Phân ch nh hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
NHÓM : SUN FLOWERS
1. Hoàng Minh Phượng
2. Hoàng Thị Doan
3. Phạm Thu Huyền
4. Nguyễn Thị Thơm
5. Dương Thanh Xuân
6. Nguyễn Thị Thùy Dương
7. Phạm Thị Mai
8. Phùng Thúy Linh
Sun owers page 1
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
LỜI MỞ ĐẦU
Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các
hoạt động quản trị doanh. Tất cả hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp ,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác
động thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình kinh doanh .Do đó để phục vụ cho công tác
quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên
tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp cho phép xử lý các
thông tin kế toán và thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính, rủi ro,
chất lượng hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp đó. Sau khi phân tích, các nhà quản
trị sẽ biết được hoạt động của công ty ra sao, doanh thu, lợi nhuận, các chỉ số thanh toán,
sinh lời… từ đó có biện pháp điều chỉnh công ty. Các cổ đông cũng biết được tỷ lệ chia
cổ tức, tỷ suất lợi nhuận, vốn chủ sở hữu… để có thể ra quyết định đầu tư, góp vốn. Và
các nhà cho vay thấy được khả năng thanh khoản, công ty có khả năng thanh toán nợ hay
không… để đưa ra những quyết định cho vay, gia hạn hay thu hồi vốn
Từ năm 2010 trở lại đây, kinh tế toàn cầu bước vào thời kỳ suy thoái, thời buổi
khó khăn, thị trường chật hẹp và Việt Nam cũng không tránh khỏi giai đoạn suy thoái đó.
Thị trường bất động sản đóng băng, chứng khoán sụt giá trầm trọng, rất nhiều doanh
nghiệp rơi vào tình trạng phá sản. Cùng với đó, chính phủ thực hiện hàng loạt các động
thái rà soát và cắt giảm đầu từ công khiến bao công trình dự án không được tiếp tục thực
hiện. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn tới việc kinh doanh của các nhà máy, doanh nghiệp xi
măng trong nước. Trước tình hình đó, nhóm chúng em tiến hành phân tích tình hình tài
chính của công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 – thành viên chủ lực của tổng công ty xi
măng Việt Nam để phần nào hiểu được tình trạng tài chính trong công ty này, cũng như
các quyết định đầu tư hay thoái vốn của các nhà đầu tư vào xi măng…
Sun owers page 2
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
Chúng em hy vọng rằng với việc phân tích tài chính công ty CP Xi măng Hà Tiên
I trong 3 năm 2011, 2012, 2013 sẽ phần nào giúp mọi người thấy được sự phát triển của
Hà Tiên I cũng như tiềm năng của công ty để đưa ra được những quyết định đúng đắn.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm chúng em không tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý và chỉnh sửa của thầy Nguyễn Tiến
Vinh để bài làm được hoàn chỉnh nhất. chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sun owers page 3
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG HÀ TIÊN I
Công ty Cổ phần Vicem- Hà Tiên 1
360 Bến Chương Dương, Phường Cầu Kho,
Quận 1, TP.HCM
Phone: +84 (8) 383- 68363
Fax: +84 (8) 383- 61278
E-mail:
Web site: />1. Giới thiệu
Công ty cổ phần Xi Măng Hà Tiên 1 là đơn vị chủ lực của Tổng Công Ty Xi
Măng Việt Nam tại Miền Nam. Hà Tiên 1 hiện đang dẫn đầu về thị phần tiêu thụ xi
măng trong khu vực IV với 39%, vượt xa công ty đứng thứ 2 là Công ty Xi măng
Holcim (25%). Xi măng Hà tiên 1 đang chiếm khoảng 8% thị phần thị trường xi
măng cả nước. Hệ thống phân phối của Công ty chủ yếu tập trung tại thị trường khu
vực IV với các kênh phân phối đa dạng, có thể cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu
dùng một cách thuận tiện nhất.
CTCP Xi măng Hà Tiên 1 tiền thân là Nhà máy Xi măng Hà Tiên do hãng
VENOT.PIC của Cộng hòa Pháp cung cấp thiết bị. Năm 1964, Nhà máy chính thức
đưa vào hoạt động với công suất ban đầu là 240,000 tấn clinker/năm tại Kiên
Lương, 280,000 tấn xi măng/năm tại Nhà máy Thủ Đức. Năm 1981, Nhà máy xi
măng Hà Tiên được tách ra thành Nhà máy xi măng Kiên Lương và Nhà máy xi
măng Thủ Đức. Và đến năm 1983, hai Nhà máy được sáp nhập và đổi tên là Nhà
Sun owers page 4
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
máy Liên Hợp xi măng Hà Tiên. Năm 1993, Nhà máy lại tách thành hai công ty là
Nhà máy Xi măng Hà Tiên 2 (Cơ sở sản xuất tại Kiên Lương) với công suất là
1,100,000 tấn clinker/năm và 500,000 tấn xi măng/năm; Nhà máy Xi măng Hà Tiên
1 (cơ sở sản xuất tại Thủ Đức - Tp HCM) với công suất là 800,000 tấn xi măng/năm.
