Tải bản đầy đủ (.doc) (49 trang)

quy luật mâu thuẫn và ý nghĩa của nó đối với nhận thức mâu thuẫn của quá trìn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (281.5 KB, 49 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN
1.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT.
1.1.1 Khái lược lịch sử quan niệm về mâu thuẫn
Ngay từ thời cổ đại đã có những phỏng đoán thiên tài về sự tác động
qua lại của cái đối lập và xem sự tác động qua lại đó là cơ sở của vận động
của thế giới. Nhiều đại biểu triết học phương Đông đã xem vận động là do
sự hình thành những đối lập và các đối lập ấy cũng luôn vận động.
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclit – người được V.I.Lênin coi là
ông tổ của phép biện chứng, cho rằng trong sự vận động biện chứng vĩnh
viễn của mình, các sự vật đều có khuynh hướng chuyển sang mặt đối lập.
Trên quan điểm duy tâm khách quan, Platon đã đi tới quan điểm xem
xét phép biện chứng là học thuyết về sự vận động của khái niệm. Bản chất
phép biện chứng của Platon là ở chỗ, ông cho rằng khi giải quyết bất kì vấn
đề nào cũng phải xuất phát từ hai luận điểm đối lập, và phải xem xét cái gì
đứng đằng sau các luận điểm đối lập ấy – khi lấy ra một cách tự nó và lấy
ra trong quan hệ với cái kia.
Trước khi phép biện chứng Mácxít ra đời, tư tưởng biện chứng về
những đối lập đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển trong học thuyết
biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, tiêu biểu nhất là Cantơ và
G.V.Hêghen.
Các antinomi ( mỗi antinomi hình thành từ hai phán đoán trái ngược
nhau về cùng một sự vật, trong cùng một quan hệ nhưng cả hai đều đúng.
Trong giới hạn nhận thức đương thời, người ta chỉ có thể chấp nhận một
trong hai phán đoán đó. Antinomi là một loại mâu thuẫn biện chứng ) của
Cantơ xuất hiện trên cơ sở vượt quá trình độ nhận thức có tính chất kinh
nghiệm. Lần đầu tiên qua các antinomi, Cantơ đã xem các mặt đối lập là
những đối lập về chất. Nhưng do không giải quyết được vấn đề các
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
antinomi, Cantơ đã đi tới từ bỏ việc thừa nhận các mâu thuẫn khách quan.


Ông xem sự tồn tại của mâu thuẫn là bằng chứng nói lên sự bất lực của con
người trong việc nhận thức thế giới.
Khi nghiên cứu phép biện chứng với tư cách sự vận động và phát
triển của “ý niệm tuyệt đối”, Hêghen đã kịch liệt phê phán quan điểm siêu
hình về sự đồng nhất ( đã đồng nhất thì loại trừ mọi sự khác biệt và mâu
thuẫn ). Ông cho rằng đó là một sự đồng nhất trừu tượng, trống rỗng,
không bao hàm một nhân tố chân lý nào. Trong quan niệm của ông, bất kì
sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt và mâu thuẫn.
Hơn nữa, Hêghen cũng là người sớm nhận ra vai trò của mâu thuẫn
trong quá trình vận động và phát triển. Ông khẳng định: “mâu thuẫn là
nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống, chỉ trong
chừng mực chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận
động mới có xung lực và hoạt động”; “tất cả mọi sự vật đều có tính chất
mâu thuẫn trong bản thân nó”.
Song, do bị chi phối bởi quan niệm duy tâm và lợi ích giai cấp của
mình, Hêghen đã không phát triển học thuyết mâu thuẫn đến mức triệt để.
Điều đó càng thể hiện rõ khi ông nghiên cứu các vấn đề xã hội. Bằng tư
duy biện chứng của mình, Hêghen đã chỉ ra tính mâu thuẫn không thể điều
hoà được trong “xã hội công dân”, nhưng khi giải quyết mâu thuẫn của nó,
ông lại đẩy nó vào lĩnh vực tư tưởng thuần tuý.
Kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu có giá trị nhất
trong toàn bộ lịch sử hơn 2000 năm của triết học, dựa trên những thành quả
mới nhất của khoa học hiện đại ( cả khoa hoc tự nhiên lẫn khoa học xã hội
và nhân văn) và khái quát thực tiễn thời đại mình, C. Mác và Ph. Angghen
đã phát triển học thuyết mâu thuẫn biện chứng lên một tầm cao mới. Nhờ
có lý luận mâu thuẫn biện chứng và sự vận dụng lý luận đó vào đời sống xã
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hội đương thời, hai ông đã phát hiện đúng mâu thuẫn nội tại của Chủ nghĩa
Tư bản, làm sáng tỏ nội dung, tính chất của những mâu thuẫn đối kháng

trong xã hội đó, trước hết là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá lực lượng
sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản
xuất. Mâu thuẫn kinh tế nêu trên được thể hiện trên lĩnh vực xã hội thành
mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản. Qua đó, các ông chỉ ra rằng: lực lượng xã
hội cơ bản lãnh đạo cuộc cách mạng nhằm xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây
dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa – là giai cấp vô
sản.
Như vậy, bằng việc kế thừa những thành quả tư tưởng biện chứng về
mâu thuẫn, bằng việc tổng kết thực tế lịch sử loài người, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác đã cho rằng, chúng ta phải tìm xung lực vận động và
phát triển của sự vật trong chính sự vật, trong những mâu thuẫn của bản
thân sự vật. Quan điểm lý luận đó được thể hiện tập trung ở quy luật thống
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Quy luật này đề cập đến vấn đề cơ
bản, quan trọng nhất của phép biện chứng: vấn đề nguồn gốc và động lực
của sự phát triển.
1.1.2. Nội dung cơ bản của quy luật.
Nội dung cơ bản của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập được làm sáng tỏ thông qua những khái niệm cơ bản: “quy luật”,
“đối lập”, “mặt đối lập”, “mâu thuẫn”, “thống nhất cuả các mặt đối lập”,
“đấu tranh của các mặt đối lập”, “mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập”.
- Quy luật là những mối liên hệ bên trong, tất yếu ổn định và lặp đi
lặp lại, quyết định sự tồn tại và phát triển của các sự vật hiện tượng.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quy luật giúp ta nắm vững được bản chất, xu hướng tính tất yếu của
đối tượng. Trong khoa học tự nhiên quy luật được goi là định luật. Nếu
những quy luật của khoa học cụ thể chỉ tác động trông một lĩnh vực đối
tượng cụ thể của thế giới, thì những quy luật mà triết học nghiên cứu là
những quy luật tác động phổ biến trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của

