Tải bản đầy đủ (.doc) (45 trang)

hoạt động xúc tiến tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ singapore

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (407.4 KB, 45 trang )

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ tự Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 DN Doanh nghiệp
2 ĐTNN Đầu tư nước ngoài
3 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
4 GDP Tổng thu nhập quốc dân
5 WTO Tổ chức thương mại thế giới
6 XTĐT Xúc tiến đầu tư
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa đang trở thành một trong những xu thế chủ yếu của nền
kinh tế thế giới. Hầu hết các quốc gia đều tiến hành điều chỉnh chính sách theo
hướng mở cửa, cắt giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Điều này khiến cho việc trao đổi hàng hóa, cũng như luân chuyển các nhân tố
sản xuất như vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng
hơn. FDI là nguồn vốn có vai trò trực tiếp tác động đến sự phát triển của nền
kinh tế Việt Nam cả về số lượng và chất lượng.
Trong các đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam hiện nay,
Singapore vẫn luôn được đánh giá là một trong những nhà đầu tư quan trọng và
đầy tiềm năng đối với Việt Nam. Việc thu hút được nhiều và có các biện pháp
để sử dụng hiệu quả các dự án đầu tư FDI từ Singapore sẽ đem lại cho Việt Nam
nhiều lợi ích lâu dài.
Tuy nhiên, lượng vốn FDI của Singapore đưa vào Việt Nam trong thời
gian vừa qua vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của đất nước này,
cũng như vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong vấn đề thu hút FDI của Singapore
vào Việt Nam. Với mục đích đưa ra những quan điểm và nhận xét để góp phần
hoàn thiện các giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ Singapore
vào Việt Nam trong thời gian tới, em đã quyết định chọn đề tài “ Giải pháp


tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) từ Singapore vào
Việt Nam ”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
• Phân tích thực trạng về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ
Singapore vào Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2011.
• Chỉ ra những thành tựu và hạn chế của việc thu hút FDI của Singapore
vào Việt Nam trong thời gian qua.
• Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ
Singapore vào Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
 Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thu hút FDI của Singapore đầu tư
vào Việt Nam
 Phạm vi nghiên cứu :
• Phạm vi không gian: là tình hình thu hút đầu tư trực tiếp từ Singapore
1
vào Việt Nam
• Phạm vi thời gian : giai đoạn 2007 – 2011
4.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
• Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử.
• Phương pháp phân tích tổng hợp.
• Phương pháp thống kê toán.
5.Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, danh mục, kết luận, tài liệu tham khảo bài viết được
chia làm ba chương :
Chương 1: Khái quát chung về tình hình thu hút FDI vào Việt Nam
giai đoạn 2007 - 2011
Chương 2:Thực trạng thu hút FDI từ Singapore vào Việt Nam từ
năm 2007 đến 2011
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thu hút FDI từ
Singapore vào Việt Nam đến năm 2015

2
CHƯƠNG 1 : TÌNH HÌNH THU HÚT FDI FDI VÀO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
1.1. QUI MÔ VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM
Có nhiều yếu tố tác động đến việc thu hút vốn FDI của một quốc gia,
trong đó yếu tố chính trị là một yếu tố vô cùng quan trọng. Việt Nam được coi là
quốc gia có nền chính trị ổn định nhất trong khu vực Đông Nam Á hiện nay.
Cũng từ lợi thế này mà nguồn vốn FDI chảy vào nước ta vượt trội so các nước
đang phát triển trong khu vực. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật nhiều năm qua
đã được cải cách rất nhiều để phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu.
Nước ta đã bắt đầu thông qua luật tiếp nhận đầu tư nước ngoài từ năm
1987, và qua nhiều lần sữa đổi và bổ sung sao cho phù hợp mục tiêu phát triển
kinh tế của từng thời kỳ, của từng giai đoạn, và nguồn vốn FDI ngày càng gia
tăng qua từng thời kỳ.
Với sự kiện quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế là năm 2007 Việt
Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Nền kinh tế Việt Nam
bắt đầu bước vào thời kỳ có nhiều cơ hội phát triển vì hội nhập càng sâu rộng
hơn với nền kinh tế thế giới.
Cũng từ đó, nguồn vốn FDI chảy vào nước ta liên tục tăng qua các năm.
Giai đoạn này dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam liên tục đạt mức kỷ lục. Năm
2007, 2009, 2010, 2011 ( lần lượt là 21,3 tỷ USD; 23,1 tỷ USD; 18,6 tỷ USD;
14,7 tỷ USD ) đều sấp trên 20 tỷ USD, và một đột phá lớn nhất là năm 2008
dòng vốn này lại tăng lên một cách bất thường với con số ấn tượng 71,7 tỷ USD
cả vốn mới và vốn tăng thêm. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008 đã làm cho nhiều nước lớn trên thế giới lâm vào tình trạng khó khăn, kinh
tế trì trệ. Do đó, vốn FDI mà các nước này đầu tư vào các nước khác nói chung
và vào Việt Nam nói riêng đã có chiều hướng giảm xuống từ năm 2009 là 23,1
tỷ USD xuống còn 14,7 tỷ USD vào năm 2011 ( theo bảng 1.1 ).
Trong giai đoạn 2007 – 2011, nước ta đã thu hút được tổng số vốn FDI đăng