Hiện tại, công suất của nhà máy xi măng Hà Tiên 1 là gần 2 triệu tấn/năm. Ngày
06/02/2007, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 đã chính thức làm lễ công bố chuyển từ
doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo Quyết định số 1774/QĐ-BXD
của Bộ Xây dựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần và chuyển Công ty Xi măng
Hà Tiên 1 thành Công ty cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 và chính thức hoạt động theo
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005941 của Sở Kế hoạch – Đầu tư
Tp.HCM cấp ngày 18/01/2007 với vốn điều lệ ban đầu là 870 tỷ đồng. Ngày
23/01/2011, Công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 (Vicem Hà Tiên) chính thức tiếp
quản Trạm nghiền Xi măng Cam Ranh từ Công ty Cổ phần Xây lắp Đà Nẵng, đơn vị
thành viên của Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam. Địa chỉ: Thôn Hòn Quy
- xã Cam Thịnh Đông - Tp.Cam ranh - Tỉnh Khánh Hòa.
Hiện nay công ty hoạt động trong môi trường sạch và xanh với công suất thiết
kế 7.300.000 tấn xi măng/năm với 2 Nhà máy và 4 Trạm nghiền.
2. Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính
- Sản xuất kinh doanh xi măng và các sản phẩm từ xi măng.
- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, các sản phẩm phục vụ xây
dựng và công nghiệp.
- Kinh doanh xuất, nhập khẩu xi măng và nguyên vật liệu, vật tư thiết bị
phục vụ sản xuất xi măng và các loại vật liệu xây dựng khác.
- Xây dựng và kinh doanh bất động sản.
- Dịch vụ bến cảng, dịch vụ kho bãi, dịch vụ vận chuyển, bốc dỡ, đường bộ,
đường sắt, đường sông.
3.Môi trường kinh doanh và chiến lược kinh doanh
Sun owers page 5
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
3.1. Phân tích môi trường kinh doanh
3.1.1. Môi trường bên ngoài
3.1.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong vài năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chững lại, thị
trường bất động sản đóng băng ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu tiêu thụ xi măng.
Tuy nhiên Việt Nam là một nước đang phát triển, chính phủ đang chú trọng đến việc
phát triển cơ sở hạ tầng vì vậy sẽ tác động đến sự phát triển của ngành xi măng
trong tương lai.
3.1.1.2 Tình trạng cung cầu
Hiện nay toàn ngành xi măng có 46 doanh nghiệp sản xuất, tổng công suất
thiết kế lên đến 68,5 triệu tấn/năm. Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ trong nước liên
tục bị sụt giảm. Năm 2012 toàn ngành công nghiệp xi măng tiêu thụ 53,61 triệu tấn
xi măng và clinker. Trong đó xi măng tiêu thụ nội địa đạt 45,5 triệu tấn giảm 8% so
với năm 2011, xuất khẩu đạt 8,1 triệu tấn clinker và xi măng (trong đó xi măng đạt
1,6 triệu tấn). Như vậy cung đã vượt cầu khá nhiều.
Mặt khác, ngành xây dựng có tính mùa vụ nên tiêu thụ xi măng trong quý 2 và
quý 4 là cao nhất (sau Tết và mùa khô ở miền Nam), vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến
lượng hàng tồn kho và doanh thu của doanh nghiệp xi măng.
Sun owers page 6
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
3.1.1.3 Nguyên liệu đầu vào
Trong cơ cấu giá vốn hàng bán chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng chủ yếu
và là nhân tố quan trọng quyết định lợi nhuận của công ty. Những biến động về giá
nguyên vật liệu sẽ tác động đáng kể đến giá thành và kết quả kinh doanh của công
ty.
Clinker là nguyên liệu chính sản xuất xi măng chiếm đến 80% chi phí nguyên
vật liệu. (Clinker là sản phẩm nung thiêu kết ở 1.450 độ C của đá vôi, đất sét và một
số phụ gia như quặng sắt, boxit, cát…). Các doanh nghiệp xi măng miền Bắc tự chủ
được nguồn nguyên liệu này vì các mỏ đá vôi nguyên liệu để sản xuất clinker tập
trung chủ yếu ở miền Bắc. Các doanh nghiệp xi măng ở miền Trung và miền Nam
phải vận chuyển từ ngoài Bắc vào hoặc nhập khẩu từ Đài Loan, Hàn Quốc nên chi
phí sẽ cao hơn.
Điện chiếm 15-17% giá thành sản xuất ngành xi măng. Việc giá điện tăng
thêm 5% từ ngày 1/8/2013 đã làm giá thành sản xuất mỗi tấn xi măng tăng từ
8.000-10.000 đồng, các doanh nghiệp xi măng càng thêm khó khăn.
3.1.1.4 Lãi suất
Đặc điểm ngành xi măng cần đầu tư vốn rất lớn để xây dựng nhà máy sản xuất
xi măng, nên hầu hết các doanh nghiệp xi măng đều có nợ khá cao. Tỷ lệ nợ trung
bình ngành là 79%, rủi ro rín dụng lớn. Hiện nay lãi suất đang trong xu hướng
giảm, lãi suất cho vay doanh nghiệp xoay quanh 10-13% giúp doanh nghiệp xi
măng giảm được một khoản chi phí tài chính khá lớn so với năm 2012.
Sun owers page 7
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
3.1.1.5 Diễn biến giá
Hiện nay các nhà máy xi măng phân bố không đều giữa các khu vực. Hầu hết
các nhà máy tập trung nhiều tại miền Bắc nơi có vùng nguyên liệu đầu vào lớn,
trong khi đó các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Do đó, nguồn cung xi măng ở
phía Bắc thì dư thừa trong khi miền Nam lại thiếu hụt. Chi phí vận chuyển lại rất
lớn, vì vậy giá xi măng ở miền Nam bao giờ cũng cao hơn giá xi măng ở miền Bắc
10-15%. Hiện giá bán lẻ xi măng trên thị trường tiếp tục ổn định, dao động ở mức
1,3-1,5 triệu đồng/tấn tại các tỉnh phía Bắc và từ 1,6-1,8 triệu đồng/tấn phía Nam.
