu tư trực tiếp nước ngoài có
nhiều biến đổi sâu sắc. Trong những năm gần đây, FDI ngày càng dược mở
rộng và tăng lên cả về quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư, đồng
thời thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Sự vận động của FDI đang thay đổi đáng kể theo những xu hướng sau:
1. Quy mô FDI không ngừng tăng lên cả về số tuyệt đối và tỷ trọng
trong tổng vốn đầu tư của toàn thế giới
Càng về cuối thập kỷ 90, tốc độ lưu chuyển FDI càng tăng nhanh,
lên tới 20% mỗi năm. phải mất 12 năm từ năm 1974 đến 1986 để FDI tăng
gần gấp đôi (năm 1974 là 40 tỷ USD, nhưng đến năm 1986 là 76 tỷ USD.
Nhưng chỉ 6 năm sau, đến năm 1992 FDI đã tăng lên hai lần, đạt mức 168
tỷ USD và chỉ 3 năm tiếp theo tức đến năm 1995 FDI đạt mức 325 tỷ USD.
Năm 1998, theo báo cáo của tổ chức Hội nghị về buôn bán và phát triển
của Liên hiệp quốc (UNCTAD), tổng FDI của thế giới là 636 tỷ USD.
Năm 1999 khối lượng FDI trên toàn thế giới đạt 865 tỷ USD, tăng 36% so
với năm 1998, gấp 10 lần so với 10 năm trước. Năm 2000 đạt khoảng 1000
- 15 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
tỷ USD, tăng 16% so với năm 1999. Theo dự báo trong 5năm đầu của thế
kỷ XXI, dòng FDI tiếp tục gia tăng vượt tốc độ tăng trưởng kinh tế và
thương mại của thế giới.
Cơ sỡ của sự già tăng không ngừng quy mô FDI là quá trình toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới, môi trường chính - xã hôi thuận lợi và tốc độ tăng
trưởng kinh té khá đều đặn của các quốc gia, trong khu vực và trên toàn thế
giới những năm gần đây. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là hệ thống

thông tin liên lạc, giao thông cũng thuận lợi, trợ giúp các hoạt động FDI
diễn ra thuận tiện, nhanh chóng.
2. Cơ cấu đầu tư thay đổi theo hướng tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp chế biến và dịch vụ
Trong giai đoạn hiện nay, FDI có xu hướng tập trung vào hai ngành
chủ yếu là công nghiệp chế biến và dịch vụ, còn các ngành truyền thống
như khai khoáng và nông nghiệp giảm đi. Một cơ cấu kinh tế được coi là
hiện đại khi các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao.
Đây là xu hướng có tính phổ biến trên thế giới và xu hướng này chi phối
toàn bộ đầu tư nước ngoài.
Số vốn FDI vào ngành dịch vụ chiếm hơn 50% tổng vốn FDI trên
toàn thế giới trong những năm 80, trong đó dịch vụ ngân hàng, buôn bán
chiếm phần quan trọng nhất. Lĩnh vực dịch vụ chiếm 1/2 lượng vốn FDI
của các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào các nước đang phát triển, FDI
chủ yếu tập trung vào các tâm tài chính lớn.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên được giải thích bởi:
- Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, đời sống được nâng
cao nên nhu cầu về các loại dịch vụ phục vụ đời sống và sản xuất kinh
doanh tăng lên làm cho ngành dịch vụ phát triển.
- Ngành công nghiệp chế biến có nhiều phân ngành thuộc ngành mũi
nhọn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ như: điện tử, thông tin liên
lạc, vật liệu mới.
- 16 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
- Do đặc tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ thực hiện sự liên kết,
hợp tác trên các mũi nhọn của nền kinh tế.
- Đầu tư vào hai ngành này cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thu
được lợi nhuận cao, ít rủi ro và thời gian thu hồi vốn nhanh.
3. Dòng FDI đang chịu sự chi phối và kiểm soát chủ yếu bởi các công ty

