Tổng quan về hiện trạng đất đô
th
ị
Tổng hội Xây dựng Việt Nam 2010
2.1/Về số lượng
Số lượng đất đô thị xác định trong phần nầy là đất thuộc phạm vi
nội thành, nội thị, thị trấn, được xác định theo kết quả kiểm kê của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Kết quả kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2005 do Bộ Tài nguyên và
Môi trường thực hiện, diện tích đất đô thị toàn quốc ở thời điểm nầy là
1.153.548,94 ha chiếm 3,48% so với diện tích đất đai tự nhiên toàn quốc
(33.121.129 ha). So với số lượng đất đô thị đã kiểm kê năm 2000 (990.276
ha) do Tổng cục Địa chính thực hiện, thì đất đô thị sau 5 năm đã tăng lên
163.272 ha; trung bình mỗi năm tăng 32.654,4 ha.
Trong sự gia tăng này vừa có sự hình thành đô thị mới, vừa có sự mở
rộng phạm vi nội thành, nội thị.
Theo báo cáo QHSDĐ đến năm 2010 của Chính phủ trình Quốc hội Khoá
9, kỳ họp thứ 10 năm 1996, thì vào thời điểm 1996 đất đô thị cả nước mới
có
63.302 ha bằng 0,2% so với đất tự nhiên toàn quốc (33.104.200 ha). Dân số
toàn quốc 71. 516.400 người (dân số đô thị 13.945.500 người, dân số
nông thôn 57.569.900 người).
Dự báo đất đô thị năm 2000 là 107,4 ngàn ha, năm 2010 sẽ là
200,7 ngàn ha.
Thực tế cho thấy sự phát triển đô thị rất nhanh vượt xa khoảng cách dự
báo nhiều lần. Cụ thể:
- Dự báo đất đô thị đến năm 2000 sẽ là 107.400 ha, thực tế đã
là 990.276 ha tăng 9,2. Và dự báo đất đô thị đến năm 2010 sẽ là 200.700
ha, thực tế đã là 1.153.548 ha ở thời điểm 2005, tăng 5,7 lần.
- Gia tăng đất đô thị không đồng đều giữa các vùng miền như sau:
Đất đô thị phân theo vùng kinh tế Đơn vị
tính: ha
Năm
Tổng
số
Miề
n
núi
Trung
du
Bắc bộ Đồng
bằng
Bắc bộ Khu
IV
(Bắ
c
trung
bộ)
Duyên
hả
i
miề
n
Trung
Tây
nguyên
Miề
n
Đông
Nam
bộ
Đồng
bằng
sông
Cửu
Long
1994 (1) 63.302
2000 (2) 990.276
2005 (3) 1.153.548
Nguồn: (1). Báo cáo Chính phủ trình Quốc hội Khoá 9, kỳ họp thứ 10 về quy
hoạch sử dụng đất năm 2000 – 2010.
(2). Kiểm kê đất đai năm 2000.
(3). Kiểm kê đất đai năm 2005.
Mối quan hệ giữa đất đô thị gia tăng do tác động của việc thành lập
mới đô thị, hoặc mở rộng đô thị và tăng dân số đô thị được thể hiện trong
Bảng 1.
2.2 / Mức độ và tốc độ phát triển đất đô thị
Trong niên giám thống kê sau năm 2005 không có thống kê đất đô thị.
Tại cuộc tọa đàm ngày 8-11-2008 giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và
Hiệp hội các Đô thị Việt nam về quản lý sử dụng đất đai tại Hà nội, Bộ Tài
nguyên đưa ra con số đất đai đô thị toàn quốc vào thời điểm nầy là
1.429.000 ha (theo http://cafef.v n
). Nếu ghi nhận con số nầy và diện tích đất
tự nhiên không thay đổi, thì diện tích đất đô thị chiếm 4,3% so với đất đai
toàn quốc. Như vậy, ta có thể thấy diện tích đất đô thị tăng theo thời gian
vừa qua (theo bảng 1) năm 2000 mới chiếm 3%, đến năm 2005 chiếm 3,48%
và năm 2008 chiếm 4,3% so với diện tích đất đai toàn quốc. Chỉ số nầy có
thể xem là tốc độ phát triển đô thị về yếu tố đất.