ký là 149,4 tỷ USD, và số vốn giải ngân là 51,5 tỷ USD. Vốn đăng ký tuy lớn
nhưng mức giải ngân trung bình lại không đến 50% vốn đăng ký ( mức giải ngân
năm 2007, 2008, 2009 lần lượt là 37,6%; 16%; 43,3% ). Nhìn bảng 1.1 dưới đây, ta
thấy mặc dù tỷ lệ giải ngân vốn FDI từ năm 2009 có tăng lên. Tuy nhiên, nguyên
nhân lại là do tổng số vốn đăng ký giảm xuống trong khi mức độ giải ngân gần như
3
không thay đổi. Nhìn vào đây, chúng ta thấy có những điều bất ổn của nguồn vốn
này đã và đang tồn tại song song với những lợi ích thiết thực của nó mà đất nước ta
đang trải thảm đỏ để chào đón dòng vốn này về hàng năm.
Dưới đây là những thống kê về vốn đăng ký, vốn giải ngân FDI các năm, từ
năm 2007 đến năm 2011 và tỷ lệ giải ngân nguồn vốn FDI so với vốn đăng ký.
Bảng 1.1 : Thống kê vốn đăng ký, vốn giải ngân và tỷ lệ giải ngân FDI
giai đoạn 2007 – 2011
Năm Vốn đăng ký
( tỷ USD )
Vốn giải ngân
( tỷ USD )
Tỷ lệ giải ngân so với
vốn đăng ký ( % )
2007 21,3 8,0 37,6
2008 71,7 11,5 16
2009 23,1 10 43,3
2010 18,6 11 59,1
2011 14,7 11 74,8
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Biểu đồ 1.1 : Biểu diễn số vốn FDI đăng ký và số vốn FDI giải ngân
giai đoạn 2007 – 2011
Đơn vị : tỷ USD
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Tuy nhiên, những năm gần đây, số lượng các dự án có qui mô lớn và rất

lớn với qui mô đăng ký hàng tỷ USD, nhất là các dự án bất động sản đã giảm
hẳn. Nếu như năm 2008, có đến 11 dự án có qui mô đăng ký từ 1tỷ trở lên với
tổng vốn đăng ký lên tới 45,7 tỷ USD ( chiếm tới 64 % tổng vốn đăng ký năm
2008 ) thì năm 2011, chỉ có 2 dự án có mức vốn đăng ký trên 1 tỷ USD. Hơn
4
nữa, các dự án có qui mô lớn của năm 2011 đều thuộc lĩnh vực công nghiệp như
dự án BOT điện lực Hải Dương với qui mô vốn đăng ký là 2,26 tỷ USD và dự
án sản xuất pin mặt trời Solar tại thành phố Hồ Chí Minh với qui mô vốn là hơn
1 tỷ USD ( theo ). Nguyên nhân của tình trạng này là
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho các nước này cũng gặp
phải tình trạng kinh tế khó khăn nên lượng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam cũng
giảm, đồng thời cũng là do tình trạng bất cập đã tồn tại trong suốt thời gian vừa
qua trong việc thu hút FDI như là : hệ thống pháp luật chính sách liên quan đến
đầu tư chưa đồng bộ, chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn, cơ sở hạ
tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của các dự án FDI, hạn chế về nguồn lực, công
tác xúc tiến đầu tư chưa thực sư hiệu quả…
1.2. CƠ CẤU FDI THEO ĐỊA PHƯƠNG
Cùng với sự thay đổi trong các lĩnh vực được các nhà ĐTNN ưu tiên đầu
tư qua các năm, thì địa bàn nào có những ưu thế so với các địa phương khác về
tiềm năng để phát triển các ngành được ưu tiên đầu tư thì sẽ được các nhà
ĐTNN chú trọng hơn. Nhưng nhìn chung thì 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh vẫn luôn là nơi mà các nhà ĐTNN quan tâm nhất. Bởi lẽ, đây
là 2 thành phố lớn, là trung tâm kinh tế của cả nước, có thị trường tiêu thụ lớn,
cơ sở hạ tầng tương đối tốt so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Cụ thể
Năm 2007, cả nước có 60 địa phương được FDI chảy về, nhưng có sự
phân cấp rất rỏ rệt, các dự án có quy mô lớn đều tập trung vào những tỉnh, thành
phố lớn có điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, Kiên Giang có lợi thế là có nhiều
biển đảo nên việc phát triển về du lịch biển đảo rất được chú ý bởi các công ty
đầu tư FDI. Còn lại các tỉnh, thành phố khác được các công ty xuyên quốc gia
hướng sự chú ý và tập trung đầu tư chủ yếu là do có nhiều lợi thế về kinh tế, hay

là những thành phố lớn nhất của Việt Nam.
Năm 2008, các nhà ĐTN chủ yếu đầu tư vào công nghiệp nặng và công
nghiệp dầu mỏ nên các tỉnh, thành phố có những nguồn tài nguyên khoáng sản
chính là mục tiêu của các quốc gia đi đầu tư FDI. Trong đó phải kể đến tỉnh
Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và Phú Yên là các địa phương có nhiều dự án
được triển khai và cấp phép nhất. Trong đó, tỉnh Ninh Thuận đứng đầu về số
vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép với tổng số vốn đăng ký 9,89
tỷ USD, Bà Rịa - Vũng Tàu đứng thứ 2 với tổng số vốn đăng ký 9,45 tỷ USD,
5
chiếm 15,5% tổng vốn đăng ký, tiếp theo là Thành phố Hồ Chí Minh,Thanh Hóa
…( theo Niên giám thống kê năm 2008 ).
Năm 2009, nhìn chung dòng vốn FDI về địa phương năm 2009 cũng
không thoát khỏi lối mòn là đầu tư vào các thành phố công nghiệp lớn, chứ chưa
chảy nhiều về những tỉnh, thành phố nhỏ. Trong năm này, Vũng Tàu vươn lên vị
trí đầu bảng trong việc thu hút FDI với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm là
6.73 tỷ USD, tiếp theo là Quảng Nam (4,1 tỷ USD), Bình Dương (2,5 tỷ USD) ,
Đồng Nai ( 2,36 tỷ USD )và Phú Yên (1,7 tỷ USD ) (theo Niên giám thống kê
năm 2009 ).
Năm 2010, danh sách các địa phương dẫn đầu về FDI đã có sự thay đổi
đáng kể. Các nhà ĐTNN sau một khoảng thời gian dài tập trung đầu tư vào các
thành phố lớn thì đã thấy được những tiềm năng chưa được đầu tư ở các tỉnh
thành khác. Nhiều nhà ĐTNN đồng thời khai thác vào nhưng tỉnh, thành phố lớn
trong giai đoạn dài đã làm cho lợi ích thu từ việc đầu tư vào những nơi này
không còn được như trước nữa. Do đó, họ chuyển sang các tỉnh thành khác vốn
không được coi là những địa bàn được chú trọng đầu tư trước đây như Quảng
Nam, Quảng Ninh và Cà Mau để tận dụng lao động rẻ, tài nguyên phong phú ở
những nơi này với mong muốn thu được lợi nhuận nhiều hơn. Trong đó, Quảng
Nam vượt lên trở thành địa phương thu hút được nhiều vốn FDI nhất trong năm
2010 với 4,2 tỉ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, chiếm 22,5% tổng vốn đầu
tư đăng ký trong cả nước ( theo Niên giám thống kê năm 2010 ).

