- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu:
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẵn sàng hợp tác kinh
doanh bình đẳng, hữu nghị cùng có lợi với các quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp
Việt Nam ngày càng nâng cao được vị thế, uy tín của mình trên trường quốc tế. Một
trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của đất nước ta
trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cơ sở vật chất kỹ thuật. Với chức năng,
nhiệm vụ tạo ra cơ sở hạ tầng và tài sản cố định cho các ngành kinh tế cũng như cho
toàn xã hội, ngành xây dựng đã và đang khẳng định được vị trí hàng đầu trong nền
kinh tế quốc dân. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và công tác kế toán,
tài chính nói chung, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp nói riêng giữ vai trò trung tâm giúp các doanh nghiệp xây lắp nhanh chóng đạt
được mục tiêu của mình.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh
nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Cạnh tranh để tồn tại là vấn đề sống còn của
doanh nghiệp. Do đó việc tính đúng, tính đủ quản lý chi phí sản xuất là nội dung quan
trọng hàng đầu trong doanh nghiệp để đạt được mục tiêu tiết kiệm và tăng cường lợi
nhuận. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách khoa học sẽ
cung cấp những điều kiện cần thiết cho việc khai thác động viên mọi khả năng tiềm
tàng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những thông tin về chi phí
và giá thành không những quan trọng với các nhà quản lý mà còn có ý nghĩa đối với
nhà nước, các nhà đầu tư…Xuất phát từ những đòi hỏi đó đồng thời qua thời gian thực
tập tại Công ty TNHH 1 thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu khí , được
tiếp cận với thực tế công tác kế toán tại đơn vị, em nhận thấy được tầm quan trọng của
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm em đã quyết định lựa
chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty TNHH 1 thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu
khí”.
- 2 -
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu đặt ra đối với đề tài là phân tích việc hạch toán chi phí sản xuất, tính giá
thành sản phẩm, từ đó đề ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất tại
Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài tại phòng Kế toán Công ty TNHH 1
thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu khí.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Tổng hợp số liệu thu thập được trong quá trình thực tập tại Công ty.
5. Bố cục của đề tài nghiên cứu:
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì báo cáo này được trình bày
theo 3 chương như sau:
Chương 1:Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và tổ chức công
tác kế toán tại Công ty TNHH 1 thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng
dầu khí
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty TNHH 1 thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu
khí
Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty TNHH 1 thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu
khí.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng do thời gian cùng vốn kiến thức còn hạn
chế nên việc hoàn thành đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo và các cán bộ phòng Kế
toán công ty để em có điều kiện bổ sung, nâng cao vốn kiến thức của mình nhằm phục
vụ tốt hơn cho công tác thực tế sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
- 3 -
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ SẢN XUẤT KINH DOANH
VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH
1 THÀNH VIÊN XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VÀ DÂN
DỤNG DẦU KHÍ
1.1. Tình hình tổ chức công tác quản lý sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH 1
thành viên xây dựng công nghiệp và dân dụng dầu khí:
1.1.1, Lịch sử hình thành và phát triển :
Tên đầy đủ: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Xây Dựng Công
Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí
Tên giao dịch tiếng Việt: Công ty Xây Dựng Công Nghiệp và Dân Dụng
Dầu Khí.
Tên giao dịch quốc tế: PV Industrial & Civil of Building Co., LTD
Tên viết tắt tiếng Anh: PICC Co.,LTD
Trụ sở: 35D Đường 30/4, Phường 9, TP Vũng Tàu,Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Điện Thoại: 064.3834784
Fax: 064.3839925
Giấy phép đăng ký kinh doanh: Số 4904000226 ngày 28 tháng 1 năm
2007
Mã số thuế: 3500.832.971
Tài khoản số: 7601.0000.175403.
Tại Ngân hàng: Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Bà Rịa- Vũng Tàu
Tổng Giám Đốc Công ty: Ông Hồ Sỹ Hoàng
Tiền thân của Công ty là Tổng Công ty Thiết kế và Xây dựng dầu khí viết tắt là
PVECC( Petro Vietnam Engineeringn & Contruction Company) được thành lập theo
quyết định QĐ 330/TTG ngày 29/5/1995 của Thủ Tướng Chính Phủ và nghị định
38/CP ngày 30/5/1995 của Chính Phủ. Là một trong những công ty chủ lực của Tổng
- 4 -
công ty Dầu khí Việt Nam, có nhiệm vụ tư vấn đầu tư và khai thác các công trình dầu
khí, các phương tiện nổi phục vụ dầu khí, các cơ sở hạ tầng, các công trình công
nghiệp và dân dụng cho các chủ đầu tư trong và ngoài ngành dầu khí, tham gia thực
hiện các đề án liên doanh.