Theo cách tính thông thường về mức độ phát triển (Tỷ lệ % xác định từ
số lượng gia tăng thời điểm sau so với số lượng thời gian trước) thì mức độ
đô thị phát triển xét về yếu tố đất đai giữa năm 2005 và năm 2000 sẽ là
16,48%, còn mức độ phát triển đô thị năm 2008 so với năm 2005 sẽ là
23,56%.
Còn so với cách xác định mức độ phát triển đô thị tính theo chỉ số dân
số ở cùng thời điểm (bảng 1), thì mức độ phát triển đô thị năm 2005 là
26,88%, năm 2007 là 27,4%.
2.3 / Cách xác định đất đô thị.
Vấn đề xác định đất đô thị ở nước ta đang có sự khác nhau. Tùy theo
yêu cầu, nhiệm vụ liên quan đến đất đai mà có cách xác định phù hợp. Cụ
thể như sau:
2.3.1 /. Trong kiểm kê đất đai đô thị được xác định từ diện tích đất theo
địa giới hành chính của phường, thị trấn (là tổ chức hành
chính
cơ
sở phân
biệt giữa nội và ngoại thành, thị xã, thị trấn). Điều nầy
có
thể
hiểu đất đô thị
là đất đã được xây dựng, mang tính chất trung tâm đô thị, có mật độ dân số
cao, diện tích đất trên đầu người thấp theo địa giới hành chính phân chia
nội thành, nội thị. Mặc dù trong nội thành, nội thị (được gọi là phường) có
thể chưa sử dụng hết đất
vào
xây
dựng, mà còn sử dụng vào mục đích khác
như: đất nông nghiệp (58%) và đất chưa sử dụng (9,8%) điều này thấy rõ
trong phần cơ cấu đất đai trong đô thị. (bảng 2).
Cách xác định nầy là thống nhất với quy định phạm vi xem xét các yếu
tố cơ bản trong phân loại đô thị là chỉ xác định cho khu vực nội thành, nội
thị xã và thị trấn. (khoản 3 Điều 3 nghị định 72/2001/ NĐ-CP)
2.3.2 /- Trong văn bản pháp luật
2.3.2. a). Theo nghị định số 72/2001/ NĐ-CP ngày 5-10-2001của
Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị có quy định về đô thị và
các yếu tố cơ bản phân loại đô thị:
“Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan có thẩm
quyền quyết định thành lập” (khoản 1 điều 3 nghị định 72). Một thành phố,
thị xã, thị trấn được thành lập luôn được quy định giới hạn phạm vi theo địa
giới hành chính, bao gồm cả nội và ngoại thành phố, thị xã. Ví dụ: 1) Đất
toàn thành phố HCM theo địa giới hành chính là 209.868 ha, nhưng đất nội
thành chỉ có 53.936 ha, chiếm 25,7%, còn lại là đất ngoại thành. 2) Đất
thành phố Hà nội cũ theo địa giới hành chính là 92.180 ha. Nhưng đất nội
thành chỉ có 18.888 ha, bằng 20,4% đất toàn thành phố, còn lại là đất ngoại
thành. Các đô thị khác cũng có tình trạng tương tự.
Với quy định điều nầy, có thể hiểu đất đô thị được xác định theo địa
giới hành chính của thành phố, thị xã, thị trấn. Vì thành phố, thị xã, thị trấn
được xác định là đô thị.
Còn trong quy định tiêu chuẩn phân loại đô thị (khoản 3, Điều 3 nghị
định 72) lại quy định chỉ áp dụng “ tính cho khu vực nội thành, nội thị xã và
thị trấn.” Trường hợp nầy đất đô thị đước xác định theo địa giới hành chính
phường của thành phố, phường của thị xã, và thị trấn.