xuyên quộc gia (TNCs) của các nước đang phát triển
TNCs trở thành những chủ thể đầu tư trực tiếp kiểm soát trên 90%
tổng FDI của toàn thế giới hiện nay. chỉ hơn 100 TNCs lớn thất thế giới (tất
cả đều thuộc Mỹ, EU và Nhật Bản) đã chiếm tới 1/3 FDI toàn cầu và tổng
tài sản ở nước ngoài của các công ty này lên tới hơn1498 tỷ USD, sử dụng
tới 75 triệu lao động, trong đó có lao động ở nước ngoài là 12,4 triêu. Xu
hướng bành trướng của TNCs trong đầu tư quốc tế này đòi hỏi các quốc gia
chú trọng việc thu hút FDI từ các TNCs.
Hiện nay, các TNCs vẫn tiếp tục vươn dài ra các khu vực khác nhau
rrên thế giới với quy mô FDI ngày càng lớn, đóng vai trò ngày càng quan
trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài và đẩy mạnh quá trình đầu tư ra nước
ngoài. Bên cạnh việc giữ vững các khu vực đầu tư truyền thống như Châu
Âu, Bắc Mỹ, TNCs đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực Châu Á. Châu Ă
cũng là địa bàn ưu tiên đầu tư hàng đầu của Nhật Bản, thứ hai là Mỹ (sau
Châu Âu) và thứ ba là các nước Châu Âu (sau Bắc Mỹ và Châu Âu).
FDI ngày nay có mối liên hệ chặt chẽ với chiến lược toàn cầu của
công ty xuyên quốc gia. Trong những năm gần đây, các hình thức đầu tư
chủ yếu của TNCs là hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh công ty ở nước
ngoài đây cũng là chiến lược hợp tác phát triển chính của các TNCs.
Những năm cuối thập kỷ 90 đã đánh dấu thời kỳ sát nhập trên diện rộng các
TNCs thành các công ty lớn hơn. qúa trình sát nhập vừa thúc đẩy mức độ
quốc tế hoá hệ thống sản xuất, tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn, phản ứng
lại áp lực cạnh tranh, tăng cường hợp tác, tin tưởng lẫn nhau, đồng thời
cũng tạo ra tính độc quyền cao để cùng nhau thống trị, chi phối nền kinh tế
- 17 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
thế giới và khu vực đối với các tập đoàn khổng lồ này. đặc biệt, hình thức
đầu tư mua lại các chi nhánh ở nước ngoài là cách nhanh nhất đê thiết lập
sự có mặt của các TNCs ở nước chủ nhà, giúp sử dụng hiệu quả mạng lưới

cung ứng và hẹ thống phân phối sẵn có, mở rộng thị phần, tránh được hàng
rào thuế quan, tăng năng lực cạnh tranh và nguồn thu lợi nhuận.
Giá trị giao dịch hợp nhất, mua bán cổ phần thuộc vốn của các công
ty nước ngoài trong năm 1998 đạt 229 tỷ USD, trong đó chủ yếu là các
giao dịch mua bán có giá trị trên 1 triệu USD. Nếu xét các vụ mua bán và
sát nhập cả trong phạm vi một quốc gia, thì giá trị này chỉ riêng ở châu Â
năm 1999 đã lên tới 894 tỷ USD và trong 11 tháng của năm 2000 đạt con
số kỷ lục là 888,3 tỷ USD, cao hơn nhiều so với đầu tư quốc tế.
Những ngành diễn những hoạt động hợp nhất, nua lại nhộn nhịp nhất
là vi8ễn thông, dược phẩm, chế tạo ôtô, cung cấp năng lượng, dịch vụ tài
chính - ngân hàng và chủ yếu diễn ra trong nội bộ EU và Mỹ. Trong những
năm tới hoạt động hợp nhất và mua lại sẽ tiếp tục diễn ta sâu sắc hơn, quy
mô hơn, dẫn tới việc sắp xếp lại trên phạm vi toàn cầu các ngành sản xuất.
Qúa trình sát nhập hoặc mua lại của các hãng cũng sẽ cú trọng hơn đến việc
đầu tư vào nâng cấp và tái cơ cấu công nghệ và quản lý.
- 18 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
4. Tính cạnh tranh giữa các nước đầu tư và tiếp nhận đầu tư ngày càng
cao.
Sự phát triển liên tục của nền kinh tế thế giới làm cho nguồn FDI
ngày càng mở rộng và gia tăng, nhưng đồng thời nhu cầu về FDI để phát
triển ở tất cả các nước, đặc biệt các nước đang phát triển cũng ngày càng
lớn dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước và khu vực nhằm thu
hút nguồn vốn này. các nước nhân FDI, đặc biệt là các nước vừa phụchồi
sau khủng hoảng, các nền kinh tế đang chuyển đổi và các nước đang phát
triển khác có xu hướng tập trun nỗ lực đẩu mạnh việc cải thiẹen môi trường
đầu tư theo hướng thông thoáng, mở cửa như hiện đại hoá cơ sở hạ tầng,
kích thích tiêu dùng nội địa, dỡ bỏ bớt những rào cản trong các lĩnh vực
như bảo hiểm, viến thông và năng lượng đây là những tác nhân thu hút