3.1.1.6 Trình độ công nghệ
Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp, Trung
Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng. Hiện nay với các dự án
dây chuyền, nhà máy xi măng lớn sẽ thay thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất
được tăng lên gấp nhiều lần. Chủ trương của chính phủ đến năm 2015 chấm dứt
hoạt động của tất cả hệ thống xi măng lò đứng và chuyển sang xi măng lò quay và
đến năm 2015 tất cả các nhà máy phải tự túc ít nhất 20% năng lượng điện từ việc
tận dụng nguồn nhiệt khí thải thừa.
3.1.2. Môi trường ngành sản xuất xi măng
3.1.2.1 Cạnh tranh giữa các hãng hiện tại
Mức độ tập trung và sự cân bằng giữa các đối thủ cạnh tranh
Hiện nay có 46 doanh nghiệp sản xuất xi măng, xét về cơ cấu sở hữu thì các
doanh nghiệp chủ chốt đều nằm trong Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam
– Vicem, trong đó có 9 doanh nghiệp trong nước (Hà Tiên I là đơn vị chủ lực của
Tổng công ty tại miền Nam) và 3 doanh nghiệp liên doanh liên kết với Vicem. Ngoài
ra còn có các công ty liên doanh khác và các doanh nghiệp xi măng vừa và nhỏ.
Vai trò chi phối thị trường chủ yếu nằm ở Vicem và vì thế thị trường xi măng
phần nào vẫn chịu sự điều tiết của Nhà nước là cổ đông chiếm đa số. Bên cạnh đó
Nhà nước điều tiết lượng xi măng nhập khẩu thông qua chính sách thuế. Do vậy
mức độ cạnh tranh trong ngành xi măng còn ở mức thấp so với các ngành khác.
Sun owers page 8
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
Tuy nhiên cạnh tranh trong ngành xi măng đang gia tăng do nhu cầu xi măng
đã đươc đáp ứng đủ và bắt đầu dư thừa. Các doanh nghiệp từ việc chỉ tập trung thị
trường nội địa sẽ phải hướng đến xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng ngành xi măng
Ngành xi măng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ từ năm 1991 đến nay. Sau 19
năm tổng công suất thiết kế đã tăng gấp 13 lần và Việt Nam trở thành nước đứng
đầu ASEAN về sản lượng xi măng. Tổng công suất thiết kế của các nhà máy xi măng
Việt Nam là 68,5 triệu tấn/năm, trong đó 11 công ty xi măng lớn nhất chiếm hơn
50%. Hà Tiên I có công suất thiết kế lớn nhất với 7,3 triệu tấn/năm.
Hiện nay, cung đã vượt cầu, cạnh tranh trong ngành xi măng trở nên gay gắt hơn.
Ngành xi măng đối mặt với nhiều khó khăn, hàng loạt nhà máy xi măng bên bờ vực
phá sản như xi măng Đồng Bành, xi măng Thăng Long…Tuy nhiên hiện nay nhiều
giải pháp tháo gỡ đã được áp dụng. Năm 2013-2014 tăng trưởng ngành xi măng
được kỳ vọng sẽ có nhiều khởi sắc nhờ việc đẩy mạnh xuất khẩu và nghiên cứu tiến
hành làm đường bê-tông xi măng. Chính sách đầu tư công vào cơ sở hạ tầng của
chính phủ trong năm 2013-2014 cũng sẽ mang lại tăng trưởng cho ngành.
Thị phần ngành xi măng
Hiện nay trên thị trường xi măng Việt Nam, các doanh nghiệp thuộc Tổng công
ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) và các doanh nghiệp liên doanh liên kết
chiếm hơn 2/3 thị phần. Tính đến quý 1/2013 Vicem chiếm 36% thị phần cả nước,
Sun owers page 9
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
các doanh nghiệp liên doanh chiếm 31% và các doanh nghiệp xi măng khác chiếm
33 %.
Xi măng Hà Tiên I phân phối xi măng từ Quảng Ngãi đến Cà Mau và đang giữ
vị trí thị phần cao nhất 26,8% tại thị trường phía Nam, tiếp đến là Holcim, Nghi
Sơn, Fico lần lượt 23,8%, 21%, 22,4%. Trên thị trường cả nước, Hà Tiên I là một
trong những doanh nghiệp có sản lượng tiêu thụ cao nhất với 8,2% thị phần.
Thị phần xi măng tại thị trường phía Nam năm 2013
3.1.2.2 Nguy cơ từ người mới gia nhập ngành
Hiện nay ngành xi măng đang trong khủng hoảng thừa với tốc độ tăng trưởng
suy giảm. Bên cạnh đó yêu cầu vốn đầu tư lớn (trung bình một dự án nhà máy xi
măng khoảng 2 triệu USD). Rất nhiều dự án xây dựng nhà máy xi măng của nhà
nước đã phải hoãn hoặc cơ cấu lại vì khó khăn. Những nhà đầu tư trong nước
nguồn vốn tự có yếu, ngại rủi ro nên ngành xi măng đã giảm sự hấp dẫn đối với họ.