thế giới. Để khái quát những quy luật là dựa trên sự khái quát, những thành
tựu của các khoa học cụ thể.
- Đối lập là sự trái ngược loại trừ và phủ định nhau của khuynh
hướng khác nhau của sự vật.
- Mặt đối lập: Là tập hợp những yếu tố, những khuynh hướng trái
ngược nhau, loại trừ lẫn nhau trong các sự vật, hiện tượng. Mặt đối lập
không phải là từng yếu tố, từng khuynh hướng đối lập nhau trong sự vật mà
là tập hợp chỉnh thể của chúng và cùng tôn tại trong một sự vật nào đó.
Các mặt đối lập thường tồn tại dưới hình thức là các cặp mặt đối lập,
ở trong cùng một sự vật tạo nên tính chỉnh thể của sự vật. Đây là điểm quan
trọng để chứng minh sự vận động, phát triển của các sự vật hiện tượng là
do “tự vận động” nguyên nhân vận động ở bản thân sự mâu thuẫn của sụ
vật chứ không phải do tác động của một lực lượng sức mạnh bên ngoài.
Mâu thuẫn xã hội cũng được hình thành từ những mặt đối lập tồn tại
trong bản thân xã hội đó, là sự vận động tất yếu và khách quan. Mâu thuẫn
là sự tập hợp, sự liên hệ của các mặt đối lập thì tạo ra mâu thuẫn.
Thống nhất của các mặt đối lập.
+ Chỉ mối liên hệ không tách rời nhau giữa các mặt đối lập
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập do chúng ở trong cùng một sự vật nên
chúng đồng chất.
+ Ở giai đoạn đầu tiên của mâu thuẫn, khi đó các mặt đối lập chưa phân
hoá, chưa hình thành là các mặt đối lập đồng nhất nhau về cơ bản.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập, sự thâm nhập vào nhau của
các mặt đối lập. Trong những yếu tố, thuộc tính của mặt đối lập này tồn tại
trong mặt đối lập kia và ngược lại.
- Đấu tranh giữa các mặt đối lập:
+ Là một quá trình tức là có khởi đầu, diễn biến và kết thúc.
+ Sự chuyển hoá này có thể xảy ra trong ba khả năng.

*Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia và ngược lại
*Các mặt đối lập kết hợp với nhau để tạo thành một sự vật mới, hoặc
một cặp mặt đối lập cao hơn.
*Hai mặt đối lập có thể kết hợp với nhau một cách tạm thời trong
một thời gian hoặc khoảnh khắc nào đó.
Về thực chất đấu tranh giữa các mặt đối lập là đấu tranh giữa cái mới
đang nảy sinh và cái cũ đang trở nên lạc hậu và lỗi thời, là sự tác động qua
lại loại trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập.
- Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
+ Là hai quá trình không tách rời nhau.
+ Thống nhất có khuynh hướng giữ cho sự vật ổn định. Đấu tranh
giữa các mặt đối lập có khuynh hướng phá vỡ sự ổn định.
Bản chất của quy luật : thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
là mối liên hệ bên trong , tất yếu, lặp đi lặp lại và quyết định nguồn gốc của
sự phát triển của các sự vật, hiện tượng.
Việc hiểu rõ và thấu đáo quy luật mâu thuẫn sao cho đúng với tinh
thần của chủ nghĩa Mác – Lênin là điều cần thiết nhưng không dễ dàng.
Quan điểm về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan điểm về mâu
thuẫn biện chứng, chứ không phải là quan điểm về một thứ mâu thuẫn
thuần tuý, siêu hình, máy móc. Vì thế cần phải đặt ra vấn đề là cách hiểu vế
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mâu thuẫn biện chứng với tính chất là động lực của sự phát triển là như thế
nào.
“Cho đến nay, chúng ta có thể thấy có không ít định nghĩa về mâu
thuẫn biện chứng khác nhau. Chẳng hạn, Bách khoa Triết học của Liên Xô
xem mâu thuẫn biện chứng là quan hệ căn bản giữa các nhân tố đối lập
trong cùng một hệ thống, là mâu thuẫn bên trong một bản chất, vốn có của
một bản chất. Còn G. M. Stơrắc cho rằng: mâu thuẫn biện chứng là sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành nguồn gốc bên trong

của bất kì sự phát triển nào. Xiuxiucalop lại xem mâu thuẫn là mối quan hệ
lẫn nhau có tính động của các nhân tố đó thâm nhập lẫn nhau, quy định lẫn
nhau và đồng thời loại trừ lẫn nhau, phủ định lẫn nhau. Trong tác phẩm
“Các vấn đề ơhép biện chứng của chủ nghĩa chín muồi”, các giáo sư Đuđen
và Kazơlốpxki đưa ra quan niệm sau đây về mâu thuẫn biện chứng: “ Mâu
thuẫn biện chứng là mối quan hệ căn bản – khách quan của sự thống nhất
và đấu tranh, loại trừ lẫn nhau và thâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập
biện chứng ( những mặt này không có giá trị như nhau ) trong các sự vật,
các quá trình, các hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn biện chứng được nhận thức không phải bằng tư duy thông
thường mà bằng tư duy khoa học ( không phải bằng lôgíc hình thức mà
bằng lôgic biện chứng), trong cùng một mối quan hệ chứ không phải trong
những mối quan hệ khác nhau, trong tính động của sự xuất hiệnvà triển
khai và được giải quyết, được khắc phục chứ khôngphải bằng tiêu diệt hay
điều hoà. Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Việc giải quyết nó có ý nghĩa là đứt đoạn của tính liên tục, là sự nhảy vọt
trong quá trình phát triển, là sự chuyển hoá thành trạng thái mới về chất với
nội dung mới”.[5; 34, 35]
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy không đáp ứng được tính ngắn gọn của một định nghĩa nhưng
trong nhiều định nghĩa khác nhau về mâu thuẫn biện chứng, quan niệm vừa
nêu có những ưu điểm cơ bản. Nó nói lên được bản chất kết cấu của mâu
thuẫn biện chứng, phương thức và quá trình nhận thức nó – tức là đề cập
hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trong quan niệm duy vật biện chứng về
mâu thuần. Đoạn vừa nêu cho ta biết cả kết cấu, bản chất, chức năng và các
giai đoạn phát triển của giải guyết mâu thuẫn biện chứng.
Từ quan niệm chung đó về mâu thuẫn biện chứng, chúng ta cũng cần
hiểu lại khái niệm về mặt đối lập.
Liệu có phải mặt đối lập trong hiện thực đều là đối lập biện