Công ty có trụ sở chính đặt tại: Số 1 Quốc lộ 51A, phường 9, thành phố Vũng
tàu. Các chi nhánh đại diện tại:
- Hà Nội: 80 Nguyễn Du – TP Hà Nội
- TP. Hồ Chí Minh: G1 Khách sạn Thanh Đa- TP. Hồ Chí Minh
Công ty gồm các đơn vị thành viên sau:
1- Xí nghiệp Kết cấu kim loại & lắp máy
2- Xí nghiệp xây lắp đường ống bể chứa
3- Xí nghiệp thiết kế & khảo sát
4- Xí nghiệp liên doanh Vietubes
5- Xí nghiệp vật liệu xây dựng Long Thành
6- Xí nghiệp Thi công cơ giới
7- Xí nghiệp Dịch vụ & Xây lắp
8- Xí nghiệp sữa chữa các công trình dầu khí
9- Xí nghiệp Xây lắp số 1
10-Xí nghiệp Xây lắp số 2
11-Xí nghiệp Xây lắp số 3
12-Xí nghiệp Xây lắp số 4
Qua 12 năm hoạt động, Công ty thiết kế và Xây dựng dầu khí đã có những bước
tiến đáng kể. Tháng 1 năm 2007, nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của
đất nước sau thời kỳ hội nhập WTO, đặc biệt trong ngành xây dựng đòi hỏi cao hơn về
chất lượng, về tiến độ và kỹ thuật của từng công trình. Nhiều công trình thi công đều
dựa trên nguồn đầu tư của nước ngoài và việc hoàn thành cần đòi hỏi các yêu cầu cao
hơn về quy trình công nghệ cũng như nguồn nhân công có tay nghề. Vì những nhu cầu
đó nên Tổng Công Ty Cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam đã chuyển hướng sang đầu
- 5 -
tư về chiều sâu, quan tâm đến các công trình, cao hơn là các công trình có vốn đầu tư
của nước ngoài. Do đó phải tập hợp mọi nguồn lực về vốn, về đội ngũ cán bộ công nhân
kỹ thuật lành nghề để đấu thầu, thi công các công trình lớn và cắt giảm các bộ phận làm
cho bộ máy của công ty gọn nhẹ. Từ những yêu cầu trên nên Hội Đồng Quản Trị Tổng
Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam đã thành lập Công ty TNHH Một Thành
Viên Xây Dựng Công nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí theo quyết định số 03/QĐ-HĐQT-
TCT ngày 21/1/2007 với vốn điều lệ là 50 tỷ đồng…Công ty được sát nhập bởi ba xí
nghiệp: Xí Nghiệp Xây Lắp Số 3, Xí Nghiệp Thi Công Cơ Giới và Xí Nghiệp Xây Lắp
số 1.
Tuy mới được thành lập nhưng Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng
Công Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí đã có đội ngũ cán bộ quản lý thi công, quản lý
chất lượng tốt, có thiết bị máy móc chuyên dùng đáp ứng được một phần yêu cầu sản
xuất kinh doanh của công ty, có khả năng tổ chức thi công tại những công trình lớn,
lĩnh vực mới, địa bàn ở xa… Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Công ty luôn tuân thủ
đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật của nhà nước, đảm bảo tiến độ thi công công trình
với chất lượng cao. Đồng thời luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ đạo sát sao
của lãnh đạo các cấp từ Tổng Công ty trong thời gian qua nên Công ty ngày càng
khẳng định được vị thế của mình trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và đã
hoàn thành tốt nhiều công trình lớn như:
Công trình Nhà máy nhựa TPC VINA – tại Tân Thành – Phú Mỹ - Bà
Rịa – Vũng Tàu ( trị giá gần 40 tỷ đồng).
Công trình khách sạn 4 sao tại số 8 Hoàng Diệu, TP Vũng Tàu ( 263 tỷ
đồng).
Công trình kho trung chuyển Miền Trung Tây Nguyên tại Bình Định (40
tỷ đồng).
Công trình khu nhà ở cán bộ công nhân viên khu thông tin VIETUBES
tại khu Thông tin, TP Vũng Tàu (32 tỷ đồng).
Công trình khu nhà ở nhà máy điện Nhơn Trạch tại Nhơn Trạch (42 tỷ
đồng).
Công trình kho trung chuyển Đạm Cần Thơ (21 tỷ đồng).
- 6 -
Công trình kho xăng dầu Cù Lao Tào (520 tỷ đồng).
Văn phòng XN Liên Doanh Dầu khí Vietsovpetro (170 tỷ đồng).