Còn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong cơn khủng hoảng của ngành xi măng
họ giữ chiến lược đợi nhìn các doanh nghiệp trong nước phá sản rồi mua lại với giá
thấp nhằm tăng quy mô và chiếm thị phần. Điều này không chỉ gây khó khăn cho
các doanh nghiệp trong nước mà còn ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng và tài
nguyên quốc gia. Vì vậy Nhà nước giữ chính sách hạn chế với vốn đầu tư nước
ngoài vào lĩnh vực này.
Sun owers page 10
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
3.1.2.3 Sự đe dọa từ sản phẩm thay thế
Xi măng Hà Tiên 1 là một thương hiệu mạnh dẫn đầu thị trường miền Nam
với 26,8% thị phần. Tuy cạnh tranh trong ngành xi măng ngày càng tăng nhưng vị
trí của xi măng Hà Tiên 1 vẫn duy trì tương đối ổn định nhờ hướng tới đối tượng
khách hàng tiêu dùng trong dân cư là chủ yếu. Điều này không giống với phần lớn
các doanh nghiệp xi măng khác tại miền Nam thường tập trung vào phân khúc
công trình dân dụng và công nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng khó khăn về
đầu ra, đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng. Việc các hãng
mới tham gia vào phân khúc bán lẻ sẽ tốn nhiều thời gian để xây dựng thương hiệu
do thói quen của người tiêu dùng thường lựa chọn chủng loại xi măng uy tín mà
không quan tâm tới giá cả hay chất lượng, trong khi phân khúc dự án hay công
trình thì giá cả, sự phục vụ, chất lượng luôn đặt lên hàng đầu. Ngoài Hà Tiên I hiện
còn có Holcim cũng đang cạnh tranh trong phân khúc bán lẻ, các hãng xi măng địa
phương hoặc ngoài Bắc vào hoàn toàn không có lợi thế cạnh tranh trong phân khúc
này. Vì thế nguy cơ bị thay thế của xi măng Hà Tiên 1 tương đối thấp.
3.1.2.4 Sức mạnh đàm phán của nhà cung cấp
Đặc thù của nhà máy xi măng phải đặt gần nguồn nguyên liệu đá vôi để tạo
thành quy trình sản xuất khép kín, giúp giảm thiểu chi phí. Trong khi đó đá vôi chỉ
có nhiều ở miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh cực Nam Tổ quốc. Doanh nghiệp xi
măng miền Nam phải mua nguyên liệu ở miền Bắc hoặc nhập khẩu, đẩy giá thành
lên rất cao.
Hiện nay Hà Tiên I đã chủ động được 2 nguồn nguyên liệu chính là đá vôi và
clinker. Hà Tiên I sở hữu mỏ đá vôi (trữ lượng khoảng 140 triệu tấn) và đất sét
(khoảng 40 triệu tấn) tại Kiên Giang, có thể cung cấp đủ cho hoạt động ổn định
trong 30 năm. Nhà máy xi măng Bình Phước đi vào hoạt động đáp ứng 100% nhu
cầu clinker cho 2 nhà máy chính, giúp cho Hà Tiên I giảm bớt sự phụ thuộc vào
clinker từ bên ngoài, giá thành rẻ hơn clinker nhập khẩu 15-20%.
Sun owers page 11
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
3.1.2.5 Sức mạnh đàm phán của người mua
Giá bán của xi măng Hà Tiên I không cao hơn nhiều so với sản phẩm xi măng
cùng loại khác. Hệ thống phân phối rộng khắp các tỉnh từ Quảng Ngãi cho tới Cà
Mau với số lượng đại lý lớn, phân bổ đồng đều nên giá bán được xác định tại nhà
máy chứ không phải đến tận chân công trình. Thêm nữa là chính sách khuyến mãi
lớn dành cho các đại lý khiến cho giá bán lẻ xi măng luôn ở mức cạnh tranh so với
các sản phẩm cùng loại. Bên cạnh đó thương hiệu và uy tín của xi măng Hà Tiên
luôn được người tiêu dùng đánh giá cao thể hiện ở thị phần cao và ổn định.
3.2. Chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần xi măng Hà Tiên I trong năm
2013
Trước tình hình kinh tế còn khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng và
nhu cầu tiêu thụ xi măng trong nước suy giảm, cung dư thừa trong khi các doanh
nghiệp xi măng do đặc điểm sản xuất của ngành không thể dừng lò bởi có thể sẽ
phải chịu tổn thất rất lớn. Vì thế hàng tồn kho xi măng là một vấn đề nan giải. Công
ty Hà Tiên I cũng như các doanh nghiệp xi măng khác đang hướng đến thị trường
xuất khẩu như một biện pháp giúp tháo gỡ khó khăn trong ngắn hạn. Tuy nhiên
giải pháp này cần được xem xét cẩn thận bởi những nguy cơ về môi trường và sự
phát triển bền vững. Chiến lược phát triển lâu dài của Hà Tiên I vẫn dựa trên sự cải
Sun owers page 12
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
tiến công nghệ, trang thiết bị nhằm nâng cao công suất, giảm hao phí, tiết kiệm
năng lượng và an toàn hơn với môi trường.