chứng không? Chẳng hạn, ngày và đêm, bên phải và bên trái, mặt trên và
mặt dưới Theo A. N. Avêrianốp, những mặt vừa nêu là những mặt chết
cứng, mâu thuẫn giữa chúng không phải là nguồn gốc của sự phát triển.
Như vậy, có thể nói không phải mọi đối lập trong hiện thực đều là đối lập
biện chứng. Những mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng phải là
những mặt mà sự tác động qua lại giữa chúng tạo thành nguồn gốc của sự
phát triển.
Các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng luôn luôn tồn tại
đồng thời trong hai trạng thái: một mặt, chúng luôn thống nhất với nhau,
mặt khác, chúng luôn đấu tranh với nhau. Song, sự thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập là gì? Trả lời câu hỏi đó không đơn giản. Vấn đề là ở
chỗ đôi khi người ta lại sử dụng những khái niệm ngôn ngữ hàng ngày để
hiểu những phạm trù triết học, làm mất ý nghĩa thế giới quan triết học và
phương pháp luận của nó. Chẳng hạn, “thống nhất” trong đời sống hàng
ngày chỉ được hiểu là sự đồng tâm nhất trí, loại trừ mọi sự khác biệt. Còn
“đấu tranh”, đặc biệt khi vận dụng thuật ngữ đó vào đấu tranh giai cấp, vào
đấu tranh giữa CNXH và CNTB, thì người ta thường chỉ hiểu đó là sự thủ
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiêu lẫn nhau, thậm trí đó là sự thủ tiêu bằng bạo lực. Như vậy người ta đã
đưa các đặc thù thành cái phổ biến, thậm chí lấy quan điểm siêu hình thay
thế cho quan điểm biện chứng trong cách hiểu các phạm trù đó.
Với tư cách là một phạm trù triết học, sự thống nhất của các mặt đối
lập mang nội dung quan trọng nhất là tính không thể tách rời, là sự đòi hỏi
có nhau, làm điều kiện tiền đề cho nhau. Diễn đạt tư tưởng đó, Mác cho
rằng giai cấp vô sản và sự giàu có là những mặt đối lập; là những đối lập,
hai mặt đó cấu thành một chỉnh thể thống nhất nào đó ; chế độ tư hữu với
tư cách là chế độ tư hữu bắt buộc phải duy trì sự tồn tại của bản thân nó
và do đó, duy trì cả sự tồn tại của cái đối lập với nó, giai cấp vô sản.
Ngoài ra, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm nội dung về

sự phù hợp, sự giống nhau, sự đồng nhất – thậm chí có sự đồng nhất với
nhau về bản chất-khi xét về một về phương diện nào đó. Đề cập đến vấn
đề này, Mác cho rằng “Cực Bắc và cực Nam là những cực như nhau, bản
chất của chúng là đồng nhất”.
“Đồng nhất” biểu hiện rõ nhất khi có sự chuyển hoá lẫn nhau của các
mặt đối lập. Đó là điểm nút trong sự phát triển của cuộc đấu tranh giữa các
mặt đối lập và được đánh dấu bằng việc giải quyết mâu thuẫn. Khi chú ý
tới tầm quan trọng của trạng thái đó, Lênin xem phép biện chứng như là
học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập.
“Đấu tranh giữa các mặt đối lập” cũng là một phạm trù có nội dung
phức tạp. Có đấu tranh kích thích lẫn nhau cùng phát triển, có đấu tranh
dẫn tới sự thủ tiêu của một mặt và mặt kia cũng thay đổi. Đấu tranh giữa
các mặt đối lập cũng diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Tính đa dạng
của hình thức đấu tranh phụ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn, trạng thái
của mâu thuẫn và điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh của các mặt đối
lập. Do vậy, bất kì sự tuyệt đối hoá nào một trong những hình thức đấu
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tranh, dù là tiêu biểu nhất, trong một lĩnh vực nào đó thành hình thức mang
tính phổ biến đều bóp chết nội dung biện chứng của phạm trù đấu tranh
giữa các mặt đối lập”
Nội dung quan trọng nhất của học thuyết mâu thuẫn biện chứng là
vai trò của nó đối với sự vận động và phát triển. Nhưng ngay trong vấn đề
cơ bản này, cũng có những ý kiến rất khác nhau. Một số người cho rằng,
không phải trong giai đoạn tồn tại của mình, mâu thuẫn đều là nguồn gốc
của sự vận động và phát triển. Theo các tác giả đó, mâu thuẫn ở giai đoạn
đầu là nguồn gốc phát triển, ở giai đoạn sau (tức là khi đã gay gắt) thì biến
thành cái kìm hãm. ở giai đoạn này mâu thuẫn đòi hỏi phải được qiải quyết
ngay.
Số người khác lại cho rằng: trong hai mặt đối lập tạo thành mâu