6
Bảng 1.2 : FDI vào một số địa phương giai đoạn 2007 – 2010
Đơn vị : tỷ USD
Địa phương Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Hà Nội 2,512 3,151 0,657 0,338
Đà Nẵng 0,94 0,062 0,167 0,096
Quảng Ngãi 0,006 2,46 0,029 0,369
Đồng Nai 2,414 1,928 2,36 0,541
TP.Hồ Chí Minh 2,279 9,072 1,385 2,032
Cà Mau 0,005 0,0001 0.034 0,773
Bà Rịa – Vũng Tàu 1,127 9,376 6,74 4,576
Quảng Nam 0,288 2,135 4,175 4,17
Các địa phương còn lại 11,776 42,1689 5,935 6,376
Nguồn : Tổng cụ thống kê
1.3. CƠ CẤU FDI THEO LĨNH VỰC
Trong thời gian vừa qua, nhìn chung các nhà ĐTNN có xu hướng đầu tư
nhiều hơn vào các ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, nhà hàng khách sạn
ngày càng tăng lên. Trong ngành công nghiệp xây dựng thì bất động sản với các
dự án khu đô thị mới với số vốn lớn và công nghiệp sản xuất phân phối điện là
lĩnh vực được ưu tiên đầu tư, trong khi đó FDI vào ngành công nghiệp nặng có
xu hướng giảm dần. Cụ thể :
Năm 2007 là năm nước ta bắt đầu thu hút nhiều vốn FDI mạnh nhất từ
trước đến nay, và năm này cũng đánh dấu bởi sự kiện Việt Nam chính thức trở
thành thành viên của WTO nên nền kinh tế của ta cần được đầu tư vào các công
trình kiến trúc , cơ sở hạ tầng…để chuẩn bị cho quá trình hội nhậpsâu hơn, rộng
hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế.
Trong năm này, ngành công nghiệp chiếm ngôi đầu bảng với tỷ lệ 45%,
điều này cho thấy sự thay đổi về cơ cấu ngành đang thiên về tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp, nhiều dự án công nghiệp có qui mô lớn được cấp giấp phép, các dự
án này đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển sản phẩm công

nghiệp thay thế nhập khẩu của nước ta.
Bên cạnh đó, lĩnh vực dịch vụ, nhà hàng, khách sạn và du lịch cũng được
các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đầu tư đạt tỷ trọng 11%, phát triển khu đô
thị mới là ngành thu hút nguồn vốn FDI đứng thứ 2 trong tất cả các ngành với tỷ
7
lệ 26%, còn lại nhiều lĩnh vực khác FDI đều đầu tư rải rác. Trong năm này, tỷ
trọng FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao cũng chiếm một con số đáng kể
tuy nhiên vẫn không được như sự mong muốn của các nhà nghiên cứu kinh tế
( theo Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư ).
Năm 2008, vốn đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp
và xây dựng với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD và chiếm 54,12% trong tổng
số vốn đầu tư đăng ký, và lĩnh vực dịch vụ có tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD
trong tổng số vốn đầu tư đăng ký, số còn lại thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư
nghiệp.
Trong năm này, ngành công nghiệp tuy vẫn chiếm vị trí đầu bảng nhưng
đã có sự thay đổi, cụ thể là : FDI bắt đầu đầu tư vào công nghiệp nặng, vì ngành
công nghiệp nhẹ ở nước ta đã được đầu tư rất nhiều vào những năm trước nên đã
không còn thu hút được sự đầu tư của FDI nhiều nữa, tiếp theo là các dự án căn
hộ cao cấp chiếm tỷ trọng 19,36%. Mặc dù nước ta là nước có thu nhập bình
quân đầu người tương đối thấp nhưng tỷ lệ chênh lệch giàu, nghèo lại rất cao, và
số lượng người có thu nhập cao có khá nhiều và những người này lại muốn có
những dịch vụ cao cấp phục vụ mình. Chính vì vậy, đây có thể được coi là một
thị trường rất “ béo bở ” đối với các nước đầu tư FDI. Năm này, ngành công
nghiệp ánh sáng đứng vào top 3 ngành thu hút FDI cao nhất chiếm 15,68%. Các
ngành còn lại đều được FDI quan đầu tư với mức độ dàn trải, không tập trung
cao (theo ).
Năm 2009, các dự án thuộc lĩnh vực ăn uống, lưu trú chiếm tỷ trọng cao
trong tất cả các ngành với gần 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm, kinh
doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm
Một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như Khu du lịch bãi biển