1.1.2, Chức năng và nhiệm vụ của Công Ty:
Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng Công Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí
là doanh nghiệp độc lập được thành lập theo hình thức chuyển từ doanh nghiệp Nhà
nước thành công ty cổ phần, tổ chức hoạt động theo Luật doanh nghiệp được Quốc
Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ XV thông qua ngày
12 tháng 6 năm 1999, có đầy đủ tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ
về tài chính, có con dấu riêng, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, về nguồn tài
chính hữu hạn đối với các khoản nợ trong phạm vi vốn điều lệ, có các quyền và nghĩa
vụ dân sự theo quy định của luật pháp.
Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng Công Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí
là tổ chức sản xuất kinh doanh về xây lắp trong ngành Dầu Khí hoạt động trong các
lĩnh vực như sau:
Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp trong và ngoài ngành
Dầu khí.
Đầu tư, xây lắp các công trình chuyên ngành Dầu khí.
Xây dựng các công trình hạ tầng, cầu cảng, đầu tư kinh doanh địa ốc, hạ
tầng phụ trợ.
Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với ngành nghề của Tổng Công
ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam và không trái với quy định của
pháp luật.
Mục tiêu kinh doanh chủ yếu của Công ty là tổ chức sản xuất kinh doanh để tạo
ra lợi nhuận hợp pháp, làm giàu chính đáng cho các thành viên, tạo thêm nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, đóng góp nghĩa vụ vào ngân sách nhà nước, góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của Tổng Công ty Cổ
Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí Quốc Gia Việt Nam.
Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng Công Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí
chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng với quy trình sản xuất hỗn hợp vừa thi
công bằng lao động thủ công vừa thi công bằng máy móc. Quy trình sản xuất bắt đầu
- 7 -
từ khi Công ty tham gia chào thầu hoặc được giao thầu xây dựng. Khi tham gia đấu
thầu, Công ty phải xây dựng các chiến lược đấu thầu để thắng thầu.
Sau khi trúng thầu hoặc được giao thầu, theo quy chế chung của ngành xây dựng
và của Công ty, Công ty và bên giao thầu sẽ thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng
xây dựng về giá trị công trình, thời gian thi công, phương thức thanh toán, số tiền tạm
ứng, tỷ lệ bảo hành…
Sau khi hoàn thành việc thi công công trình, chủ đầu tư nghiệm thu, Công ty và
chủ đầu tư tiến hành quyết toán công trình. Công trình sau khi được kiểm toán mới có
đủ hiệu lực pháp lý ( riêng đối với các công trình vốn của tỉnh phải qua thẩm tra của sở
tài chính và được tỉnh phê duyệt).
Sơ đồ quá trình hoàn thành công trình của Công Ty TNHH Một Thành Viên
Xây Dựng và Dân Dụng Dầu Khí như sau:
1.1.3, Quy trình công nghệ:
Công nghệ xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp của Công ty được
tóm tắt qua sơ đồ sau:
1. Xây dựng phần mềm là xây dựng phần nền móng bao gồm các công việc
như :
- Đào đất móng bằng nhân công trực tiếp, đất cồn dùng máy ủi.
- Đổ bê tông : Mác theo tiêu chuẩn của Bộ xây dựng quy định
- Đổ đất san nền.
2. Xây dựng khung sườn:
- Dùng thép để đan giằng cột bê tông
Giao thầu,
chào thầu
cạnh tranh
Quyết toán
Ký kết hợp
đồng xây
dựng
Thi công
Nghiệm thu
công trình
Xây dựng
phần mềm
Xây dựng
khung sườn
Phần hoàn thiện
công trình
- 8 -
- Dùng thép để đầm sàn
- Đóng cột pha dầm cột
- Đổ bê tông
- Bảo dưỡng bê tông
- Xây tường gạch, tường hai bên, tường ngăn
3. Công việc cuối cùng trong quy trình công nghệ là phần hoàn thiện công
trình:
- Tô trát vữa tường và ngoài vách ngăn
- Sơn tường
- Lợp mái, đóng trần
- Nếu có yêu cầu của chủ đầu tư về điện, trang trí nội thất bên trong, bên
ngoài, sân vườn cảnh…sẽ được thực hiện theo hợp đồng.
1.1.4, Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty TNHH Một Thành Viên Xây
Dựng Công Nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí:
Để đảm bảo cho việc tổ chức sản xuất có hiệu quả và bộ máy quản lý gọn nhẹ
phù hợp với cơ cấu tổ chức, Công ty đã áp dụng chế độ một thủ trưởng : Đứng đầu
là Tổng Giám Đốc chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty, Công ty và nhà nước về
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Giúp việc cho Tổng Giám Đốc là 3 Phó Tổng Giám Đốc và được quyền giải quyết
công việc theo uỷ quyền khi Tổng Giám Đốc đi vắng. Dưới là các phòng ban, các
tổ, đội sản xuất.