thuẫn biện chứng, chỉ có một mặt đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển, còn
mặt kia kìm hãm. Thí dụ: Trong mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản, giai cấp vô sản thì thúc đẩy, giai cấp tư sản thì kìm hãm việc giải
quyết mâu thuẫn.
Một số tác giả lại cho rằng không phải mâu thuẫn nói chung, mà chỉ
có sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là nguồn gốc của vận động và
phát triển.
Theo tôi, quan điểm xem mâu thuẫn nói chung là nguồn gốc của sụ
vận động và phát triển là hợp lý hơn cả, bởi vì:
+ Sự vận động và phát triẻn bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính
liên tục ( do sự thống nhất giữa các mặt đối lập tạo ra) và tính gián đoạn
( do đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành).
+ Theo quan điểm duy vật biện chứng, “nguyên nhân chính và cuối
cùng của mọi sự vật là sự tác động qua lại” (Angghen). Tác động qua lại
giữa các mặt đối lập chính là đấu tranh giữa các mặt đối lập. Tất nhiên,
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nguyên nhân của sự vận động và phát triển trong khuôn khổ một sự vật và
nguyên nhân của sự chuyển hoá từ sự vật này sang sự vật khác có hình
thức, có nội dung cụ thể không hoàn toàn như nhau. Trong giai đoạn thứ
nhất, đó là do sự triển khai của các loại mâu thuẫn trong lòng sự vật đang
vận động và phát triển. Trong giai đoạn thứ hai, sự chuyển hoá của sự vật
thành cái khác là do mâu thuẫn được giải quyết hoàn toàn.
Từ những điều trình bầy trên đây, có thể nêu ra một số đặc trưng phổ
biến của mâu thuẫn biện chứng như sau:
- Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan trong các sự vật và hiện
tượng.
- Mâu thuẫn biện chứng mang tính phổ biến. Điều đó không chỉ được
hiểu là trong mọi sự vật đều có mâu thuẫn, mà còn cần được hiểu là trong
mọi giai đoạn phát triển của sự vật đều có mâu thuẫn, thậm chí, có nhiều

mâu thuẫn.
- Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập biện chứng. Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, đấu
tranh là tuyệt đối.
- Mâu thuẫn biện chứng tạo thành nguồn gốc của sự vận động và
phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy.
- Mâu thuẫn biện chứng cũng là một thực thể vận động và phát triển.
Trong các giai đoạn khác nhau, chúng có thể có hình thức đấu tranh khác
nhau, có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển.
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng. Những
đặc trưng trên đây chắc chắn biểu hiện cụ thể không hoàn toàn như nhau
trong mâu thuẫn của giới tự nhiên, của xã hội và của tư duy. Do vậy, việc
nghiên cứu đặc điểm mâu thuẫn biện chứng trong đời sống xã hội trở thành
vấn đề cần thiết.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. VẤN ĐỀ MÂU THUẪN XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG PHÁP
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN XÃ HỘI
1.2.1. Mâu thuẫn xã hội
Mác, Angghen, Lênin đã nghiên cứu mâu thuẫn trong sự phát triển
xã hội, trực tiếp là mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản, nhưng các ông đều
chưa xây dựng học thuyết riêng tương đối hoàn chỉnh về mâu thuẫn xã hội .
Chỉ trong vòng 20-30 năm trở lại đây, do nhu cầu thực tiễn xây dựng
CNXH, do nhu cầu cuộc đấu tranh giữa CNXH và CNTB nhằm mang lại
thắng lợi cho CNXH, các nhà triết học Mácxit mới thấy rõ sự cần thiết phải
xây dựng học thuyết riêng về phép biện chứng của sự phát triển xã hội (mà
thường nói gọn là phép biện chứng xã hội), trong đó có vấn đề mâu thuẫn
xã hội.
Việc hình thành học thuyết tương đối hoàn chỉnh về phép biện chứng
xã hội nói chung và mâu thuẫn xã hội nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, vì

trong xã hội thì lợi ích căn bản của các cộng đồng người được phản ánh
một cách trực tiếp. Các lực lượng tiến bộ muốn vạch trần bản chất của mâu
thuẫn, ngược lại, các lực lượng lạc hậu mưu toan xoá nhoà mâu thuẫn hoặc
thường xuyên tạc đi nhằm gây khó khăn cho việc khắc phục mâu thuẫn.
Bản thân sự nhận thức mâu thuẫn xã hội cũng không đơn giản. Ở đây
ta thường thấy những thiếu sót ngay trong lĩnh vực nhận thức luận: không ít
người đồng nhất mâu thuẫn với những khó khăn, những cản trở; lại có
người cho rằngtrong xã hội XHCN không có mâu thuẫn, mặt khác do hoàn
cảnh đòi hỏi mà trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều khi phải nhấn
mạnh vấn đề thống nhất, ít nói ( hoặc không nói) đến mâu thuẫn.
Cho đến nay, ngay trên một số khía cạnh quan trọng nhất của lý luận
mâu thuẫn xã hội cũng còn có ý kiến khác nhau.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khác với biện chứng của tự nhiên, biện chứng của các quá trính phát
triển của xã hội ( biện chứng xã hội) là biện chứng của chính hoạt động con
người, được thực hiện thông qua qua hoạt động của con người. Chính vì
vậy, những mâu thuẫn của đời sống xã hội chỉ có thể được hiểu đúng, khi
xem chúng như là điều kiện và kết quả hoạt động của con người; phải
nghiên cứu chúng gắn liền với hình thành xã hội và lợi ích xã hội của con
người, của các giai cấp ( trong xã hội có giai cấp).
Xuất phát từ tiền đề phương pháp luận đó, có người cho rằng: mâu
thuẫn xã hội - đó là tiền đề và kết quả của hoạt động của chủ thể xã hội.
Định nghĩa đó về cơ bản là đúng, nhưng quá chung. Hơn nữa, quan niệm
đó cũng có thể vận dụng để hiểu quy luật xã hội và một loạt phạm trù khác
của biện chứng xã hội. Xuất phát từ mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái
đặc thù, định nghĩa mâu thuẫn xã hội cũng cần dựa trên định nghĩa mâu
thuẫn biện chứng chung với một số dấu hiệu bổ sung để nói lên nó là mâu
thuẫn xã hội. Một kiểu định nghĩa như thế mới đáp ứng đuợc đòi hỏi của
phương pháp định nghĩa mà logíc hình thức nêu ra: chủng bằng loài cộng