Cũng trong văn bản pháp luật nầy quy định về vùng ngoại thành có
chức năng: “Bố trí các công trình kỷ thuật hạ tầng đầu mối, các khu dân cư,
các công trình vệ sinh, bảo vệ môi trường, các cơ sở sản xuất, dịch vụ y tế,
đào tạo, nghiên cứu khoa học, và các công trình đặc biệt khác mà trong nội
thành, nội thị không bố trí được – Bố trí các cơ sở nghỉ ngơi, các khu tham
quan, du lịch, vành đai xanh, công viên rừng bảo vệ môi trường và cân bằng
sinh thái – Đất dự trữ để mở rộng và phát triển đô thị” (điều 7 nghị định 72).
Với những quy định như thế thì mục đích sử dụng đất ngoại thành
mang tính chuyên dùng của đô thị trở nên quan trọng trong đời sống thực tế
và quản lý đầu tư xây dựng đô thị. Nhưng không được xác định là đất đô thị.
2.3.2. b) Trong luật Đất đai (khoản 1 điều 86 Luật đất đai năm 2003)
thì quy định: “đất sử dụng để chỉnh trang, phát triển đô thị bao gồm đất
chỉnh trang khu vực nội thành, nội thị hiện có; đất được quy hoạch để mở
rộng đô thị hoặc phát triển đô thị mới”. Trường hợp nầy có thể hiểu đất đô
thị được xác định theo địa giới quy hoạch phát triển đô thị. Khi quy hoạch
phát triển đô thị được duyệt, có nghĩa là đã xác định địa giới hành chính của
đô thị đó. Trường hợp nầy đất đô thị là đất thành phố, thị xã, thị trấn.
Điều này còn liên quan đến vấn đề định nghĩa đô thị
2.4 /. Về định nghĩa đô thị. Theo Bách khoa toàn thư mở Wkipedia,
việc
định nghĩa đô thị đang khác nhau tại các quốc gia trên thế giới.
- Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là
một
đô
thị
phải có dân số 400 người/km2 (nước Anh, Nhật, Canađa). Còn Trung
quốc quy định 1500 người/km2, Mỹ 386 người/ km2.
- Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc
sử
dụng
đất
thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200
m2. Dùng khung ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố
để quyết định ranh giới của đô thị.
- Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số
nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở
lên không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá.
- Còn tại Viêt nam hiện nay, đô thị được xác định (theo nghị định
72/2001NĐ-CP) là khu dân cư tập trung có các đặc điểm sau: 1) về cấp quản
lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định thành lập. 2) về trình độ phát triển phải đạt được các tiêu chí sau:
+ Là trung tâm tổng hợp, hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ.
+ Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động
phi nông nghiệp phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các
hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết
kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất
là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2.
Vào thời điểm năm 2005, (dân số đô thị toàn quốc là 22.336.800 người,
đất đô thị là 1.153.548 ha (bằng 11535,48 km2) mật độ dân số đô thị trung
bình của Việt nam đã là 1936 người/km2, gần chạm mốc quy định tối thiểu
2000 người/km2. Nếu đất đô thị năm 2007 là 1.429.000 ha (hay là 14.290
km2), và dân số đô thị là 23.370.000 người (theo niên giám thống kê 2007),
thì mật độ dân số đô thị sẽ là 1635 người/km2 (bằng 81,75% mật độ dân số
đô thị tối thiểu là 2000 người theo quy định của nghị định 72) . Điều nầy cho
thấy đã mở rộng đất đô thị bình quân nhiều hơn so với dân số theo quy định.
Như vậy, việc xác định đất đô thị như thế nào là hợp lý, để đảm bảo
tính thống nhất trong chính sách và điều hành quản lý cần được xem xét.
3/. Cơ cấu đất đô thị.
Việc phân loại đất trong kiểm kê đất đai năm 2005 theo Luật Đất đai
2003 có giá trị hiện hành được phân theo nhóm đất:
*) Nhóm đất nông nghiệp (đất SX nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất
nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác).