Mục tiêu sản xuất kinh doanh năm 2013 được Đại hội đồng cổ đông thông
qua :
Mục tiêu sản lượng tiêu thụ
TT Nội dung Đvt
Mục tiêu
năm
2013
Tăng trưởng
sản lượng tiêu
thụ (%)
1
Tiêu thụ xi
măng
Tấn 4,850,000 16.58
Trong
nước
Tấn 4,550,000 14.23
Xuất khẩu Tấn 300,000 68.82
2 Clinker Tấn 500,000
3
Cát tiêu
chuẩn
Kg 165,000
4 Gạch Viên 1,000,000
5 Vữa Tấn 40,000
Mục tiêu tài chính
TT Chỉ tiêu Mục tiêu năm 2013
1 Doanh thu thuần 6,884.6
2 Chi phí tài chính 998.9
3 Chi phí khấu hao 621.5
4
Lợi nhuận trước
thuế
1.07
Sun owers page 13
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
II. Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần xi
măng Hà Tiên 1
2.1 Phân tích báo cáo KQHĐKD của công ty cổ phần xi măng Hà Tiên I
Xi măng là một loại vật liệu xây dựng cơ bản và thông dụng nhất được sử
dụng rộng rãi trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. giáo
dục, quốc phòng… Tất cả các ngành nghề đều cần tới xi măng và sự phát triển của
ngành xi măng kéo theo nhiều ngành nghề sản xuất khác phát triển như xây lắp,
sản xuất thiết bị phụ tùng, bê tông, bao bì và các dịch vụ tư vấn khảo sát thiết kế,
thăm dò. Ngành xi măng Việt Nam đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng GDP. Bới vai trò quan trọng như vậy, ngành xi măng Việt Nam hiện nay vẫn
được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước và xi măng luôn là một hàng hóa nằm
trong danh mục bình ổn giá của Chính phủ. Với nhiệm vụ bình ổn thị trường về giá
và nguồn cung, góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, từ năm 2007
đến nay, giá xi măng không có biến động lớn.
2.1.1 Phân tích khái quát báo cáo khuynh hướng
Sun owers page 14
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
Nhìn vào chỉ tiêu DTT từ bán hàng
và cung cấp dịch vụ có thể thấy DTT
có xu hướng đi lên đều đặn trong
giai giai đoạn 2007 – 2009 với tốc
độ vừa phải. Từ 2010 DTT đột ngột
tăng nhanh. Đây là kết quả từ việc
sáp nhập công ty Hà Tiên II vào
công ty Hà Tiên I cuối năm 2009,
nâng công suất của công ty Hà Tiên
I lên gấp đôi, đồng thời giai đoạn
2007 – 2010 là giai đoạn phát triển
của
thị trường bất động sản và ngành sản xuất xi măng. Tốc độ tăng DTT chậm lại từ
cuối năm 2011 cho tới 2013 do ảnh hưởng từ sự suy yếu của thị trường bất động
sản. Tuy nhiên như đã trình bày ở phần phân tích môi trường ngành, Hà Tiên I tập
trung vào đối tượng khách hàng dân cư hơn là công trình dân dụng và công nghiệp
nên không chịu tác động mạnh như những doanh nghiệp khác và DTT vẫn tăng nhẹ.
Giá vốn hàng bán (GVHB) có cùng một
xu hướng thay đổi với DTT và tốc độ
tăng của GVHB luôn ở mức thấp hơn so
với DTT. Điều này cho thấy công ty đã
kiểm soát tương đối tốt GVHB. Khi nhìn
vào tỷ lệ GVHB trong DTT giai đoạn
2007-2011 tuy có biến động nhưng ta
thấy rõ xu hướng giảm. Từ cuối 2011
đến nay tỷ lệ GVHB có chiều hướng gia
tăng. Nguyên
Sun owers page 15
Phân tích tình hình tài chính của CTCP xi măng Hà Tiên I
nhân quan trọng là do chi phí đầu vào: nguyên liệu, điện, than, xăng dầu… đều tăng
trong khi giá bán xi măng không theo kịp do chịu tác động bình ổn giá.
Những nguyên nhân này cũng giải
thích vì sao tỷ lệ lợi nhuận gộp trên
DTT của công ty Hà Tiên I năm 2012 –
2013 bị suy giảm, trong khi giai đoạn
2007 – 2011 công ty đạt mức tăng
trưởng lợi nhuận tương đối tốt với tốc
độ cao hơn DTT và GVHB, đặc biệt là
giai đoạn 2010 – 2011.
Sun owers page 16
Một chỉ tiêu rất đáng chú ý trong báo cáo khuynh hướng của công ty Hà Tiên
I là chỉ tiêu chi phí tài chính, trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu chi phí lãi vay.
Trong vòng 7 năm từ 2007 tới 2013, chi phí lãi vay đã tăng xấp xỉ 43 lần, từ 18,1 tỷ
lên đến 773,2 tỷ đồng. Đây là hệ quả
của việc Hà Tiên I đã đi vay nợ quá
nhiều. Tính đến hết năm 2013 Hà
Tiên I có số dư nợ lớn nhất trong số
các công ty xi măng niêm yết với
9.923 tỷ đồng trong đó khoảng 5.725
tỷ đồng là vay nợ dài hạn để tài trợ
cho các dự án lớn như Dự án Trạm
nghiền Long An, Dự án Hà Tiên 2.2,
Dự án nhà máy xi măng Bình Phước.
Năm 2013 lợi nhuận gộp của công ty
là 1.429 tỷ đồng nhưng chi phí lãi vay chiếm tới 54%. Đây là bất cập lớn của Hà
Tiên I bởi sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng khiến cho áp lực
trả nợ dồn dập, đe dọa tới sự an toàn tài chính của công ty. Một điểm khác cần lưu
ý với các khoản vay nợ của Hà Tiên I là khoản vay tài trợ cho dự án Hà Tiên 2.2
hoàn thành cuối năm 2012 có giá trị giải ngân 2.400 tỷ đồng. Đây là khoản vay sẽ
được vốn hóa vào giá trị đầu tư của dự án, do vậy là nhân tố làm tăng chi phí khấu
hao cho các năm tiếp theo.