với những khác nhau về chủng.
“ Trong quan niệm phổ cập về mâu thuẫn biện chứng, chúng tôi
xem: “ Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập tạo thành nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển”. Từ đó có thể
định nghĩa như sau về mâu thuẫn xã hội: Mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất
và đấu tranh giữa những con người ( tồi tại dưới nhiều cấp độ khác nhau);
giữa những khuynh hướng, các lực lượng và các thực thể – thiết chế xã hội
tương ứng có lợi ích đối lập nhau tạo thành nguồn gốc phát triển của xã
hội’.
Định nghĩa đó nêu lên được:
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Nhân tố thực thể cơ bản tạo thành mâu thuẫn xã hội là con người.
Nhân tố này có thể tồn tại: con người – cá nhân, con người - nhóm nhỏ,
con người – tập đoàn, con người – giai cấp, con người xã hội Ngoài ra
mâu thuẫn xã hội còn được tạo thành từ hai khuynh hướng đối lập hình
thành do sự vận động của các yếu tố thực thể – vật chất của xã hội.
- Hai quan hệ quan trọng nhất của mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất
và đấu tranh giữa các mặt đối lập về lợi ích. Ở đây, lợi ích là một phạm trù
khái quát, bao hàm lợi ích vật chất và lợi ích tư tưởng – tinh thần, lợi ích cá
nhân, lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội
- Vai trò của mâu thuẫn xã hội: nguồn gốc phát triển của xã hội.
Mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn biện chứng diễn ra trong sự vận động
và phát triển của xã hội, do đó còn phải kể thêm một số điểm:
+ Mâu thuẫn xã hội thực chất là mâu thuẫn giữa các lợi ích. Chính
những lợi ích đối lập nhau và tự đó tạo nên các mâu thuẫn xã hội khác.
Do vậy, việc phân tích mâu thuẫn xã hội đòi hỏi phải phát hiện ra
những lực lượng xã hội nào đứng đằng sau ( hay nằm ngay trong) mâu
thuẫn xã hội đó, nội dung của mâu thuẫn.
+ Mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn giữa các lợi ích, cho nên đấu tranh

giải quyết các mâu thuẫn xã hội thực chất là đấu tranh giữa những con
người đang theo đuổi những lợi ích đối lập nhau.
+Do gắn liền với những quan hệ lợi ích, cho nên trong giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử – khi xã hội phân chia ra thành những giai cấp
đối kháng, thì trong hệ thống mâu thuẫn xã hội thường có hai loại mâu
thuẫn có bản chất đối lập nhau: đối kháng và không đối kháng.
+ Mâu thuẫn biện chứng xã hội tồn tại một cách khách quan nhưng
nó, một mặt là cơ sở hoạt động có ý thức của con người, mặt khác lại là kết
quả hoạt động của chính con người. Về điều này, có thể thấy rõ qua việc
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
C.Mác nói về sự xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất – mâu thuẫn cơ bản của toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử
loài người: sự xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong
phương thức sản xuất được tạo ra bởi hoạt động của con người, dù rằng
trong thực tế nó tồn tại không phụ thuộc và ý chí của con người. Nhưng,
cần lưu ý rằng mâu thuẫn xã hội là kết quả khách quan của chính hoạt động
của con người mà không phải là sự tạo lập tuỳ tiện chủ quan.
Với tư cách là một thực thể phức tạp trong quá trình tiến hoá của vật
chất, xã hội là một hệ thống mâu thuẫn. Trong hệ thống ấy, các mâu thuẫn
xã hội khác nhau có tính chất vai trò, vị trí khác nhau đối với sự phát triển
xã hội và cũng đòi hỏi những phương pháp khác nhau để giải quyết. Do
vậy, việc phân loại hệ thống mâu thuẫn xã hội theo những nhóm nhất định
là việc làm cần thiết.
Dựa vào những căn cứ phân loại khác nhau, người ta có thể chia hệ
thống mâu thuẫn xã hội ra những loại khác nhau.
Theo tính chất, có thể chia mâu thuẫn xã hội trong xã hội có đối
kháng hình thành: mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
+ Mâu thuẫn đối kháng là sự đối lập giữa những lực lượng, những
giai cấp trong xã hội về những lợi ích căn bản xu hướng ngày càng phát

triển và con đường để giải quyết là cách mạng bạo lực.
+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã
hội có lợi ích căn bản không đối lập nhau, xu hướng ngày càng giảm và con
đường để giải quyết là bằng hòa bình, thuyết phục, giáo dục.
Theo vị trí của mâu thuẫn, có thể chia các mâu thuẫn xã hội thành
những mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu
thuẫn thứ yếu
1.2.2. Giải quyết mâu thuẫn xã hội
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khác với những quan điểm duy tâm cho rằng thượng đế và thần
thánh là lực lượng sáng tạo và giải quyết mọi mâu thẫn trong xã hội, quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng lại cho rằng các mâu thuẫn xã hội
được giải quyết nhờ hoạt động của con người. Việc xác định được phương
pháp giải quyết đúng đắn là tiền đề khắc phục có hiệu quả các mâu thuẫn
xã hội.
Phương pháp giải quyết mâu thuẫn được xem là đúng, nếu phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh và thực tế khách quan. Những nội dung sau đây
của mâu thuẫn quy định nội dung của phương pháp giải quyết đó:
- Bản chất khách quan của mâu thuẫn.
- Trạng thái chín muồi của mâu thuẫn ( bao hàm trạng thái phát triển
của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn cũng như trạng thái tác động qua
lại giữa các mặt đó).
- Điều kiện khách quan ( bao hàm cả trong nước và quốc tế) và nhân
tố chủ quan trong đó diễn ra việc giải quyết mâu thuẫn.
- Thời điểm giải quyết mâu thuẫn.
- Phương pháp giải quyết mâu thuẫn còn tuỳ thuộc vào phạm vi tác
động của mâu thuẫn.
Không chú ý đến những chế định khách quan trên đây là một
trong những nguyên nhân dẫn tới những sai lầm chủ quan duy ý chí “tả”