*) Nhóm đất phi nông nghiệp (đất ở nông thôn và đất ở đô thị, đất
chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông
suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác).
*) Nhóm đất chưa sử dụng (đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử
dụng, núi đá không có rừng cây).
Còn phân loại đất trong kiểm kê đất đai năm 2000 theo luật đất đai
năm 1993 phân theo loại đất : 1) đất nông nghiệp- 2) đất lâm nghiệp- 3) đất
khu dân cư nông thôn- 4) đất đô thị- 5) đất chuyên dùng – 6) đất chưa sử
dụng.
Để so sánh sự phát triển giữa 2 thời điểm năm 2000 và 2005 trong
nghiên cứu, lấy kết quả kiểm kê theo nhóm đất năm 2005 làm điểm tựa
chính, và chuyển đổi kết quả kiểm kê theo loại đất của năm 2000 tương ứng
phù hợp cách phân chia theo nhóm đất tương ứng năm 2005.
3.1 /. Cơ cấu đất đô thị toàn quốc
Trong tổng số đất đai đô thị được xác định theo kiểm kê đất đai năm
2005 là 1.153.548 ha thì có cơ cấu (theo bảng 2) như sau:
58,6% Đất nông nghiệp, (676.005 ha).
31,6% đất phi nông nghiệp (364.562ha). Trong đó có 8,9% đất ở
(102.878 ha), 15,3% đất chuyên dùng (177.129 ha), còn lại là đất phi nông
nghiệp khác như đất nghĩa trang, tôn giáo, …
9,8 % đất chưa sử dụng (112.129 ha).
Theo cơ cấu nầy thì trong nội thành, nội thị còn nhiều đất sản xuất
nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Điều nầy nói lên đô thị phát triển trên cơ
sở đất nông nghiệp, còn nhiều đất được xác định là đô thị nhưng chưa
xây dựng. (Đất đô thị treo). Điều này thấy rõ hơn phần cơ cấu đất nông
nghiệp trong đô thị.
3.2 /. Cơ cấu đất nông nghiệp trong đô thị
Cơ cấu đất nông nghiệp trong đô thị được trình bày trong bảng 3.
Trong đất nông nghiệp có nhiều mục đích sử dụng khác nhau (đất sản
xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất
nông nghiệp khác).
Trong đất sản xuất nông nghiệp có đất trồng lúa. Đất trồng lúa có liên
quan đến vấn đề quan trọng về an ninh lương thực. Đất trồng lúa đã được
chuyển mục đích sử dụng xây dựng đô thị trong năm 2000 là 172.388 ha,
chiếm 4,03% đất trồng lúa toàn quốc (4.267.849 ha). Nhưng đến năm 2005,
đất trồng lúa trong đô thị đã tăng lên 177.122 ha, chiếm 4,25% đất trồng lúa
toàn quốc. Trung bình mỗi năm đô thị lấn chiếm đất trồng lúa 946,8 ha.
Cùng nhiều mục đích sử dụng khác, đất trồng lúa toàn quốc đã giảm từ
4.267.849 ha năm 2000, giảm còn 4.165.276 ha năm 2005 (theo kiểm kê đất
đai). Còn theo thồng kê năm 2007, đất trồng lúa toàn quốc chỉ còn 4.130.900
ha.
Theo
vneconomy,vn-3/22/2009:
“trong giai, đoạn từ năm 2000 đến năm
2007, diện tích đất trồng lúa đã giảm 361.935 ha (bình quân mỗi năm giảm
51.705 ha). Trong đó vùng đồng bằng sông Hồng giảm 52.047 ha, đồng
bằng sông Cửu long giảm 205.413 ha. Như vậy, tính riêng hai vựa lúa lớn
nhất nước, diện tích đất trồng lúa đã giảm 257.413 ha, chiếm 71,1% diện
tích đất lúa bị giảm.
Từ năm 2000-2005, diện tích đất trồng lúa chuyển sang làm đất ở đô thị
và nông thôn là 33.000 ha.