- 9 -
1.1.4.1, Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty:
1.1.4.2, Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận: Các bộ phận trong
Công ty được phân công các chức năng hoạt động cơ bản như sau:
Phòng kinh tế - kế hoạch: Gồm 8 người trong đó có 1 trưởng phòng, 2 phó
phòng chịu trách nhiệm chung và chức năng của phòng là:
Lập kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế hoạch theo tháng, quý, năm. Trực
tiếp quản lý và hướng dẫn thực hiện quy chế thủ tục quy trình XDCB. Công tác quản
lý thực hiện hợp đồng kinh tế. Đôn đốc công tác nghiệm thu khối lượng, lập hồ sơ
thanh toán khối lượng của phòng Kỹ thuật – sản xuất và đội công trình.
Tìm hiểu thị trường để tham gia đấu thầu, mở rộng thị trường trong các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh có lợi thế của Công ty. Tìm hiểu các nguồn thông tin nhằm phát
triển hướng sản xuất kinh doanh cho Công ty như nghiên cứu về quy mô – công nghệ -
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
KIỂM SÁT VIÊN
PHÒNG
KINH TẾ
KẾ
HOẠCH
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
PHÒNG
KỸ
THUẬT
SẢN
XUẤT
PHÒNG
VẬT TƯ
THIẾT
BỊ
PHÒNG
TỔ
CHỨC
HÀNH
CHÍNH
ĐỘI
CÔNG
TRÌNH
1
ĐỘI
CÔNG
TRÌNH
2
ĐỘI
CÔNG
TRÌNH
3
ĐỘI
THI
CÔNG
CƠ
GIỚI 1
ĐỘI
THI
CÔNG
CƠ
GIỚI 2
ĐỘI
BÊ
TÔNG
ĐỘI
CÔNG
TRÌNH
4
ĐỘI
ĐIỆN
NƯỚC
- 10 -
vốn – thời gian – địa điểm và có chiến lược về quỹ công việc cho các năm tiếp theo
của Công ty. Nghiên cứu các khả năng để tham mưu cho Giám đốc dự đấu thầu và
nhận việc trong mọi lĩnh vực mà Công ty có lợi thế. Làm các hồ sơ đấu thầu theo đúng
quy chế đấu thầu, quy định của Công ty và cập nhật được sự phát triển của thị trường.
Nắm kế hoạch của Tổng Công ty, đề xuất các đơn hàng mà Công ty có khả năng thực
hiện.
Phòng tài chính – kế toán: Với quy mô hoạt động gồm 15 người, là phòng
thực hiện chức năng giúp Tổng Giám đốc về mặt tài chính, thu thập số liệu, phản ánh
vào sổ sách và cung cấp thông tin kinh tế kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định của
giám đốc. Bên cạnh đó phòng còn thường xuyên báo cáo các tình hình về thu chi, đề ra
các biện pháp hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, lập kế hoạch tài chính, quản lý sự vận
động của đồng tiền, lập kế hoạch vay vốn ngân hàng, quản lý chi tiêu hợp lý, hợp
pháp: Như việc huy động, bổ sung vốn mở rộng công tác đầu tư, tổ chức sử dụng và
điều hòa các nguồn vốn nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của toàn Công ty
một cách có hiệu quả.
Giúp các cơ quan cấp trên, các cơ quan quản lý… kiểm tra, giám sát tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như kiểm tra việc chấp hành các
chính sách , chế độ, quy định của nhà nước, làm nghĩa vụ với ngân sách của nhà nước.
Quản lý kế toán các đội, các xưởng sản xuất quyết toán các công trình.
Phòng kỹ thuật - sản xuất: Gồm 10 người trong đó có 1 trưởng phòng và 1
phó phòng. Phòng này có chức năng tham mưu, giúp việc cho Tổng Giám đốc về các
công tác kinh tế, kỹ thuật, quản lý, chất lượng công trình, làm công tác marketing giúp
cho Công ty ký kết được các hợp đồng kinh tế với các đối tác nước ngoài, theo dõi
khối lượng công việc, nghiệm thu công trình. Lập quy trình công nghệ, quản lý tiến độ
thi công và kỹ thuật chất lượng các công trình cũng như tăng cường vấn đề an toàn lao
động cho công nhân.
Phòng vật tư – thiết bị: Gồm 8 người trong đó có một trưởng phòng chịu
trách nhiệm chung và một phó phòng có chức năng quản lý toàn bộ vật tư, vật tư luân
chuyển và thiết bị của công ty: kho công ty (trực tiếp bằng phiếu nhập kho, xuất kho,
thẻ kho) và các đội sản xuất (báo cáo vật tư theo từng đợt). Lập kế hoạch mua vật tư,
- 11 -
thiết bị theo yêu cầu thiết kế của từng dự án và điều chuyển vật tư, thiết bị theo biện
pháp tổ chức thi công.