khuynh cũng như những khuynh hướng “hữu” khuynh của phương pháp
giải quyết mâu thuẫn một cách có kết quả.
Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội, đối với một số mâu
thuẫn hay ở giai đoạn nhất định của việc giải quyết mâu thuẫn (khi xem
quá trình ra đời, vận động của mâu thuẫn cũng chính là quá trình giải quyết
nó), cần và có thể phải sử dụng sự “kết hợp các mặt đối lập”.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lênin là người đầu tiên vận dụng tư tưởng ấy vào thực tiễn, ông cho
rằng: dù sao chúng ta đã thực hiện được ít nhiều chủ nghĩa Mác, đã học
được rằng làm thế nào và khi nào có thể và cần phải kết hợp các mặt đối
lập , và điều chủ yếu là trong thời gian ba năm rưỡi của cách mạng chúng
ta, trong thực tiễn chúng ta đã nhiều lần kết hợp các mặt đối lập.
Tuy nhiên, không thể áp dụng sự kết hợp các mặt đối lập này một
cách máy móc. Lênin cho rằng: “có thể kết hợp các khái niệm đối lập lại
với nhau thành một điệu nhạc chói tai, mà cũng có thể kết hợp chúng lại
thành một điệu nhạc êm tai”. [10, 460]
Nói chung, kết quả cuối cùng của việc giải guyết mâu thuẫn là:
- Cả hai mặt đối lập với tư cách là hai mặt đối lập sẽ mất đi. Sự mất
đi đó có thể là quá trình tự tiêu vong của cả hai mặt đối lập.
- Cả hai mặt đối lập sẽ chuyển lên trạng thái phát triển cao hơn về
chất (cung và cầu, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất )
- Một mặt đối lập tiêu vong dưới sự tác động của cả nhân tố khách
quan và chủ quan, mặt kia chuyển lên trạng thái phát triển mới; nó tồn tại
với tư cách là một sự vật chứ không phải với tư cách một mặt đối lập , dù
rằng trong sự vật đó cũng đầy rẫy những mâu thuẫn (chảng hạn, mâu thuẫn
giữa CNTB và CNXH)
Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, mặt đối lập (hoặc những yếu
tố nào đó của mặt đối lập đó) chỉ mất đi, khi tiềm năng phát triển của nó đã
cạn kiệt; ở hầu hết mọi trường hợp nó sẽ “tự tiêu vong” dưới tác động của

cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan phù hợp với quy luật, mà không
phải là sự “xoá bỏ” một cách duy ý chí.
1.3. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT
THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Tôn trọng tính khách quan của mâu thuẫn. Phải xuất phát từ những
mâu thuẫn đang có trong thực tế để nhận thức và giải quyết.
- Trong nhận thức và giải quyết mâu thuẫn phải tránh hai xu hướng.
Một là tuyệt đối hoá thống nhất dẫn đến khuynh hướng điều hoà; Hai là
tuyệt đối hoá mâu thuẫn đẫn đến việc cứng nhắc và cực đoan khi giải quyết
mâu thuẫn.
- Tất cả các mâu thuẫn đều được giải quyết bằng con đường đấu
tranh giữa các mạt đối lập. Các biện pháp, con đường có thể khác nhau tuỳ
theo hoàn cảnh, tránh thủ tiêu mâu thuẫn.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ MÂU THUẪN CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN
ĐẠI HOÁ VÀ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1.1. Nhận thức về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá bắt đầu xuất hiện từ khi
nứơc Anh tiến hành công nghiệp hoá đầu tiên trên thế giới vào khoảng
những năm 70 của thế kỷ XVIII.
Quan niệm đầu tiên và đơn giản nhất về quá trình công nghiệp hoá
cho rằng đó là quá trình trang bị cho các nhà máy hoặc các khu sản xuất
các loại công nghiệp để sản xuất ra máy móc (chế tạo máy) phục vụ cho

nền sản xuất xã hội, còn nông nghiệp và các ngành dịch vụ khác chẳng qua
chỉ là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp, chứ không phải là kết
quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hoá. Cách hiểu này chưa thấy hết
được tính quy luật của quá trình chuyển biến xã hội phức tạp này, chưa
thấy hết được tính lịch sử, xã hội của quá trình công nghiệp hoá. Hơn nữa
việc xem công nghiệp hoá chỉ là quá trình chế tạo ra máy móc, coi trọng
ngành công nghiệp nặng, là những hiểu biết còn thiếu sót và cực đoan.
Đến những năm 30 thế kỷ XX, Liên Xô tiến hành công nghiệp hoá
vẫn nhấn mạnh đến đặc tính công nghiệp của quá trình công nghiệp hoá,
hơn nữa còn cho rằng công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công
nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp và công nghiệp. Tuy rằng
những quan niệm này phù hợp với điều kiện của Liên Xô lúc bấy giờ (có
nền kinh tế phát triển nhất định về trình độ công nghệ đang bị CNĐQ bao
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vây nên phải xây dựng một nền sản xuất lớn, hiện đại bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa), nhưng nếu hiểu công nghiệp hoá như vậy ở mọi thời kì đều là
khiểm khuyết.
Quan niệm thứ hai nhấn mạnh đến mặt chính trị- xã hội, đến mục
đích, phương pháp thực hiện công nghiệp hoá với hai quan điểm mang tính
đặc thù của hai chế độ xã hội khác nhau.
Chủ nghĩa tư bản cho rằng công nghiệp hoá tiến hành tự phát (nghĩa
là bị quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản chi phối một cách tự phát) bằng
cách bóc lột nhân dân trong nước và thuộc địa, sử dụng nguồn vốn từ việc
bóc lột này để phát triển công nghiệp, làm cho công nghiệp chiếm ưu thế
trong nền kinh tế, nhằm mục đích tạo ra nhiều lợi nhuận cho nhà tư bản.
Chủ nghĩa xã hội cho rằng công nghiệp hoá là quá trình được tiến
hành tự giác, có kế hoạch, dựa trên nguồn vốn được tích luỹ từ quá trình
sản xuất tiết kiệm trong tiêu dùng của nhân dân, xây dựng nền đại công
nghiệp cơ khí, đảm bảo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và phục vụ lợi