Với diện tích đất trồng lúa bị mất đi mỗi năm 51.705 ha đã làm thâm
hụt sản lượng thóc trên 500.000 tấn/năm, và làm ảnh hưởng đến đời sống
của ít nhất 100.000 hộ nông dân/mỗi năm.”
Theo Tiasang.com/4/30/2008: “Mỗi năm có khoảng 73.000 ha đất nông
nghiệp “bờ xôi, ruộng mật” bị thu hồi đã tác động đến đời sống của 627.495
hộ gia đình, khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người dân nông thôn”.
Thu hẹp đất trồng lúa nếu cứ tiếp tục diễn ra sẽ là sự cảnh báo về vấn
đề an toàn lương thực. Đây là vấn đề cần xem xét trong việc phát triển đô thị
vừa qua và thời gian sắp tới.
3.3 /. Cơ cấu đất phi nông nghiệp trong đô thị.
Các mục đích sử dụng như: đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo tín
ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối mặt nước chuyên dùng, đất
phi nông nghiệp khác theo quy định chính phủ, được xác định là đất phi
nông nghiệp.
Hiện trạng sử dụng nhóm đất phi nông nghiệp trong đô thị được thể
hiện trong bảng 4. Các loại đất theo mục đích sử dụng như đất ở, đất chuyên
dùng đều gia tăng. Trong đó: Đất ở trong đô thị năm 2005 so với đất ở năm
2000 tăng gần 43%. Tương tự, đất quốc phòng an ninh tăng 23,8%; đất có
mục đích công cộng tăng 23,5%.
Đất ở trong đô thị toàn quốc vào thời điểm năm 2005 là 102.878 ha,
bằng 8,9% đất đô thị toàn quốc. Với dân số tại thời điểm nầy 22.336.800
người thì mật độ sử dụng đất được xác định là 21.728 người/km2, hay là 46
m2/người. Tỷ lệ đất ở trong đô thị, cũng như mật độ sử dụng đất ở khác
nhau giữa các địa phương. Ví dụ:
Thành phố HCM, căn cứ vào số lượng đất đô thị được kiểm kê năm
2005, dân số đô thị theo thống kê của năm tương ứng, để tính ra mật độ sử
dụng đất ở (5.035.300 người/146,63 km2 = 34.488 người/km2, hay 29m2/
người).
Với cách xác định tương tự đối với thành phố Hà nội (cũ); 2056.800
người/45.59 km2 = 45.706 người/km2, hay 22 m2/người.
Vào thời điểm nầy, diện tích nhà ở bình quân thành phố HCM là
12m2/người, và Hà nội là 6m2/người. So với diện tích đất xác định để xây
nhà ở thì mới thực hiện khoảng 50%. Điều nầy cho thấy việc đầu tư xây
dựng nhà ở còn ít và nhà ở thấp tầng, nên hiệu quả sử dụng đất chưa cao.
3.4 /. Cơ cấu đất chuyên dùng trong đô thị.
Trong bảng 5 cho thấy cơ cấu đất chuyên dùng trong đô thị và đất
chuyên dùng trên toàn quốc. Tất că các loại đất chuyên dùng trên toàn quốc
năm 2005 đều tăng so với năm 2000.
3.5 /. Cơ cấu đất có mục đích công cộng trong đô thị.
Đất dùng vào mục đích công cộng được xác định là đất phi nông
nghiệp. Đất có mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thủy lợi, truyền
dẫn năng lượng, đất cơ sở văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, đất chợ,
đất di tích thắng cảnh, đất bãi thải xử lý thải.
Bảng 6 thể hiện cơ cấu đất có mục đích công cộng của 2 thành phố lớn
là Hà nội và thành phố HCM trong năm 2005. Thông qua kết quả kiểm kê
đất đai, giúp chúng ta biết thêm một yếu tố góp phần tạo nên tình trạng tắt
nghẽn giao thông cũng như rác thải trong thành phố còn là thiếu quỹ đất
mà lâu nay chưa đề cập đến.