đầu tư tích cực nhằm hấp dẫn “co kéo “ FDI.
Không chỉ có sự cạnh tranh của các nước tiếp nhận đầu tư, cuộc cạnh
tranh giữa các nước đi đầu tư cũng không kém phần gay go quyết liệt, tạo
nên lợi thế cho các nước tiếp nhận đầu tư. Các nhà cung cấp FDI đang ráo
riết chào mời để có thể nhảy vào những lĩnh vực và hị trường kinh doanh
béo bở, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp chế tạo ôtô, công nghiệp điện tử,
dịch tụ bảo hiểm, dịch vụ thông tin
Chiến lược đầu tư của mỗi nước trong từng thời kỳ là khác nhau, sự
ổn định về chính trị - xã hội, kết quả của các cuộc cải cách kinh tế, hiệu quả
quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư ở nước có sự khác nhau là nguyên
nhan trực tiếp của sự cạnh tranh trong “cho và nhân” FDI, dẫn đến những
thay đổi liên tục trong phân bổ FDI giữa các quốc gia và kh vực trên toàn
thế giới.
5. Ngày càng gia tăng tính không đồng đều trong phân bố và lưu
chuyển FDI
FDI tập trung với mức độ và quy mô khác nhau trong mỗi nền kinh
tế, tốc độ tăng trưởng dòng FDI cũng hoàn toàn khác nhau ở mỗi nước và
- 19 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
không ổn định qua các năm. các nước phát triển tiếp tục là các nhà đầu tư
hàng đầu thế giới, đồng thời là những địa chủ thu hút đại bộ phận đầu tư
quốc tế. Trước những năm 90, FDI có nguồn gốc từ các nước phát triển
chiếm trên 93% và hiện nay chiếm khoảng 88% tổng vốn FDI của thế giới.
Đồng thời, các nước phát triển cũng thu hút phần lớn vốn FDI của thế giới
với nhịp độ tăng FDI bình quân hàng năm vài chục phần trăm trong mấy
năm gần đây, dẫn đến tỷ trọng FDI tập trung vào các cước này cũng không
ngừng tăng lên.
Mỹ và EU là tâm điểm của dòng lưu chuyển FDI của thế giới. Trong
hai năm 1998, 1999 riêng Mỹ nhận gần 1/4 FDI, còn EU tiếp nhận khoảng

gần 1/2 FDI của toàn thế giới. Nền kinh tế Mỹ và các nước EU tăng trưởng
liên tục là tác nhân thu hút mạnh FDI và làm chậm quá trình di chuyển vốn
đầu tư ra nước ngoài.
Các nước phát triển vẫn là lực lượng thứ yếu đối với việc thu hút và
thúc đẩy luồng vốn FDI quốc tế. Mặc dù tăng lên về quy mô, nhưng tỷ
trọng FDI vào các nước đang phát triển liên tục giảm do đầu tư vào các
nước này có chiều hướng chậm lại, từ chỗ chiếm 70% FDI toàn thế giới
những năm 60 đã chuyển dịch ngược lại vào đầu thập kỷ 90. năm 1998 và
1999, FDI đổ vào các nước đang phát triển tương ứng là 170,9 tỷ USD và
178 tỷ USD, chiếm 22,5% tổng FDI của thế giới. Năm 2002 lượng vốn FDI
vào các nước đang phát triển khoảng 240 tỷ USD.
Nhưng ngay trong các quốc gia đang phát triển, FDI cũng phân bố
không đồng đều. Tư cuối thập kỷ 80 trở lại đây, 2/3 FDI được tập trung cho
10 nước có trình độ kinh tế tương đối cao của hai khu vực Châu á và Mỹ
La Tinh gồm : Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái lan,
Hồng Kông, Đài Loan, Brasil, Mehico. 1/3 được san cho hơn 100 nước còn
lại. Trung Quốc được coi là nước có thị trường đầu tư sôi động nhất, tiếp
theo là một số quốc gia Đông á và Mỹ la tinh.
- 20 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
Châu Phi dường như vẫn dậm chân tại chổ về mặt kinh tế nói chung
và thu hút FDI nói riêng. Năm 1997, tổng vốn FDI đầu tư vào Châu Phi đạt
mức cao nhất là 9,4 tỷ USD, nhưng lại giảm xuống cong 8,3 tỷ USD vào
năm 1998, chưa đầy 2% FDI của toàn thế giới.
6. Qúa trình luân chuyển và các đối tác tham gia qúa trình luân
chuyển FDI vừa có tính quốc tế hoá cao, vừa có tính cục bộ
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không tỏ ra thờ ơ với nguồn
vốn FDI và đều nhận thức được tầm quan trọng của FDI đối với tăng
trưởng kinh tế và phân công lao động quốc tế trong qúa trình toàn cầu hoá.