Phòng tổ chức – hành chính: gồm 25 người có chức năng giúp Tổng Giám
đốc Công ty trong công tác thực hiện các phương án sắp xếp, tổ chức bộ máy của
Công ty từ các phòng ban đến các công trường, các đội sản xuất trực thuộc. Tiếp nhận,
điều động, làm thủ tục đưa đi đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong Công ty, sử dụng, điều phối
và quản lý nhân lực hợp lý… Đồng thời không ngừng nâng cao việc quản lý lao động,
đảm bảo an toàn lao động và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động.
Các đội và xưởng sản xuất: Tổ chức sản xuất trực tiếp ở các đội và xưởng,
các đơn vị được xây dựng khép kín. Mỗi đội, mỗi xưởng thực hiện một nhiệm vụ khác
nhau. Nhiệm vụ chủ yếu của đội thi công là làm sản phẩm trên công trường, các tổ thợ
luôn luôn phải tìm tòi phát huy các sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực
sản xuất và đẩy nhanh tiến độ đảm bảo chất lượng kỹ, mỹ thuật công trình.
Kiểm tra tất cả các phương tiện, dụng cụ trước khi bước vào sản xuất , chấp
hành tốt sự hướng dẫn của cán bộ thi công để sản phẩm làm ra được tốt, đẹp, bền. Khi
lao động sản xuất phải thực hiện: Làm gọn, dọn sạch, thực hành tiết kiệm. Khi lao
động, sản xuất phải nghiêm túc thực hiện nội quy quy định của đơn vị trên công
trường về các mặt an toàn lao động, chất lượng công trình. Ngoài ra còn có chức năng
và nhiệm vụ triển khai thi công theo đúng kế hoạch, đúng bản vẽ thiết kế, đảm bảo
chất lượng công trình.
1.1.5, Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh:
Tính đến thời điểm ngày 31/12/2008 thì tình hình hoạt động của Công ty là:
- Doanh thu đạt được trong năm 2008 là 532 tỷ đồng.
- Thu nhập bình quân đầu người : 4 triệu đ/ người/ tháng.
- Hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước bằng việc nộp ngân sách 32 tỷ đồng.
- Giá trị sản xuất trong năm 2008 là 660 tỷ đồng.
Đồng thời ta có thể thấy được sự phát triển của Công ty qua số liệu về lợi nhuận
thu được qua hai năm bắt đầu hoạt động:
- 12 -
Tình hình phát triển của Công ty
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Thực hiện năm
2007
Thực hiện năm
2008
Chênh lệch
Số tiền %
Doanh thu 450.250 532.000 81.750 1,18
Lợi nhuận 8.476 11.323 2.847 1,34
( Nguồn: từ Báo cáo kết quả kinh doanh tại phòng kế toán )[2]
Qua số liệu trên ta có thể thấy rằng Công ty đã không ngừng nâng cao được
hiệu quả kinh doanh, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước. Cụ thể là: Năm 2008,
lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng 2.847.000.000 đồng so với năm 2007 tương ứng
với tỷ lệ là 1,34%.
1.1.6, Thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển của Công ty:
Thuận lợi:
- Công ty luôn được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp
từ Tổng công ty.
- Ban lãnh đạo có năng lực, đội ngũ nhân viên làm việc tận tình, tuân thủ đúng
nguyên tắc, quy phạm kỹ thuật của nhà nước.
- Lực lượng nhân công có tay nghề cao, trẻ, khoẻ, đảm bảo được tiến độ thi
công công trình và đạt chất lượng.
Do tình hình hoạt động Công ty chỉ mới được thành lập nên ngoài những
mặt thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn:
Nhiều công trình có địa bàn ở xa gặp nhiều khó khăn trong vận chuyển nguyên
vật liệu, chi phí tăng cao…Bên cạnh còn gặp không ít khó khăn do điều kiện khách
quan gây ra như khó khăn về điều kiện tự nhiên, về tài chính…
Chú trọng đến việc phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm thu được
lợi nhuận cao nên Công ty đã đề ra một số phương hướng phát triển như sau:
- Ưu tiên đầu tư phát triển các ngành thuộc lĩnh vực kinh doanh mạnh nhất của
Tổng Công ty và Tập đoàn.
- 13 -
-Giữ vững thị trường truyền thống ở Việt Nam và không ngừng mở rộng thị
trường xây dựng mới ở CampuChia, Lào, Nga…
- Hoàn thiện đầu tư máy móc thiết bị thi công hiện đại, đồng bộ để có thể tiến
hành công tác thi công xây lắp đối với bất kỳ công trình loại nào, từ đường ô tô, đường
băng sân bay, cầu vượt sông, hầm, cảng… với bất kỳ dạng kết cấu nào để có thể tham
gia đấu thầu và giành thắng thầu với các Công ty khác cùng ngành.