Rồng - Quảng Nam, dự án của Công ty trách nhiệm hữu hạn Berjaya - Đồng
Nai, dự án của công ty trách nhiệm hữu hạn Investment Group Việt Nam có
tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD. Ngành đứng
thứ 3 chính là công nghiệp chế biến, chế tạo với 2.97 tỷ USD vốn đăng ký. (
theo Bộ kế hoạch và đầu tư ).
Như vậy, năm 2009 có sự khác biệt đáng kể so với năm 2007 và 2008. Do
năm 2009 là năm ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới, nên các công ty không đầu tư vào sản xuất mà chuyển sang đầu tư vào lĩnh
vực dịch vụ và kinh doanh bất động sản vì hai ngành này bị ít chịu ảnh hưởng
8
của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vì dù khi khủng hoảng kinh tế xảy ra thì
những nhu cầu cơ bản như là ăn, ở và đi lại của con người vẫn diễn ra một cách
bình thường mà không hề bị tác động, số lượng nhân viên bị sa thải lớn, nhu cầu
du lịch - nghỉ dưỡng của họ cũng bắt đầu tăng…). Vì vậy mà năm 2007 và 2008
các nhà ĐTNN ưu tiên đầu tư vào công nghiệp và phát triển khu chung cư
nhưng đến năm 2009 lại có sự đổi chiều, ngành dịch vụ ăn uống và lưu trú lại
vượt lên ngôi đầu bảng.
Tuy nhiên, năm 2010, lĩnh vực kinh doanh bất động sản đã vượt lên vị trí
số 1 với số lượng vốn đã hút được 6,8 tỷ USD, trong đó chỉ có 27 dự án mới. Ở
các năm trước, ngành kinh doanh siêu lợi nhuận này thường chỉ đứng ở vị trí thứ
2, thứ 3 trong “bảng xếp hạng” các lĩnh vực. Điều này là do, năm 2009, các
nước đã dần dần phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng. Nền kinh tế trong nước
đi lên, các nước này cũng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ bên ngoài. Ngành bất
động sản vốn là một ngành tiềm năng, mang lại lợi nhuận cao, mà trong những
năm trước đó ngành này cũng đã thu hút được sự đầu tư rất lớn của các nhà
ĐTNN, do đó họ đã có nền tảng về cơ sở hạ tầng, hiểu biết về thị trường Việt
Nam… Đây là thời điểm thuận lợi để các nhà ĐTNN có thể thu được lợi nhuận
cao hơn từ việc đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2011, sau một năm phát triển rực rỡ của ngành kinh doanh bất động
sản, thị trường bất động sản bị bão hòa và cũng là do chính sách thắt chặt tiền tệ

của chính phủ, tăng lãi suất làm việc vay tiền ngân hàng để kinh doanh bất động
sản trở nên khó khăn nên trong năm 2011 này, ngành kinh doanh bất động sản bị
đóng băng tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vươn lên vị trí
đầu tiên với việc thu hút được 6,5 tỷ USD chiếm khoảng 47 % trong tổng vốn
FDI vào Việt Nam, tiếp theo là lĩnh vực sản xuất và phân phối điện với 2,55 tỷ
USD, thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với 1,2 tỷ USD ( theo Bộ kế hoạch và đầu tư ).
Bảng 1.3 : Tổng hợp số vốn FDI vào các lĩnh vực trong
giai đoạn 2007 - 2011
Vốn đăng ký (tỷ USD)
Năm Năm Năm Năm Năm
9
2007 2008 2009 2010 2011
Công nghiệp chế biến, chế tạo 10,88 28,902 2,97 5,08 6,5
Sản xuất và phân phối điện 0,096 0,004 0,167 2,95 2,55
Khách sạn và du lịch 1,968 1,35 8,974 1,7 0,85
Xây dựng 0.993 0,492 0,487 0,494 1,2
Kinh doanh bất động sản 6,114 23,702 7,6 6,8 0,46
Nông - lâm - ngư nghiệp 0,586 0,223 0,085 0,018 0,024
Các ngành khác 0,092 17,027 2,817 1,558 3,116
Nguồn : Niên giám thống kê năm 2007, 2008, 2009, 2010 và Bộ kế hoạch
và đầu tư
1.4. CƠ CẤU FDI THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
Xét trên tổng thể nền kinh tế của cả nước, DN có vốn FDI của nước ngoài
ở Việt Nam gồm 2 loại chính là : DN 100% vốn đầu tư của nước ngoài và DN
liên doanh với nước ngoài. Nhìn chung, số lượng các doanh nghiệp có vốn FDI
ở Việt Nam ngày càng tăng qua các năm cùng chiều gia tăng với tổng số lượng
DN trong cả nước, tăng từ 4961 DN còn hoạt động vào thời điểm 31/12/2007
lên 1547 DN vào hoạt động vào thời điểm 31/12/2011 ( theo bảng 1.4 ). DN
100% vốn nước ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong số các nước nghiệp có vốn FDI
ở Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng các DN có vốn FDI trong tổng số các DN ở

Việt Nam có chiều hướng giảm trong thời gian qua, giảm từ 3,18 % vào năm
2007 đến 2,43% vòa năm 2011. Nguyên nhân của tình trạng này là do ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho số lương vốn FDI đầu tư vào
Việt Nam trong thời gian qua có chiều hướng giảm nên số lượng các DN có vốn
FDI cũng có chiều hướng giảm. Các nhà ĐTNN chủ yếu là tiếp tục đầu tư vào
các DN họ đã đầu tư trước đó, bổ sung vốn cho các DN này hoạt động chứ ít
mạo hiểm khi đầu tư vào việc thành lập các DN hoàn toàn mới trong thời kì hậu
khủng hoảng này.
Bảng 1.4 : Thống kê số doanh nghiệp còn hoạt động tại thời điểm 31/12
các năm trong giai đoạn 2007 – 2011
Loại hình doanh nghiệp
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
DN 100% vốn FDI 4018 4612 5412 5894 6134
DN liên doanh với nước ngoài 943 1014 1134 1452 1547
10
Tổng số DN có vốn FDI 4961 5626 6546 7346 7681
Tổng số DN trong cả nước 155771 205689 248842 287546 315874
Tỷ lệ DN có vốn FDI trên tổng số
DN trong cả nước ( % )
3,18 2,73 2,63 2,56 2,43
Nguồn : Tổng cục thống kê và Bộ kế hoạch và đầu tư