Theo kiểm kê năm 2005, đất giao thông trong nội thành, nội thị của
thành phố Hà nội chỉ bằng 2,1%, và thành phố HCM là 11,9% so với đất đô
thị. Còn Bộ Xây dựng cho biết, trong các quận nội thành Hà nội diện tích
đường chỉ chiếm 6,18%, còn ở ngoại thành 0,9%. Tương tự, ở thành phố
HCM, các quận vùng Sài gòn – chợ lớn cũ khoảng 8-14%, các quận mới chỉ
có 0,2-2.8%. Thiếu đường, đường hẹp, nên Hà nội chỉ đạt 15% và thành phố
HCM 10% sử dụng phương tiện giao thông công cộng xe bus, còn lại là
phương tiện cá nhân. Trong khi đó, trên thế giới đất cho giao thông đô thị
chiếm 20-25% đất đô thị (Dantri.com.vn ngày 23-4-2008).
Vấn đề xử lý chất thải ở đô thị đang có nhiều bất cập, mà trước hết là
thiếu quỹ đất để xử lý. Số liệu trong bảng 6 về đất xử lý chất thải của 2 thành
phố Hà nội và thành phố HCM cũng rất it ít so với yêu cầu thực tại. Theo
Viện quy hoạch kiến trúc đô thị-
Bộ xây dựng, hiện nay mới có 47% dân số đô thị nược hưởng nước sạch với
tiêu chuẩn trung bình 60 lit/ngày đêm. Phần lớn các đô thị VN chỉ có một hệ
thống thoát nước chung cho tất cả các loại nước thải; mới chỉ có khoảng
20% đô thị gồm và xử lý chất thải rắn; có khoảng 5-6 tỉnh thành có bãi chôn
lấp chất thải hợp vệ sinh theo đúng quy định (Báo XD ngày 9-6-2008)
Quản lý giao thông đô thị có liên quan đến quy hoạch phát triển và các
tiêu chuẩn về xây dựng đô thị cần được rà soát điều chỉnh để phù hợp với
tính chất phát triển đô thị.
3.6 / cơ cấu đất chưa sử dụng trong đô thị
Đất chưa sử dụng năm 2005 so với năm 2000 được thể hiện bảng 7,
nói chung đã giảm hơn 46 %. Trong đó đất bằng chưa sử dụng chỉ giảm gần
4%, nghĩa là đất bằng chưa sử dụng đáng kể.
4/ Đối tượng sử dụng đất đô thị
Việc kiểm kê đất đai năm 2005 (thực hiện theo Luật đất đai năm 2003)
phân theo nhóm đất (nông nghiệp, phi nông nghiệp, chưa sử dụng), nên việc
xác định đối tượng sử dụng đất cũng theo nhóm đất. Còn việc kiểm kê đất
đai năm 2000 (thực hiện theo Luật đất đai năm 1993) phân theo loại đất,
trong đó có đất đô thị.
Kết quả kiểm kê đất đai năm 2000 về đối tượng sử dụng đất trong đô
thị (bảng 8) cho thấy các thành phần đã sử dụng đất trong đô thị. Đối tượng
sử dụng nhiều nhất là hộ gia đình (47,8%), tiếp đến là đất chưa sử dụng
(19,2%)
Bảng 2. Cơ cấu sử dụng đất trong đô
thị
(Toàn quốc
)
TT
Tổng diện
tích đất đô thị
1
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất NN
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng thuỷ sản
Đất làm muối
Đất NN khác
2
Đất phi NN
Đất ở
Đất chuyên dùng
Đất tôn giáo tín ngỡng
Đất nghĩa
trang
Đất sông suối mặt n ớc chuyên
Đất phi NN khác
3 Đất ch a sử dụng
(1) (2) Kiểm kê đất đai năm 2000 và năm 2005
Bảng 3. Hiện trạng đất nông nghiệp trong đô thị
Đơn vị tính:
ha
Khoản mục
Đất nông nghiệp
1
Đất sản xuất NN
Đất trồng cây hàng năm
Đất trồng lúa
Đất cỏ dùng chăn nuôi
Đất trồng cây hàng năm
Đất trồng cây lâu năm
2
Đất lâm nghịêp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
3
Đất nuôi trồng thủy sản
4
Đất làm muối
5
Đất nông nghịêp khác
(1) Theo kiểm kê đất đai năm 2000 do Tổng Cục địa chính thực hiện theo
Luật Đất đai năm 1993.