- Mở rộng hình thức tham gia xây dựng các dự án như BT ( xây dựng- chuyển
giao), BOT ( Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao) ở các khu kinh tế mở, các nút
giao thông đô thị, thành phố.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân
kỹ thuật nghiệp vụ có năng lực công tác cao, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,
nhanh chóng tiếp cận và làm chủ khoa học công nghệ mới của thế giới.
1.2. Tình hình tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH Một Thành Viên Xây
Dựng Công nghiệp và Dân Dụng Dầu Khí :
1.2.1, Hình thức tổ chức hệ thống sổ sách kế toán của Công ty:
1.2.1.1, Hình thức tổ chức hệ thống sổ sách kế toán của Công ty:
Hình thức hạch toán kế toán mà Công ty áp dụng là hình thức chứng từ ghi sổ.
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế
toán tổng hợp là : “chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái.
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc bảng tổng
hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế. Chứng từ ghi sổ được đánh
số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm ( theo số thứ tự trong sổ đăng ký chứng
từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được Kế toán trưởng duyệt trước khi
ghi sổ kế toán. Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ gồm các loại sổ kế toán sau:
- Chứng từ ghi sổ.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Sổ cái.
- 14 -
- Các sổ, thẻ Kế toán chi tiết.
Trong các hình thức kế toán thì hình thức Kế toán chứng từ ghi sổ có nhiều ưu
điểm hơn vì dễ hiểu, rõ ràng, dễ phát hiện sai sót và điều chỉnh thích hợp với mọi hình
thức xây dựng cơ bản, từ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vừa đến lớn.
1.2.1.2, Sơ đồ:
Để dễ kết hợp và xử lý trong công tác điện toán hóa kế toán, theo hình thức Kế
toán chứng từ ghi sổ, công tác Kế toán thực hiện trình tự theo sơ đồ sau:
CHỨNG TỪ GỐC
BẢNG TỔNG HỢP
CHỨNG TỪ GỐC
SỔ CHI TIẾT
SỔ QUỸ
SỔ ĐĂNG KÝ
CHỨNG TỪ
GHI SỔ
CHỨNG TỪ GHI SỔ BẢNG TỔNG
HỢP CHI
TIẾT
SỔ CÁI
BẢNG CÂN ĐỐI SỐ PHÁT SINH
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
- 15 -
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ:
- Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế
toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán lập Chứng từ
ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào sổ cái. Các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ
lập chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan.
- Cuối tháng phải khóa sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tính ra tổng số phát sinh
nợ, tổng số phát sinh có và số dư của từng tài khoản trên sổ cái, căn cứ vào sổ cái lập
bảng cân đối số phát sinh.
- Sau khi đối chiếu khớp đúng các số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi
tiết đã được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
1.2.2, Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty:
1.2.2.1, Hình thức tổ chức bộ máy kế toán :
Cùng với sự ra đời và phát triển của Công ty là sự ra đời và hoạt động có hiệu
quả của bộ phận Kế toán. Đây là bộ phận không thể thiếu được khi một doanh nghiệp
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Phòng Tài Chính – Kế toán của Công ty
gồm 15 người đảm nhiệm những phần hành kế toán khác nhau. Trong quá trình hoạt
động bộ máy kế toán được tổ chức một cách hợp lý và trong thời gian qua đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ cung cấp kịp thời thông tin kinh tế cho Ban Tổng Giám đốc Công
ty.
Bộ máy Kế toán của Công ty TNHH Một Thành Viên Xây Dựng và Dân Dụng
Dầu Khí được tổ chức theo hình thức tập trung. Tổ chức kế toán tập trung là mô hình
tổ chức có đặc điểm toàn bộ công việc xử lý thông tin trong toàn doanh nghiệp được
thực hiện tập trung ở phòng kế toán, còn ở các bộ phận và đơn vị trực thuộc chỉ thực
hiện việc thu thập, phân loại và chuyển chứng từ cùng các báo cáo nghiệp vụ về phòng
kế toán để xử lý và tổng hợp thông tin. Hình thức này là thuận lợi cho việc quản lý và
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công công tác, góp phần nâng cao trình độ của
từng cán bộ nhân viên.