ích của nhân dân lao động.
Nhận xét về hai loại công nghiệp hoá này có thể thấy những điểm
như sau: hai cuộc công nghiệp hoá này được thực hiện gắn với hai hệ thống
tư tưởng chính trị đối lập nhau, thể hiện ở nguồn vốn tích luỹ và mục đích
là khác nhau và mang đậm nét đặc thù của từng chế độ xã hội hưởng ứng
(tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa). Quan điểm công nghiệp hoá của hai
hệ thống này chưa thể hiện được việc phải đặt ra vấn đề thu hút, sử dụng
nguồn lực lợi thế của cả hai bên. Các nước xã hội chủ nghĩa chỉ gia hạn
nguồn lực ở khuôn khổ nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, không
có sự liên hệ trao đổi với các nước tư bản- là những nước có lợi thế hết sức
to lớn về vốn và công nghệ. Điều đó trong hoàn cảnh hiện nay cũng không
hoàn toàn phù hợp nữa.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quan điểm thứ ba đựơc xem là khả dĩ hơn cả, nó đã khắc phục được
những hạn chế của hai quan điểm trên. Quan điểm này cho rằng công
nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này, một bộ phận
ngày càng tăng các nguồn lực của cải quốc dân được động viên để phát
triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc
điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản
xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, đảm bảo cho quá trình phát triển
kinh tế nhanh, mạnh. Đặc tính cơ bản của quá trình công nghiệp hoá là quá
trình chuyển biến về kinh tế- xã hội rất phức tạp, có sự kết hợp giữa các
nguồn lực, các vùng kinh tế, các ngành kinh tế rất da dạng.
Năm 1965, Liên Hợp Quốc lại đưa ra quan niệm mới về công nghiệp
hoá như sau: “công nghiệp hoá là quá trình trang bị máy móc và công nghệ
hiện đại cũng như phương pháp quản lý tiên tiến cho hoạt động sản xuất,
dù là sản xuất vật chất hay dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đưa
đến tốc độ phát triển nhanh và bền vững về giá trị tăng thêm (GDP). Con
đường Công nghiệp hoá của một quốc gia tuỳ thuộc vào đặc thù về nguồn

lao động và tài nguyên của quốc gia đó. Tuy vậy, đổi với các nước có dân
số đáng kể, các cầu trung gian thường là từ phát triển công nghiệp chế biến
hàng tiêu dùng dùng sức lao động cơ bắp tiến dần lên lao động chuyên
môn, rồi lên công nghiệp cao và kinh tế dịch vụ tiên tiến”. Như vậy, quá
trình Công nghiệp hoá phải được chỉ ra là quá trình trang bị máy móc, phát
triển kỹ thuật sản xuất và phương pháp quản lý các hoạt động kinh tế, thay
đổi cơ cấu kinh tế, đảm bảo cân bằng giữa các ngành trong cơ cấu kinh tế là
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ giữa các vùng, miền của đất nước, nhằm
đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội lâu bền. Tuy nhiên
đây mới chỉ là quan niệm mang tính chất tác chiến chứ chưa đi đến một
định nghĩa khoa học. Việc hiểu và áp dụng nó còn phụ thuộc rất nhiều vào
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các yếu tố khác nhau và trong đó phương pháp lý luận là một yếu tố vô
cùng quan trọng.
2.1.2 Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam diễn ra khác
nhau ở những thời kỳ khác nhau do sự thay đổi của điều kiện lịch sử, trình
độ nhận thức lí luận phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nước ta trong
những thời kỳ khác nhau.
Đại hội Đảng toàn quốc lần III (1960) đã xác định: CNH là nhiệm vụ
trung tâm trong suốt thời kì quá độ. Nội dung cơ bản của CNH khi đó dược
xác định là: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, tiến hành đồng thời ba cuộc
cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa hoc kỹ thuật,cách
mạng tư tưởng và văn hoá. Trong công nghiệp nặng thì chú trọng công
nghiệp cơ khí chế tạo máy móc để sản xuất ra tư liệu sản xuất, trang bị
công cụ sản xuất cơ khí máy móc cho toàn bộ nền kinh tếquốc dân
Đảng xác định nội dung của công nghiệp hoá trong thời kì này như
vậy là do ba lý do cơ bản :

Thứ nhất dựa vào lí luận về tái sản xuất mở rộng của C.Mác chỉ ra là
phải có tư liệu sản xuất.
Thứ hai Lênin cho rằng đại công nghiệp cơ khí có khẳ năng cải tạo
đối vối nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, là cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội .
Thứ ba dựa vào việc cho rằng nền đại công nghiệp cơ khí sẽ đảm bảo
sợ phát triển độc lập cho một nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Việc dựa vào những cơ sở trên đây phản ánh được tình hình kinh tế
chính trị xã hội của nước ta ở thời điểm đó (CNXH vừa ra đời, CSVC còn
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
non yếu, lạc hậu, lại bị các thế lực bao vây âm mưu phá hoại công cuộc
CNXH ở miền Bắc, miền Nam vẫn trong tay Mỹ nguỵ) vì vậy đòi hỏi phải
phát triển kinh tế độc lập tự chủ cà vì thế phải đẩy mạnh phát triển công
nghiệp nặng.
Tuy nhiên, việc áp dụng các cơ sở trên đây để đưa ra nội dung của
công nghiệp hoá trong thời kỳ đó chưa thực sự có hiệu quả. CNH là quá
trình lâu dài và phức tạp, mục tiêu xây dựng một nền kinh tế hiện đại với
việc phát triển nền đại công nghiệp mang tính chiến lược. Việc áp dụng nó
là mục tiêu trước mắt ngay khi bắt đầu quá trình CNH ở nước ta là có phần
nóng vội, chủ quan về đường lối. Ở mỗi nước, ở mỗi thời kỳ khác nhau
phải đưa ra được những sách lược phù hợp và đặc biệt ở thời kỳ đầu thì
việc đưa ra được những sách lược đúng đắn càng là một đòi hỏi quan trọng,
vì nó mang tính là định hường từng bước đi của quá trình. Chủ nghĩa Mác
– Lênin đã chỉ ra rằng muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển phải dựa
trên điều kiện vật chất nhất định. Thực tế cho thấy khi thực hiện cơ chế kế
hoạch hoá, tập trung bao cấp, trong thời gian đầu quá trình CNH được đẩy
nhanh bằng nhiều biện pháp nhưng chưa hiệu quả. Việc đưa máy cày ồ ạt
vào đồng ruộng thay thế cho sức kéo của súc vật vừa không thích hợp với
điều kiện bậc thang của nước ta vừa không tận dụng được sức kéo, gây