(2) Kiểm kê đất đai năm 2005 do Bộ Tài nguyên và Môi trờng thực
hiện theo Luật Đất đai năm 2003.
(3) Niên giám thống kê năm 2007, không có thống kê đất đô thị.
Bảng 4. Hiện trạng đất phi nông nghiệp trong đô thị
Đơn vị tính:
ha
TT
Khoản mục
Đất phi nông nghiệp
1 Đất ở
Đất ở tại nông thôn
Đất ở tại đô thị
2 Đất chuyên dùng
Đất trụ sở, cơ quan, công
Đất QF - An ninh
Đất sản xuất KD phi NN
Đất có mục đích CC
3
Đất tôn giáo tín ng ỡng
4
Đất nghĩa trang nghĩa
địa
5
Đất sông suối mặt n ớc chuyên dùng
6
Đất phi nông nghiệp khác
(1) Theo kiểm kê đất đai năm 2000 do Tổng cục địa chính thực hiện
theo Luật Đất đai năm 1993;
(2) Kiểm kê đất đai năm 2005 do Bộ Tài nguyên và Môi trờng
thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003.
(3) Theo niên giám Thống kê 2007;
Bảng 5. Hiện trạng đất chuyên dùng trong đô thị
Đơn vị
tính:
ha
TT
1 Đất trụ sở cơ quan,
công trình sự nghiệp
Đất trụ sở cơ quan
Đất CT sự nghiệp
2 Đất quốc phòng An ninh
Đất quốc phòng
Đất an ninh
3 Đất SXKD phi NN
Đất công trình CN
Đất cơ sở sản xuất KD
Đất hoạt động khoáng sản
Đất sản xuất VLXD
4
Đất có mục đích công cộng
Đất giao thông
Đất thuỷ lợi
Đất truyền dẫn năng l ợng
Đất cơ sở văn hoá
Đất cơ sở y tế
Đất cơ sở giáo dục
Đất thể dục thể thao
Đất chợ
Đất di tích thắng cảnh
Đất bãi thải, xử lý thải
(1). Kiểm kê đất đai năm 2000 Tổng cục địa chính thực hiện theo Luật Đất đai
1993
(2). Kiểm kê đất đai năm 2005 Bộ TN&MT thực hiện theo Luật Đất đai năm
2003
(3). Niên giám thống kênăm 2007.
Bảng 6. cơ cấu đất có mục đích công cộng trong đô thị
của 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thời điểm năm 2005
(*)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
* Kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2005
(1). Đất đô thị so với đất theo địa giới hành chính của TP.
Bảng 7. Hiện trạng đất ch a sử dụng trong đô
thị
Đơn vị tính:
ha
TT
Khoản mục
Đất ch a sử dụng
1
Đất bằng cha SD
2
Đất đồi núi cha SD
3
Núi đá không có rừng
(1). Kiểm kê đất đai năm 2000 do Tổng cục Địa chính thực hiện theo
Luật Đất đai 1993.
(2). Kiểm kê đất đai năm 2005 do Bộ Tài nguyên & Môi trờng thực
hiện theo Luật Đất đai năm 2003.
(3). Niên giám thống kê 2007.
Bảng 8. Đối t ợng sử dụng đất đô
thị
(Toàn quốc
)
TT
Đối t ợn
sử dụng đất
1
Hộ gia đình
2
Các tổ chức kinh tế
3
Nớc ngoài
4
UBND xã quản lý
5
Các tổ chức khác
6
Đất cha giao
(1) Theo kiểm kê đất đai năm 2000.
(2) Năm 2005 không có tách riêng đối tợng sử dụng riêng cho đất đô thị.