Biểu đồ 1.2 : Biểu diễn thống kê số doanh nghiệp còn hoạt động tại
thời điểm 31/12 các năm trong giai đoạn 2007 – 2011
Nguồn : Tổng cục thống kê và bộ Kế hoạch và đầu tư
1.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI VÀO VIỆT
NAM
1.5.1. Những kết quả FDI mang lại cho nền kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2007 – 2011
Có thể nói, số lượng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây tuy có
giảm về giá trị tuyệt đối những vẫn là một con số đáng mơ ước của nhiều quốc
gia. Với số vốn FDI vào nước ta trong thời gian vừa qua đã mang lại những lợi
ích đáng kể với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể :
11
Nhiều năm qua nước ta đã mở cửa để thu hút nguồn vốn FDI vào trong
nước, và đây là một trong những nguồn chính để phát triển. FDI nhiều năm qua
đã và đang bổ sung một lượng vốn khá lớn vào nền kinh tế vào tất cả các lĩnh
vực như: xây dựng, bất động sản, dịch vụ, y tế…Điều này đã làm thay đổi rất
lớn bộ mặt nền kinh tế của nước ta.
Với việc thu hút FDI từ các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia
chúng ta đã trở thành một phần của nền kinh tế thế giới. Chúng ta đã trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa cho thế giới thông qua mạng lưới bán
hàng của công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia. Qua đó giúp cho hoạt
động xuất khẩu ngày càng gia tăng, cân đối cán cân thương mại, cải thiện cán
cân thanh toán.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vì vậy càng có nhiều
công ty ra đời, càng có nhiều doanh nghiệp hoạt động ,các doanh nghiệp làm ăn
càng hiệu quả thì sẽ càng có nhiều người phải đóng thuế, ngân sách thu được
càng nhiều. Trong thời gian qua, nguồn thuế mà ngân sách thu từ khu vực FDI
đóng góp nhiều vào GDP của đất nước, chiếm gần 22% tổng GDP của toàn
quốc.
Việt Nam có xuất phát điểm thấp so với các nước khác do đó việc thu hút

công nghệ và bí quyết quản lý là vô cùng quan trọng, và là chiến lược lâu dài
cho sự phát triển kinh tế nước ta theo chiều sâu. Đồng thời, bí quyết và công
nghệ muốn có được thì phải qua thời gian tích lũy cũng như phải cần một nguồn
vốn cực lớn. Việt Nam trong nhiều năm qua đã tiếp thu bí quyết quản lý và
chuyển giao công nghệ từ nhiều đất nước trên thế giới, thành tựu đạt được cũng
là những con số đáng được khuyến khích và đáng ghi nhận.
Với chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu, FDI đã cung cấp sản phẩm
tiêu dùng trong nước, tránh tình trạng nhập khẩu trực tiếp giúp cải thiện cán cân
xuất nhập khẩu. Hơn nữa, các sản phẩm mà FDI mang lại có mẫu mã đa dạng và
chất lượng cao, phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần thì xuất khẩu, bổ
sung vào quỹ hàng hoá xã hội của nước ta với số lượng lớn trong hơn 25 năm
qua. Với sự đóng góp khoảng 18-20% GDP trong những năm gần đây, FDI đã
thực sự góp phần trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo chiều
hướng tích cực, đáng khích lệ.
Nhiều năm qua, các công ty có vốn FDI đã thu hút được một lực lượng
lao động rất lớn, giúp giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho nhiều người lao
động không có trình độ. Đồng thời, người lao động Việt Nam được làm việc
12
trong môi trường công nghệ cao, có kỷ luật và có nề nếp đã giúp họ nâng cao tay
nghề, kĩ luật lao động. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương cũng được
cải thiện, điều này sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương
và của cả nước. .
1.5.2. Hạn chế trong hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn
2007 – 2011
Ngoài những đóng góp tích cực của nguồn vốn FDIthì vãn còn có những
hạn chế cần được xem xét, đánh giá kịp thời :
Ta thấy tỷ lệ vốn giải ngân so với vốn đăng ký trong những năm qua là
thấp chưa đến 50% tổng vốn đăng ký. Tỷ lệ giải ngân các năm 2007, 2008, 2009
đều ở mức dưới 50%, tỷ lệ giải ngân các năm này lần lượt là 37,6 %,16 %,
43,3%.