lãng phí. Hoặc đầu tư xây dựng tràn lan vào nhiều cơ sở nhà máyđể tiến
hành sản xuất các mặt hàng công nghiệp nặng, máy móc trong khi vốn
không có, người lao động chưa có đủ trình độ (LLSX) và quản lý quá trình
sản xuất không khoa học (QHSX) nên các công trình bị kéo dài, đến khi
hoàn thành thì trình độ công nghệ đã trở nên lạc hậu, giá thành sản phẩm
cao trong khi chất lượng thấp, những biểu hiện về một cưộc khủng hoảng
kinh tế – xã hội ở nước ta càng bộc lộ rõ và trầm trọng hơn.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đứng trước tình hình đó Đại hội Đảng lần VI mở ra một bước tiến
mới trong tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta, đại hội đánh giá tổng kết và phê
phán những thiếu sót của quá trình 10 năm xây dựng XHCN, và quyết định
phải đổi mới toàn diện đất nước trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,
đồng thời phải đổi mới cả chính trị, văn hoá và tư tưởng. Đặc biệt Đảng ta
nhấn mạnh đến tư duy lý luận. Đại hội đưa ra những điều kiện cơ bản để
thay đổi một cách toàn diện quá trinh CNH ở nước ta đó là: phải chuyển
nền kinh tế từ cơ chế kế hoach hoá, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trường đinh hướng XHCN. Đây là một quá trình nhìn nhận khách quan
và phù hợp với yêu cầu lúc bấy giờ, việc chuyển đổi cơ chế hoạt động như
vậy tạo ra được tính tích cực của nền kinh tế đất nước: vận động có phát
triển năng động tích cực. Đại hội còn nhấn mạnh phải coi trọng nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, CNH phải hướng vào phát triển nông nghiệp,
chủ yếu là lương thực và thực phẩm, đẩy mạnh hàng tiêu dùng và xuất
khẩu, bước đầu phát triển công nghiệp nặng với quy mô trình độ thích hợp
với khả năng thực tế của đất nước chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển trong
những chặng đường tiếp theo. Phải kết hợp sức mạnh của thời đại và nội
lực trong nước để tranh thủ nguồn lực về vốn, về khoa học công nghệ và
kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển.
Như vậy,đánh giá về đường lối của Đảng ta có thể khẳng định đây là
bước tiến rõ rệt nhất về tư tưởng chỉ đạo. Từ chỗ quan niệm khẳng định

CNH phải ưu tiên phát triển sản xuất công nghiệp nặng, công nghiệp cơ
khí, chế tạo máy móc thì trong đại hội lần này Đảng ta đã nhấn mạnh đến
việc phát triển nông nghiệp. Có thể nói đay là một đánh giá rất đúng đắn về
điều kiện hiện tại của đất nước và tận dụng nhữnh thế mạnh để phát triển
nền kinh tế. Việt Nam có truyền thống sản xuất nông nghiệp, dân đông, tài
nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú thích hợp phát triển nông nghiệp,
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có thế mạnh phát triển hàng tiêu dùng. Do vậy nó đã nhanh chóng đi vào
cuộc sống và làm cho nền sản xuất xã hội có chuyển biến tích cực.
Tới Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng ta chính thức
nêu lên chiến lược CNH mới với nội dung: CNH, HĐH là quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản
lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao.
Đại hội cũng chỉ rõ nội dung của CNH, HĐH những năm trước mắt
là phải tập trung vào nông nghiệp và phát triển nông thôn:
“Nội dung cơ bản của CNH,HĐH trong những năm còn lại của thập
kỷ 90 là: đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát
triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông,
lâm, thuỷ sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu. Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm hạ tầng
kinh tế, trước mắt ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự
phát triển. Xây dựng một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức
cần thiết, có điêù kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng
nhanh và có hiệu quả cao. Mở rộng thương nghiệp, du lịch và dịch vụ. Đẩy
mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại. Hình thành dần một số ngành mũi
nhọn như chế biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí, một

số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin. Phát
triển sự nghiệp GD và ĐT khoa học và công nghệ”.
Có thể nói nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã tập trung nói rõ vế
CNH, HĐH ở nước ta từ mục đích đến cách thức tiến hành từng bước, thứ
tự ưu tiên các ngành trong cơ cấu kinh tế, đến cả việc xác định động lực
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của quá trình CNH, HĐH là như thế nào Do vậy đại hội VIII được gọi là
đại hội mở ra một chặng đường mới đẩy mạnh CNH, HĐH.
Cùng với công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH ở các kỳ đại hội trước,
đại hội IX của Đảng khẳng định: “Từ đại hội VIII của Đảng năm 1996 đất
nước ta đã chuyển sang chặng đường mới đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu
đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp ( ) Con đường CNH, HĐH
ở nứơc ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa
có những bước nhảy vọt, phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng
mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ
thông tin và công nghệ sinh học. Tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn
ở mức cao hơn và phổ biển hơn những thành tựu mới về khoa học và công
nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức, phát huy nguồn trí tuệ và sức
mạnh tinh thần của người Việt Nam ”
Nội dung về CNH, HĐH trình bầy trong văn kiện đại hội VI,
VII,VIII, IX chúng ta nhận thấy sự tiến bộ trong nhận về công nghiệp hoá
cụ thể và đúng đắn hơn.
2.2 MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
2.2.1. Khái quát mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta đã được nêu ra trong những cuội hội thảo gần đây.
Trong quá trình thảo luận, một số nhà khoa học đã chia ra nhiều
quan niệm khác nhau về mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.Trong giới hạn đề tài này tôi xin nêu ý kiến của
mình về một số quan điểm sau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Xã hội quá độ là môt trong những
giai đoạn phát triển của toàn bộ lịch sử phát triển xã hội nói chung. Vì vậy
25

×