- 16 -
1.2.2.2, Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán :
Ghi chú:
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ nghiệp vụ
1.2.2.3, Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ máy Kế toán tại Công ty:
Trong Công ty các nhân viên kế toán đều là những người có trình độ chuyên
môn, có kinh nghiệm, được lãnh đạo Công ty quan tâm trang bị các phương tiện kỹ
thuật làm việc nhằm thực hiện tốt công tác kế toán. Phòng kế toán phân công các công
việc cụ thể cho từng nhân viên kế toán chuyên trách. Việc phân công này rất phù hợp
với năng lực chuyên môn của từng người, đã tạo điều kiện phát huy hết khả năng và sự
sáng tạo của các nhân viên trong các tác nghiệp. Công việc được phân công như sau:
KẾ TOÁN TRUỞNG
PHÓ PHÒNG
KTTH
PHÓ PHÒNG
TÀI CHÍNH
PHÓ PHÒNG
KT-KT
Nhóm
KT
chuyên
trách,
kiểm
tra
chứng
từ đầu
vào
Nhóm
KT
vật tư
Nhóm
KT
NH
vay vốn
Kế
toán
TM
lương
Kế
toán
TSCĐ
CCDC
Kế
toán
thuế
Thủ
quỹ
Kế
toán,
công nợ
và
quản lý
hợp
đồng
- 17 -
Kế toán trưởng:
Là người tổ chức bộ máy Kế toán toàn Công ty,chịu trách nhiệm cao nhất của
Phòng, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho các cán bộ làm công tác Tài
chính – Kế toán. Hướng dẫn, phổ biến các chế độ, chính sách của nhà nước và quy
định của Tổng Công ty, tham mưu cho Tổng Giám Đốc và Hội đồng thành viên Công
ty ban hành các quy định về quản lý tài chính, tín dụng. Chủ trì xây dựng kế hoạch thu
chi tài chính, kiểm soát thu chi, quản lý việc thực hiện cân đối cấp phát vốn kinh
doanh và vay vốn cho các đội, công trường. Phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi
phạm pháp luật về tài chính kế toán. Nắm bắt kịp thời các chế độ, chính sách của nhà
nước nhằm hướng dẫn hệ thống kế toán từ Công ty đến các đội. Phân công giao nhiệm
vụ cho các nhân viên đúng trình độ năng lực cá nhân để hoàn thành tốt công việc của
Phòng.
Các quyền hạn: Có ý kiến bằng văn bản với giám đốc về việc tuyển dụng,
thuyên chuyển, tăng lương, khen thưởng, kỷ luật người làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ.
Yêu cầu các bộ phận liên quan trong Công ty cung cấp kịp thời, đầy đủ tài liệu liên
quan tới công việc kế toán và giám sát tài chính…
Phó phòng phụ trách tài chính:
Giúp Kế toán trưởng về công tác tài chính, tham gia vào việc xây dựng kế
hoạch và kinh doanh của Công ty, lập kế hoạch thu chi tài chính trong tháng, quý, năm
và kế hoạch thu tài chính trung, dài hạn theo kế hoạch sản xuất kinh doanh. Quản lý,
theo dõi kiểm tra, kiểm soát và đánh giá việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản, mua
sắm TSCĐ. Thường xuyên và định kỳ chủ trì thực hiện việc phân tích đánh giá tình
hình tài chính, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý tài chính hữu hiệu hơn cho Công ty,
đồng thời là người trực tiếp theo dõi và tổng hợp chi phí các công trình thuộc đội công
trình 1,3,4 theo kỳ báo cáo kế hoạch, lũy kế theo công trình. Ký phiếu nhập xuất vật
tư, công cụ của đội mình quản lý. Khi trưởng phòng đi vắng sẽ thay mặt giải quyết và
điều hành công việc của phòng ( Người ủy quyền thứ 1).
Phó phòng kế toán tổng hợp:
Là người ủy quyền thứ 2 giúp kế toán trưởng chủ trì thực hiện việc lập báo cáo
quyết toán tài chính, báo cáo thống kê theo định kỳ và theo yêu cầu của cấp trên. Tổng
hợp tiền thu khối lượng các công trình toàn Công ty. Tổng hợp theo dõi và đề xuất xử
- 18 -
lý công nợ giữa nội bộ Công ty và Tổng Công ty , trực tiếp theo dõi các tài khoản và
nguồn vốn sở hữu toàn Công ty. Lưu trữ các báo cáo kế toán của Công ty cũng như
các báo cáo có liên quan nhiệm vụ được giao.
Phó phòng phụ trách Kế toán – kiểm toán:
Giúp kế toán tổ chức thực hiện và hướng dẫn các đội, công trường công tác
hạch toán báo sổ, các chính sách, chế độ quy chế quy định về quản lý kinh tế, tài
chính, kế toán… Hướng dẫn, chỉ đạo việc kiểm kê định kỳ hay đột xuất với tài sản, vật
tư, tiền vốn, công nợ trong Công ty. Đồng thời thực hiện việc báo cáo, cung cấp các số
liệu, tài liệu phục vụ công tác kiểm tra, kiểm toán với cơ quan chuyên quản.