Đầu tư FDI vào các lĩnh vực không đồng đều, các ngành như công ngiệp
chế tạo; phát triển những khu chung cư, bất động sản liên tục đứng vị trí đầu tiên
được các nhà ĐTNN ưu tiên, bên cạnh đó còn nhiều lĩnh vực có tỷ lệ đầu tư nhỏ,
dải rác, có khi chỉ là những dự án đăng ký nhưng không giải ngân. Hầu hết các
lĩnh vực đều được đầu tư nhưng dàn trải. Sự đầu tư FDI cũng chưa đồng đều,
giữa các địa phương. Các dự án đầu tư qui mô lớn vẫn tập trung chủ yêú vào các
thành phố lớn, những trung tâm kinh tế của cả nước như Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu Điều này dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế
không đồng đều giữa các địa phương.
Sản phẩm xuất khẩu FDI chiếm hơn 22% giá trị xuất khẩu toàn quốc, vì
vậy sản phẩm xuất khẩu của nước ta sẽ phụ thuộc rất nhiều vào bên ngoài, vào
nguồn vốn FDI làm cho nền kinh tế của ta vẫn chưa thực sự chủ động. Nếu
không có FDI thì hoạt động xuất khẩu của nước ta sẽ thực sự bấp bênh.
Mặt bằng công nghệ của các nhà ĐTNN mang vào nước ta là cao so với
công nghệ trong nước, tuy nhiên như thế vẫn là chưa đủ để vực nền công nghiệp
làm dựa cột cho mộng ước “đi tắt, đón đầu”. Một số nhà đầu tư đã đưa vào máy
móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, coi nước ta là “ bãi rác ” chứa công nghệ lạc
hậu ở chính quốc.
Nếu như trước đây, Việt Nam tự hào là đất nước “ rừng vàng, biển bạc
” thì giờ đây nước ta đã và đang bị khai thác tài nguyên thiên một cách bừa bãi
do các doanh nghiệp có FDI thực hiện hiện như: diện tích đất, tài nguyên rừng,
khoáng sản cho kế hoạch phát triển ngày càng bị thu hẹp, khai thác bừa bãi dẫn
13
đến tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, ngoài ra còn ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân.
Toàn bộ quá trình từ đưa máy móc vào – cung ứng nguyên liệu, tổ chức
sản xuất, gia công đến thu xếp đầu ra đều được khép kín, phía doanh nghiệp
Việt Nam không hề được phép biết. Chính vì vậy, dẫn đến việc các nhà ĐTNN
dùng các thủ thuật để thổi phồng giá của vật tư, nguyên nhiên vật liệu nhằm làm
tăng tỷ lệ đóng góp trong liên doanh, tạo giá ảo, trốn thuế…

Số lượng lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có FDI
tương đối lớn. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp bộc lộ nhiều nhược điểm như trả
lương chậm, chậm tăng lương , bớt xén tiêu chuẩn bảo hiểm, an toàn lao động,
sa thải , cúp phạt Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người
lao động.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA
SINGAPORE VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
2.1. QUI MÔ VỐN FDI CỦA SINGAPORE TẠI VIỆT NAM
Như đã nói ở trên, giai đoạn 2007 – 2011 có lúc nguồn vốn FDI vào Việt
Nam có chiều hướng giảm, nhưng FDI của Singapore vào nước ta vẫn luôn theo
chiều hướng gia tăng. Trong thời gian vừa qua, Singapore luôn nằm trong TOP
5 nước có vốn FDI lớn nhất. Căn cứ vào số lượng vốn đăng ký, tính lũy kế của
các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/11/2011, với 968 dự án và vốn đăng ký trên
24 tỷ USD với 81 dự án cấp phép mới và 20 dự án tăng vốn, mở rộng sản xuất
với tổng vốn đăng ký chung trên 1,5 tỷ USD ( theo ebank.vnexpress.net ).
Đến năm 2011, Singapore đã đứng ở vị trí thứ nhất trong trong tống số 94
nước có vốn FDI ở Việt Nam (vượt lên 2 bậc từ vị trí thứ 3 trong xếp hạng đầu
tư chung từ trước đến nay). Điều này cho thấy các doanh nghiệp Singapore vẫn
rất quan tâm đến thị trường Việt Nam . Bởi Việt Nam vẫn là nơi mà các doanh
nghiệp Singapore có thể phát huy được các thế mạnh của mình, tận dụng được
14
những lợi thế của môi trường đầu tư của Việt Nam với tài nguyên thiên nhiên
phong phú, giá nhân công rẻ, môi trường chính trị ổn định…để gặt hái được
những thành công trong quá trình đầu tư.
Bảng 2.1 : Top 5 nước có vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam
giai đoạn 2007 -2011
Thứ
hạng
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Hàn Quốc Malaixia Hàn Quốc Đài Loan Singapore

2 Quần đảo Virgin - Anh Đài Loan Nhật Bản Hàn Quốc Hàn Quốc
3 Singapore Nhật Bản Singapore Singapore Nhật Bản
4 Đài Loan Brunei Đài Loan Nhật Bản Đài Loan
5 Nhật Bản Singapore Malaixia Malaixia Brunei
Nguồn : Tổng cục tống kê và Bộ kế hoạch và đầu tư
Với lượng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng nhiều, nhưng quy mô của
các dự án đầu tư vẫn chủ yếu là vừa và nhỏ, số còn lại là những dự án có quy mô
vốn lớn (từ 50 triệu USD trở lên), cụ thể trong số 968 dự án tính lũy kế của các
dự án còn hiệu lực đến ngày 31/11/2011thì các dự án có quy mô vốn từ 5 triệu
USD đến 50 triệu USD là 467, chiếm tới 48,3
%,
trong tổng số dự án của
Singapore, số dự án có quy mô dưới 5 triệu USD là 403, chiếm 41,6 % và 98 dự
án với quy mô vốn từ 50 triệu USD trở lên, đạt 10,1 % ( theo bảng 2.2 ) .
Bảng 2.2 : Qui mô các dự án đầu tư FDI của Singapore vào Việt Nam
( Tính lũy kế của các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/11/2011 )
Qui mô dự án Số dự án Tỷ lệ ( % )
Từ 50 triệu USD trở lên 98 10,1
5 triệu USD - 50 triệu USD 647 48,3
Dưới 5 triệu USD 403 41,6
Nguồn : Tổng hợp ebank.vnexpress.net
Biểu đồ 2.1 : Biểu diễn qui mô các dự án đầu tư FDI cua Singapore
vào Việt Nam
( Tính lũy kế của các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/11/2011)
Đơn vị : %
15
Nguồn : Tổng hợp ebank.vnexpress.net
Có thể kể đến dự án đầu tư với quy mô lớn lớn của Singapore được triển
khai trong những năm 2007 – 2011 như dự án nâng cấp khách sạn Caravele 4
sao với vốn đầu tư 73 triệu USD, dự án xây dựng “Trấn sông Hồng” liên doanh