Một yếu tố nữa có ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí tài chính là lỗ chênh lệch
tỷ giá. Trong tổng số nợ dài hạn của công ty có tới gần 50% là khoản vay ngân
hàng nước ngoài bằng đồng Euro.
2.1.2. Phân tích báo cáo dạng so sánh ngang và dọc giai đoạn 2012 - 2013
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dạng so sánh ngang và dọc
Đơn vị: Đồng
Chỉ tiêu 2013 2012
Chênh lệch Tỷ trọng (%)
Tuyệt đối
Tương
đối
(%)
201
3
201
2
1. Doanh thu
bán hàng và
CCDV
6,624,722,28
8,099
6,232,465,391,
158
392,256,89
6,941
6.29
2. Các khoản
giảm trừ doanh
thu
255,974,367,
462
408,560,037,4
30
-
152,585,66
9,968
-37.35
3. DTT về bán
hàng và CCDV
6,368,747,92
0,637
5,823,905,353,
728
544,842,56
6,909
9.36
100.
00
100.
00
4. Giá vốn hàng
bán
4,939,131,64
9,339
4,474,103,688,
498
465,027,96
0,841
10.39
77.5
5
76.8
2
5. LN gộp về bán
hàng và CCDV
1,429,616,27
1,298
1,349,801,665,
230
79,814,606,
068
5.91
22.4
5
23.1
8
6. Doanh thu
hoạt động tài
chính
21,228,523,5
36
70,869,473,78
9
-
49,640,950,
253
-70.05
0.3
3
1.22
7. Chi phí tài
chính
Trong đó: Chi
phí lãi vay
1,040,112,46
5,036
925,658,088,1
25
114,454,37
6,911
12.36
16.3
3
15.
89
773,274,128,
052
821,655,879,5
87
-
48,381,751,
535
-5.89
12.1
4
14.1
1
8. Chi phí bán
hang
302,214,810,
490
392,759,999,8
39
-
90,545,189,
349
-23.05 4.75 6.74
9. Chi phí quản
lý doanh nghiệp
113,425,925,
017
108,565,587,6
28
4,860,337,3
89
4.48 1.78 1.86
10. Lỗ thuần từ
HĐKD
-
4,908,432,70
9
-6,312,536,573
1,404,103,8
64
22.24
11. Thu nhập
khác
15,187,507,2
04
14,384,763,94
1
802,743,26
3
5.58
12. Chi phí khác 4,898,903,16
7
6,415,097,535 -
1,516,194,3
-23.63
68
13. Lợi nhuận
khác
10,288,604,0
37
7,969,666,406
2,318,937,6
31
29.10
14. Tổng lợi
nhuận trước
thuế
5,380,171,32
8
1,657,129,833
3,723,041,4
95
224.67 0.08 0.03
15. Chi phí thuế
TNDN hiện hành
2,849,094,27
0
1,363,520,047
1,485,574,2
23
108.95
16. Chi phí thuế
TNDN hoãn lại
8,941,181,595
-
8,941,181,5
95
-
100.00
17. Lợi nhuận
sau thuế
2,531,077,05
8
9,234,791,381
-
6,703,714,3
23
-72.59 0.04 0.16
18. Lãi cơ bản
trên một cổ
phiếu
13 47 -34 -72.34
2.1.3 Phân tích doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Công ty Hà Tiên I đăng ký ngành nghề kinh doanh gồm có: sản xuất, mua bán
xi măng, các sản phẩm từ xi măng, thạch cao, vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vữa xây
tô, bê tông), clinker, nguyên vật liệu, vật tư ngành xây dựng; xây dựng dân dụng;
kinh doanh bất động sản (cao ốc văn phòng cho thuê); khai thác đá, cát, sỏi, đất
sét… Trong cơ cấu doanh thu của Hà Tiên I, sản xuất kinh doanh xi măng và clinker
đóng vai trò chủ yếu, phần còn lại đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh khác chiếm
tỷ trọng không đáng kể. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây tỷ trọng doanh thu từ các
hoạt động khác đang có xu hướng gia tăng do tình hình kinh doanh xi măng trở nên
khó khăn hơn và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng.
Tổng doanh thu của Hà Tiên I năm 2013 tăng 6,29% so với năm 2012, đồng thời
các khoản giảm trừ doanh thu mà trong đó chỉ có chiết khấu thương mại dành cho
khách hàng giảm 37,35%, kết quả là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch
vụ của Hà Tiên I năm 2013 tăng 9,36% so với năm 2012. Doanh thu từ xi măng và
clinker tăng 9,02% và đóng góp 97,2% trong cơ cấu doanh thu của Hà Tiên I. Các
hoạt động khác tuy chỉ chiếm 2,8% doanh thu thuần nhưng đã tăng 22,39% so với
năm 2012.