Cùng với tốc độ lưu chuyển vốn quốc tế nhanh, thị trường tài chính của các
quốc gia đang mở cửa rộng hơn, tạo nên xu thế ngày một hội nhập thị
trường tài chính toàn thế giới.
Hiện tượng đa biên trong xu hướng vận động của FDI ngày càng
đậm nét, các công trình đầu tư ngày nay không chỉ có sự tham gia của đơn
nhất một chủ đầu tư mà mang tính chất của một qúa trình đầu tư tập thể, có
thể dưới dạng đóng góp cổ phần hoặc phân nhỏ công trình thành các hạng
mục đầu tư cho nhiều chủ thể tham gia.
Tuy nhiên, FDI cũng mang tính chất cục bộ. Các nước EU là những
nhà đầu tư hàng đầu thế giới, nhưng chiếm tỷ phần khá lớn trong khoói
lượng đầu tư này được thực hiện ngay trong nội bộ các nước EU. Dòng đầu
tư lẫn nhau giữa các nước phát triển là xu hướng vận động chủ đạo của các
chủ đầu tư quốc tế lớn và là nhân tố thúc đẩy qúa trình toàn cầu hoá.
Hiện nay, trên thế giới đã hình thành các nhà đầu tư truyền thống đối
với nước tiếp nhận đầu tư này, cũng như thị trường truyền thống đối với
nước đầu tư kia. Khu vực Nam Mỹ có thể nói là “lãnh địa” của các nhà đầu
tư Hoa Kỳ, còn Nhật Bản đang nắm giữ thị phần đầu tư lớn ở Đông á, yếu
tố này xuất hiện một phần do sự gần nhau của điều kiện tự nhiên và sự
tương đồng trong các giá trị văn hoá.
- 21 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
7. Tất cả các nước đều tham gia vào cả hai qúa trình đầu tư và tiếp
nhận đầu tư.
Mỹ là nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhất (133 tỷ USD năm 1998 và
khoảng 140 tỷ USD năm 1999), đồng thời cũng là nước tiếp nhận đầu tư
lớn nhất thế giới, 123,8 tỷ USD năm 1998, 145 tỷ USD năm 1999 và gần
200 tỷ USD năm 2000. Năm 1998, EU đầu tư ra nước ngoài 386 tỷ USD,
nhưng cũng tiếp nhận 2390 tỷ USD vốn FDI, là khu vực đầu tư và tiếp
nhận đầu tư trực tiếp lớn nhất thế giới. Bẩy nước công nghiệp phát triển

(G7) chiếm 4/5 tổng FDI toàn thế giới nhưng cũng thu hút trên 2/3 vốn đầu
tư.
Quá trình phân công lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế thế
giới ngày càng sâu sắc giúp các quốc gia phát huy lợi thế so sánh của mình
khi tham gia đầu ra nước ngoài, đồng thời cũng được bổ sung các mặt hạn
chế (nhất là về công nghệ và năng lực quản lý đối với các nước đang phát
triển), làm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế trong nước thông qua việc tiếp
nhận FDI. Đây là cơ sở của sự gia tăng xu hướng đầu tư song phương thay
cho khuynh hướng đơn phương, một chiều trước đây.
Một số nước đang phát triển hiện hiện nay ngoài việc tiếp nhận FDI
từ các nước phát triển cũng dang vươn lên trở thành các chủ đầu tư quốc tế
có uy tín như Hàn Quốc , Singapore, Đài Loan, Hồng Kông Tuy nhiên,
đầu tư FDI từ các nước này chủ yếu vào các nước cùng khu vực địa lý và
mang tính chất chuyển giao các ngành, cơ sở kinh tế có năng suất lao động
thấp sang các nền kinh tế kém phát triển hơn.
Mặc dù vậy, tại những khu vực và nền kinh tế yếu kém như Châu
Phi, nguồn vốn FDI vẫn chủ yếu vận động theo một chiều từ các nước phát
triển về châu lục này.
V. KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG FDI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
- 22 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
FDI đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, là một
trong những nhân tố quy định sự thành bại của qúa trình CNH - HĐH quốc
gia. DO vậy quốc gia đi sau nếu có chính sách thu hút và sử dụng hợp lý thì
có thể tận dụng được thành qủa của các nước đi trước, rút ngắn thời gian
thực hiện CNH - HĐH. Dưới dây là một số kinh nghiệm huy động và sử
dụng FDI của một số nước trong khu vực:
- 23 -

Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
1. Indonesia
Indonesia có những thế mạnh về tiềm năng: tài nguyên đa dạng và
phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ rộng lớn, nhân lực dồi
dào nhưng thiếu vốn và kỹ thuật. Do đó công tác thu hút FDI được đặt ra
rất cấp bách.
Từ năm 1967 - 1996, Indonesia dã thu hút được 173,6 tỷ USD vốn
FDI. Sở dĩ Indonesia dạt được kết quả đó là do đã thực hiện các biện pháp
sau:
+ Không quốc hữu hoá doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
+Cải tiến thủ tục tiếp nhận đầu tư, bỏ thủ tục về nghiên cứu, khảo
sát, bỏ qua việc giải trình về chủng loại và giá trị máy móc nhập khẩu và
nhiều loại giấy phép khác.
+ Áp dụng chính sách thuế khuyến khích đầu tư nước ngoài quy định
mức thuế tối đa là 35% để tăng lợi nhuận và trừ thuế vào ngày nghỉ cho các
nhà đầu tư nước ngoài. Miễn thuế doanh thu đối với hàng hoá, vật tư và
dịch vụ xuất khẩu, miễn thuế VAT trong vòng 5 năm kể từ khi sản xuất
kinh doanh đối với các lĩnh vực khách sạn, văn phòng, trung tâm thương
mại, giao thông công cộng, giảm thuế thu nhập nếu dùng lợi nhuận để tái
đầu tư trong vòng 5 năm, giảm thuế doanh thu tối đa 5 năm sau đó, rút
ngắn thời gian khấu hao tài sản cố định.
+Khuyến khích thành lập các ngân hàng nước ngoài, tạo điều kiện
thuận lợi triển khai các dự án FDI.
+ Điểm đáng chú ý là ở Indonesia, FDI được thực hiện dưới hình
thức liên doanh là duy nhất và các xí nghiệp liên doanh được đối xử như
các doanh nghiệp trong nước. Tỷ lệ vốn pháp định của các nhà đầu tư nước
ngoài trong doanh nghiệp liên doanh là 95,5%, và vốn của Indonesia tăng
dần lên 20%, sau 15 năm hoạt động Indonesia phải sở hữu ít nhất 51% vốn
pháp định. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tái đầu tư, chuyển lợi nhuận

dễ dàng và hoạt động của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài là 30 năm.
- 24 -
Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam thời kỳ 1988
đến nay
2. Singapore
Singapore là một trong những nước có tốc độ thu hút FDI cao nhất
trong các nước ASEAN. Từ năm 1981- 1995, Singapore đã thu hút được
40,618 triệu USD, bình quân hàng năm đạt được 2707,8 triệu USD. Để đạt
được mức độ cao như vậy, Singapore đã thực hiện chính sách:
+ Đảm bảo sự ổn định về chính trị và hoàn thiện về dịch vụ.
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho kinh doanh: Singapore có
hệ thống cơ sở hạ tầng liên hoàn và phát triển nhất Châu á, có bến cảng
hiện đại đứng thứ ba trên thế giới sau Nhật Bản và Hà Lan, đào tạo công
nhân, liên kết xã hội với gia đình và giáo dục phổ thông.
+ Phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện: đào tạo công nhân
kỹ thuật, lập quỹ phát triển tài năng, các doanh nghiệp đều có nghĩa vụ đào
tạo và tái đào tạo công nhân.
+ Áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư: nhà đầu tư tự do di
chuyển vốn, lợi nhuận ra nước ngoài, tự quyết định hình thức, phương pháp
và lĩnh vực hoạt động. Miễn thuế lợi nhuận cổ phần đối với ngành công
nghiệp mũi nhọn và giảm thuế trong 5 năm, xí nghiệp xuất khẩu được giảm
thuế 8 năm (có nơi tới 15 năm) xí nghiệp thua lỗ không phải chịu thuế về
chi phí sản xuất 3 năm và chuyển số lỗ vào thời gian sau khi xí nghiệp làm
ăn có lãi, ưu đãi thuế về nhập khẩu thiết bị.
+ Phát triển thị trường chứng khoán.
3. Malaysia
Thời kỳ 1981-1995, Malaysia đã thu hút được 35,263 triệu USD,
bình quân 2350,86 triệu USD, điều này là do:
+ Malaysia đảm bảo không quốc hữu hoá doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, ổn định chính trị, cơ sở hạ tầng hoàn thiện.

+ Giảm bớt thủ tục hành chính tiến tới chế độ một cửa. Các nhà đầu
tư chỉ phải đi qua một cửa là cơ quan phát triển đầu tư Malaysia (MIDA),
giấy phép đầu tư được nhận trong vòng từ 4-6 tuần, có những hướng dẫn cụ
- 25 -

×