giữa Hà Nội và công ty ANTARAA Development với số vốn đầu tư là 244
triệu USD ; dự án Metabox xây dựng nhà máy sản xuất đồ uống với công suất
485 triệu hộp một năm, dự án xây dựng làng quốc tế ở quận Thủ Đức - thành
phố Hồ Chí Minh với số vốn đầu tư lên tới 745 triệu USD. Những dự án này đã
đóng góp không nhỏ vào sự thay đổi trong nền kinh tế của Việt Nam.
2.2. CƠ CẤU FDI CỦA SINGAPORE TẠI VIỆT NAM THEO ĐỊA
PHƯƠNG
Cũng như xu hướng chung của các nước khác đầu tư FDI vào Việt Nam,
các doanh nghiệp của Singapore cũng tập chung đầu tư chủ yếu vào các tỉnh,
thành phố lớn là trung tâm kinh tế của cả nước.
Đặc biệt, Singapore đầu tư nhiều nhất ở thành phố Hồ Chí Minh, số dự án
đầu tư vào thành phố Hồ Chí Minh của Singapore tăng dần theo các năm: Cuối
năm 2007, Singapore đã có 134 dự án đầu tư vào thành phố Hồ Chí Minh với
tổng vốn đầu tư là 682,55 triệu USD, năm 2011 số dự án của Singapore đầu tư
vào thành phố Hồ Chí Minh lên tới 387, chiếm gần 40 % số dự án đầu tư của
Singapore trong cả nước, với tổng vốn đầu tư gần 4,32 tỷ USD, chiếm 18 %
trong tổng vốn đầu tư của Singapore vào Việt Nam , số dự án còn lại của
Singapore được đầu tư ở các địa phương khác như Hà Nội và Đà Nẵng, Đồng
Nai…( theo www.vcci.com.vn/ho-so-thi-truong/singapore.htm ).
Lý do mà Singapore đầu tư nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, bởi vì
16
thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá
của Việt Nam. Nơi đây được các nhà đầu tư Singapore đánh giá là một thành
phố năng động, với cơ sở hạ tầng tốt hơn các địa phương khác của Việt Nam,
nguồn nhân lực lại có khả năng kỹ thuật lớn hơn và trình độ quản lý cũng trình
độ ngoại ngữ cũng khá hơn. Với số dân đông đúc thì thành phố Hồ Chì Minh là
thị trường có sức mua lớn hơn các địa phương khác của Việt Nam. Đây cũng là
điều dễ hiểu, bởi vì bất kỳ một nhà đầu tư nào khi tiến hành đầu tư ra nước
ngoài, cũng đều mong muốn có môi trường đầu tư thuận lợi, có thể thu được lợi
nhuận càng cao càng tốt, càng nhanh càng tốt. Với những điều kiện này, thành

phố Hồ Chí Minh đúng là một môi trường lý tưởng không những cho các nhà
đầu tư Singapore mà còn đối với các ĐTNN khác khi đến Việt Nam.
2.3. CƠ CẤU FDI CỦA SINGAPOR TẠI VIỆT NAM THEO LĨNH
VỰC ĐẦU TƯ
Trong năm 2011, có 86 dự án đầu tư của Singapore vào Việt Nam, với
tổng vốn đăng ký và tăng thêm là 1,581 tỷ USD. FDI của Singapore vào Việt
Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực là kinh doanh bất động sản, công nghiệp
chế biến và chế tạo, xây dựng, nghệ thuật và giải trí, dịch vụ lưu trú và ăn uống.
Trong năm này, nhìn chung số lượng dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến
vượt lên dẫn đầu trong các lĩnh vực được các nhà đầu tư Singapore ưu tiên đầu
tư, chiếm tỷ lệ lớn nhất với 49 dự án với số vốn đăng ký là 765,96 triệu USD, số
dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm ít nhất với 2 dự án, số
vốn đăng ký là 97,64 triệu USD. Các nhà đầu tư Singapore nhận thấy Việt Nam
vẫn có tiềm năng bất động sản do đó trong năm này lĩnh vực kinh doanh bất
động sản cũng được các nhà đầu tư Singapore đầu tư nhiều hơn, trái với tình
hình đầu tư chung của các nhà đầu tư nước ngoài khác khi đầu tư vào Việt Nam.
Bảng 2.3 : Lĩnh vực đầu tư FDI của Singapore vào Việt Nam năm 2011
Lĩnh vực Số dự án
Vốn đăng ký
( triệu USD )
Kinh doanh bất động sản 12 425,94
Công nghiệp chế biến, chế tạo 49 765,96
Xây dựng 18 232,54
17
Nghệ thuật và giải trí 5 58,92
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 2 97,64
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
18
Biểu đồ 2.2: Biểu diễn lĩnh vực đầu tư FDI của Singapore vào
Việt Nam năm 2011

Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Như vậy, theo số vốn đăng ký, số dự án đầu tư của doanh nghiệp
Singapore tại Việt Nam tính đến 31/12/2011, doanh nghiệp Singapore đang đầu
tư lớn vào 5 chuyên ngành là: Kinh doanh bất động sản với 50 dự án với vốn
đăng ký trên 7,6 tỷ USD; công nghiệp chế biến, chế tạo với 329 dự án với vốn
đăng ký trên 6,0 tỷ USD; xây dựng với 80 dự án với vốn đăng ký trên 3,5 tỷ
USD; nghệ thuật và giải trí với 12 dự án với vốn đăng ký trên 1,7 tỷ USD; dịch
vụ lưu trú và ăn uống với 25 dự án với vốn đăng ký trên 1,7 tỷ USD; sau đó mới
đến vận tải kho bãi với 60 dự án với vốn đăng ký là 707 triệu USD; y tế và trợ
giúp xã hội với 11 dự án với vốn đăng ký là 537 triệu USD ( theo bảng 2.4 ).
19
Bảng 2.4 : Lĩnh vực FDI của Singapore vào Việt Nam
( Tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2011)
Lĩnh vực Số dự án
Vốn đăng ký
( tỷ USD )
Kinh doanh bất động sản 50 7,6
Công nghiệp chế biến, chế tạo 329 6,0
Xây dựng 80 3,5
Nghệ thuật và giải trí 12 1,7
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 25 1,7
Vận tải kho bãi 60 0,707
Y tế và trợ giúp xã hội 11 0,537
Nguồn : />Biểu đồ 2.3 : Biểu diễn lĩnh vực FDI của Singapore vào Việt Nam
( Tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2011)
Nguồn : />Một trong những lĩnh vực mà Singapore quan tâm đầu tư nhất vào Việt
Nam hiện nay là bất động sản, xây dựng các khu nhà ở, khu đô thị mới. Đầu tư
vào bất động sản luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư mà Singapore
đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp.HCM.
Một số đơn vị kinh doanh bất động sản lớn của Singapore đã hoạt động nhiều

năm tại Việt nam như CapitaLand, Keppel Land…đã đầu tư rất mạnh vào thị
20
trường bất động sản Việt nam trong năm 2010, 2011 vừa qua. Các nhà đầu tư
Singapore còn tham gia vào thị trường Việt Nam cả ở khâu quy hoạch thiết kế,
đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị, khu công nghiệp, khâu quản lý.
Các doanh nghiệp Singapore đang chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam,
đầu tư một số dự án phát triển cơ sở hạ tầng, khu đô thị mới, khu nhà ở,… Ngoài
ra, Singapore còn có một số thế mạnh khác như dịch vụ tài chính - Ngân hàng -
bảo hiểm; đào tạo; bán buôn, bán lẻ; thông tin và truyền thông… Tuy nhiên,
hiện nay, các lĩnh vực này vẫn chưa thực sự được đầu tư thích đáng vào Việt
Nam. Nguyên nhân chủ yếu là từ các doanh nghiệp Singapore đang hoạt động
trong các lĩnh vực này chưa tìm thấy các dự án phù hợp với năng lực và mục
tiêu của họ tại Việt Nam, hoặc họ đã có các định hướng đầu tư khác.
2.4. CƠ CẤU FDI CỦA SINGAPORE TẠI VIỆT NAM THEO HÌNH
THỨC ĐẦU TƯ
FDI của Singapore vào Việt Nam có 3 loại hình thức chủ yếu là hợp đồng
hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài. Singapore tham gia vào tất cả các hình thức đầu tư.
Trong các hình thức đầu tư trên, năm 2011, hình thức công ty liên doanh
chiếm vị trí chủ yếu, số dự án của hình thức này gồm 724 dự án, chiếm tới 74.8
%
, tiếp theo là công ty 100
%
vốn nước ngoài gồm 178 dự án, chiếm tỷ lệ 18.4
%, và số dự án hợp doanh là 66, chiếm 6.8
%
còn lại. Nguyên nhân của tình trạng
này là do các nhà đầu tư Singapore còn khá e ngại trước tình hình đầy biến đổi
của nền kinh tế thế giới đang trong thời gian phục hồi sau khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, cũng như khủng hoảng kinh tế ở các nước trong Liên minh EU. Các

nhà đầu tư Singapore còn sợ mạo hiểm khi đầu tư tại Việt Nam. Do đó, họ muốn
phía Việt Nam cùng chia sẻ rủi ro. Vì vậy, số lượng dự án liên doanh vẫn chiếm
tỷ lệ lớn nhất trong các dự án có FDI ở Việt Nam trong thời gian vừa qua ( theo
bảng 2.3 ).
Bảng 2.5 : Các hình thức FDI của Singapore ở Việt Nam năm 2011
Hình thức
Công ty liên
doanh
Công ty có 100 % vốn
nước ngoài
Công ty hợp
doanh
21
Số dự án 724 178 66
Tỷ lệ ( % ) 74,8 18,4 6,8
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Biểu đồ 2.4 : Biểu diễn các hình thức FDI của Singapore
ở Việt Nam năm 2011
Đơn vị : %
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
2.5. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA SINGAPORE VÀO
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
2.5.1. Kết quả thu hút FDI của Singapore đối với nền kinh tế Việt Nam
Nhìn chung, tình hình thu hút FDI của Singapore vào Việt Nam giai đoạn
2007 – 2011đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Số lượng vốn cũng như qui mô các dự án FDI của Singapore vào Việt
Nam ngày càng có chiều hướng gia tăng. Tính đến 31/12/2011, số dự án còn
hiệu lực đã lên tới 968 dự án với vốn đăng ký trên 24 tỷ USD,các dự án có qui
mô vốn lớn cũng gia tăng.
Các lĩnh vực các nhà đầu tư Singapore đầu tư vào Việt Nam cũng là khá

đa dạng như kinh doanh bất động sản, xây dựng, công nghiệp chế biến – chế tạo,
nghệ thuật - giải trí, dịch vụ lưu trú và ăn uống…Có thể nói, các nhà đầu tư
Singapore đã có mặt ở hầu hết trong các lĩnh vực trong nền kinh tế nước ta.
22

×