Doanh thu thuần của công ty Hà Tiên I
Đơn vị: đồng
2013 2012
%
tăng/
giảm
DTT từ bán hàng 6,368,747,92 5,823,905,35 9.36
và CCDV 0,637 3,728
Xi măng, clinker
6,191,769,423,
554
5,679,297,585,
205
9.02
Vữa xi măng, gạch,
cát ISO và khác
176,978,497,08
3
144,607,768,52
3
22.39
Cơ cấu doanh thu thuần thay đổi không đáng kể trong 2 năm 2012 - 2013 nên vấn
đề cơ cấu nhóm hàng kinh doanh không ảnh hưởng tới sự biến động của doanh thu
thuần. Mặt khác, sự tăng trưởng doanh thu thuần của Hà Tiên I chịu sự tác động
của 2 yếu tố là giá cả và sản lượng. Xi măng và clinker chiếm tỷ trọng lớn trong cơ
cấu doanh thu thuần nên ta tập trung phân tích các yếu tố giá cả và sản lượng tiêu
thụ của mặt hàng này. Mối quan hệ giữa chỉ tiêu doanh thu thuần từ xi măng và
clinker với các nhân tố giá cả và sản lượng được biểu diễn theo phương pháp chỉ số
như sau:
I
R
= I
q
× I
p
Trong đó: I
R
là chỉ số phản ánh sự thay đổi của doanh thu thuần về xi măng và
clinker
I
q
là chỉ số phản ánh biến động của số lượng xi măng và clinker tiêu thụ
I
p
là chỉ số phản ánh sự thay đổi của của giá cả xi măng và clinker
Theo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2013 được đưa ra tại Đại hội cổ
đông 2014, kết quả tiêu thụ của công ty Hà Tiên I trong năm 2013 như sau:
Với số liệu trên, số lượng xi măng và clinker tiêu thụ tăng 17% so với năm 2012,
doanh thu thuần về xi măng và clinker tăng 9,02%, như vậy I
q
= 1,17 và I
R
= 1,0902.
1,0902 = 1,17 × I
p
I
p
= 0,932
Như vậy, giá cả xi măng và clinker giảm 6,8% năm 2013 so với năm 2012. Kết quả
này cho thấy rằng do tác động từ 2 yếu tố: sự tăng lên 17% của sản lượng xi măng
và clinker tiêu thụ, đồng thời giá cả giảm 6,8% nên doanh thu thuần về xi măng và
clinker năm 2013 tăng 9,02% so với năm 2012.
Nguyên nhân tăng sản lượng tiêu thụ
Sản lượng tiêu thụ tăng lên 17% là một thành quả tích cực của Hà Tiên I tuy
rằng trong điều kiện tiêu thụ khó khăn do cung vượt cầu đã khiến cho công ty phải
hạ giá bán 6,8% để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, chiết khấu
thương mại giảm 37,35%, chi phí bán hàng giảm 23,05% so với năm 2012 có thể
thấy sự tăng trưởng của sản lượng không đến từ việc cải thiện chính sách bán hàng
của công ty bằng tăng đầu tư vốn. Như vậy, năm 2013 Hà Tiên I có tình hình tiêu
thụ tốt là nhờ những tiến bộ trong hoạt động sản xuất, nâng cấp mẫu mã, chất
lượng, đa dạng hóa sản phẩm để phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng và khâu
tiêu thụ sản phẩm được cải tiến trở nên hiệu quả hơn.
Một nguyên nhân nữa làm tăng sản lượng tiêu thụ của công ty đến từ việc mở
rộng thị trường và thị phần. Năm 2013, Hà Tiên I tiếp tục dẫn đầu thị phần tại thị
trường miền Nam với 26,8%, tăng 0,24% so với năm 2012. Thị trường xuất khẩu
được mở rộng, sản lượng xi măng xuất khẩu tăng 14%. Xuất khẩu là chiến lược
ngắn hạn của công ty trước tình hình tiêu thụ trong nước khó khăn hiện nay.
2.1.4. Phân tích giá vốn hàng bán
Cơ cấu giá vốn hàng bán có sự đóng góp chủ yếu của xi măng và clinker với
96,52% năm 2013, chỉ giảm 0,3 % so với năm 2012, các sản phẩm khác như vữa,
gạch, cát ISO… chiếm phần trăm không đáng kể.
Giá vốn hàng bán của công ty Hà Tiên I
Đơn vị: Đồng
2013 2012 %
tăng/
giảm
Giá vốn hàng
bán
4,939,131,64
9,339
4,474,103,68
8,498 10.39
Xi măng, clinker
4,767,277,271,
293
4,331,701,689,
769 10.06
Vữa xi măng,
gạch, cát ISO và
khác
171,854,378,04
6
142,401,998,72
9 20.68
Tổng giá vốn hàng bán của công ty năm 2013 đã tăng 10,39%, tiếp diễn đà đi lên từ
năm 2012. Tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần cũng tăng từ 76,82%
năm 2012 lên 77,55% năm 2013. Nguyên nhân của việc tăng giá vốn hàng bán mà
chủ yếu của xi măng và clinker là do sự tăng giá các yếu tố đầu vào: nguyên vật liệu,
điện, xăng dầu.
Trong số các nguyên vật liệu dùng để sản xuất xi măng, clinker và đá vôi là thành
phần chính. Công ty Hà Tiên I đã chủ động được nguồn cung cấp 2 nguyên liệu này,
nên sự biến động giá nguyên vật liệu không ảnh hưởng nhiều tới sản xuất kinh
doanh của công ty. Trong khi đó, điện chiếm khoảng 16% và xăng dầu chiếm
khoảng 14% giá thành sản xuất xi măng lại tăng giá và gây ảnh hưởng tới giá vốn
hàng bán của công ty. Năm 2013, giá xăng dầu có nhiều biến động và tới cuối năm
đã tăng 2,18% so với đầu năm, giá điện tăng 2 lần 5% (vào tháng 1 và tháng 8), so
với năm 2012 đã tăng 10,25%.
Tác động từ giá điện và giá xăng dầu tăng có thể làm sai lệch những đánh giá
về công tác quản lý giá vốn thực tế của công ty, vì thế cần loại bỏ các tác động này
ra khỏi giá vốn hàng bán. Giá vốn hàng bán về xi măng và clinker của công ty sau
khi loại bỏ yếu tố giá điện và xăng dầu tăng được tính theo công thức:
GVHB
2013
= 70% × GVHB + 16% × + 14% ×
GVHB
2013
= 4,682 tỷ đồng
Sau khi loại bỏ tác động tăng giá điện và xăng, giá vốn hàng bán của xi măng và
clinker thực tế là 4,682 tỷ đồng, so với năm 2012 tăng 8,1% (khi chưa điều chỉnh là
10,06%). Trong khi đó sản lượng xi măng và clinker tiêu thụ tăng 17%, doanh thu
thuần từ bán xi măng và clinker tăng 9,02%. Ta thấy giá vốn hàng bán dù tăng lên
nhưng tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ và doanh thu thuần, có
thể nói công tác quản lý giá vốn hàng bán về xi măng và clinker của công ty đã được
cải thiện trong năm 2013. Mặt khác, nhìn vào tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh
thu thuần, năm 2013 là 76,23% giảm nhẹ so với mức 76,27% năm 2012, điều này
cho thấy tính hợp lý và ổn định trong sự tăng lên của giá vốn bởi nó tương ứng với
sự gia tăng doanh thu thuần. Năm 2013, công ty đã quản lý giá vốn một cách hợp lý
và có phần hiệu quả hơn so với năm 2012.
Nguyên nhân hiệu quả quản lý giá vốn tăng
Năm 2013 một số dự án lớn của công ty đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Các công trình này được sử dụng công nghệ mới hiện đại, giúp nâng cao năng suất,
tiết kiệm năng lượng và vì thế hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên hiệu quả hơn.
2.1.5. Phân tích chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng năm 2013 giảm 23,05% trong khi sản lượng tiêu thu tăng
17%, tỷ trọng chi phí bán hàng trong doanh thu thuần giảm từ 6,74% xuống còn
4,75%. Đây là một biểu hiện tốt trong việc quản lý chi phí bán hàng của doanh
nghiệp. Kết quả này có được nhờ hệ thống phân phối của công ty đã phát huy hiệu
quả. Hà Tiên I có số lượng đại lý phân phối rộng khắp các tỉnh từ Quảng Ngãi cho
tới Cà Mau, trong đó nhiều nhất là ở Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ. Khu vực Nam
Trung Bộ và Tây Nguyên số lượng đại lý còn chưa nhiều nhưng lại có sự cạnh tranh
lớn từ các hãng khác ở miền Bắc và miền Nam, Hà Tiên muốn tiêu thụ xi măng ở
khu vực này phải tốn nhiều chi phí vận chuyển. Từ khi trạm nghiền Cam Ranh đi vào
hoạt động năm 2012 đã tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, giảm tối đa chi
phí vận chuyển và phục vụ khách hàng tốt hơn. Bên cạnh đó, thị phần trong nước
tăng lên, thương hiệu xi măng Hà Tiên I đã có chỗ đứng vững trong lòng khách
hàng, đồng thời thị trường xuất khẩu được mở rộng, điều này giúp sản lượng tăng
trưởng trong khi chi phí bán hàng (quảng cáo, khuyến mãi, chi phí khấu hao TSCĐ
dùng cho việc bán hàng…) được giảm bớt.
Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng
4,48%, mức tăng vẫn thấp hơn mức tăng
sản lượng và doanh thu thuần, đồng thời
tỷ trọng trong doanh thu thuần giảm từ
1,86% xuống 1,78%. Kết quả này cho
thấy công ty vẫn duy trì bộ máy quản lý
hoạt động ổn định và hiệu quả. Nhìn vào
đồ thị có thể thấy xu hướng trong tương
lai hoạt động QLDN, hoạt động bán hàng
sẽ còn tiếp tục được cải thiện.
2.1.6 Phân tích lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Năm 2013 là năm thứ 2 liên tiếp công ty có lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh.
Hai nguyên nhân chính khiến kết quả kinh doanh của công ty suy giảm là sự tăng
mạnh của chi phí tài chính (114 tỷ đồng, tương đương 12,36%); đồng thời doanh
thu từ hoạt động tài chính giảm đáng kể (70,05%) so với năm 2012.
Trong doanh thu hoạt động tài chính khoản giảm nhiều nhất là lãi tiền gửi và
lãi chênh lệch tỷ giá (giảm 95,3%). Điều này do sự biến động khách quan của lãi
suất và tỷ giá trong năm 2013. Tiền gửi ngân hàng của công ty cuối năm 2013 tăng
lên so với đầu năm, trong khi lãi suất tiền gửi giảm từ 12% năm 2012 xuống còn
7% năm 2013 đã làm giảm thu nhập từ lãi tiền gửi của công ty.
Chi phí hoạt động tài chính tăng so với năm 2012 chủ yếu là do lỗ chênh lệch tỷ
giá hối đoái (tăng 148%). Công ty có 50% số nợ dài hạn đi vay bằng đồng Euro.
Năm 2013 đồng Euro lên giá so với đồng USD, trong khi tỷ giá USD/VND trong
nước cũng tăng nhẹ đã tạo gánh nặng lên chi phí tài chính của công ty.