Trực tiếp theo dõi và tổng hợp chi phí các công trình thuộc đội công trình số 1,
đội TCCG số 1,2 . Tổng hợp báo cáo Kế toán trưởng theo kỳ báo cáo kế hoạch, lũy kế
chi phí theo công trình, phục vụ giao ban và yêu cầu của Tổng giám đốc, Hội đồng
thành viên. Ký phiếu nhập, xuất vật tư các đội theo dõi và quản lý.
Kế toán chuyên trách, kiểm tra chứng từ đầu vào:
Quản lý và cấp hóa đơn VAT, lập báo cáo sử dụng hóa đơn thanh toán, thanh lý
hóa đơn của Công ty với cơ quan thuế theo quy định. Tiếp nhận kiểm tra, đối chiếu hồ
sơ chứng từ thanh toán của tất cả các công trình ( vật tư, tài sản, CCDC, thuê máy…)
trước khi chuyển cho các bộ phận khác và kế toán trưởng. Phối hợp với Kế toán tổng
hợp xử lý các bút toán, hạch toán giá thành, doanh thu, chi phí.
Kế toán vật tư:
Tham gia kiểm kê và tập hợp báo cáo kiểm kê vật tư, hàng hóa theo quy định.
Mở đầy đủ các sổ kế toán, sổ chi tiết, thẻ kho và thực hiện việc ghi chép và lập báo cáo
phản ánh kịp thời tình hình tăng, giảm, tồn kho vật tư, hàng hóa. Hàng tháng tập hợp
vật tư theo từng công trình và báo cáo với Kế toán trưởng. Đối với vật tư, hàng hóa
thuộc bên thi công, cơ giới,… kết hợp với Kế toán tổng hợp để phân bổ hợp lý các
công trình sử dụng.
Kế toán ngân hàng và cấp phát vốn:
Tiếp nhận, kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ thanh toán để làm thủ tục cấp
phát vốn theo sự phê duyệt của lãnh đạo. Lập các hồ sơ từ sổ vay vốn lưu động, hồ sơ
vay vốn trung và dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo lãnh, mở L/C…theo quy
- 19 -
định của Công ty và các tổ chức tín dụng. Lập báo cáo về tình hình sử dụng vốn bằng
tiền từ các nguồn vốn lưu động, vốn vay, lãi vay làm cơ sở cho lãnh đạo có kế hoạch
cân đối thu chi có hiệu quả. Ngoài ra còn quản lý việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu có liên
quan đến việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thanh toán quyết toán trong toàn Công
ty. Thực hiện các nhiệm vụ khác khi lãnh đạo phòng phân công.
Kế toán thanh toán tiền mặt, lương:
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt, lương của cán bộ công nhân
viên. Tiếp nhận, kiểm tra tính hợp pháp của các chứng từ thanh toán để làm thủ tục
thanh toán theo phê duyệt của lãnh đạo. Mở và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh hàng ngày vào các loại sổ kế toán, sau đó tiến hành đối chiếu, xác nhận thường
xuyên với các bộ phận có liên quan trong phòng, đội, công trường… theo quy định.
Hỗ trợ kế toán thuế, lập các bảng kê khai thuế hàng tháng, quý, năm theo quy định của
cơ quan thuế trên cơ sở xử lý và tổng hợp số liệu của các đơn vị thành viên và cơ quan
Công ty. Tuy nhiên cũng sẽ thực hiện các nghĩa vụ khác theo sự phân công của lãnh
đạo phòng.
Kế toán tài sản cố định, công cụ - dụng cụ:
Theo dõi, quản lý về mặt, hiện vật và giá trị ( kể cả số lượng và chất lượng),
TSCĐ, CCDC của cơ quan Công ty, đội, công trường trực thuộc Công ty. Hàng tháng
lập bảng phân bổ CCDC , định kỳ tham gia kiểm kê và lập báo cáo kiểm kê hàng hóa
toàn Công ty theo quy định. Tiếp nhận, kiểm tra và lưu trữ hồ sơ liên quan đến TSCĐ
để đề xuất thanh toán, ra quyết định cấp nguồn vốn đầu tư. Thường xuyên và định kỳ
đối chiếu với Kế toán tổng hợp để xử lý trước khi lập báo cáo các quyết toán.
Kế toán thuế::
Lập báo cáo thuế hàng tháng, quý, năm theo quy định của cơ quan thuế trên cơ
sở xử lý và tổng hợp số liệu của các bộ phận cung cấp. Thực hiện việc đôn đốc và trực
tiếp thực hiện công tác thanh toán cũng như thu hồi vốn trong sản xuất kinh doanh của
Công ty.
Ngoài ra còn phải nắm vững các chế độ, chính sách của nhà nước về thuế và
quản lý kinh tế tài chính, quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh của nhà
- 20 -
nước, của tổng Công ty để thực hiện việc kiểm tra, lập báo cáo tổng hợp và thực hiện
nghĩa vụ về ngân sách đối với cấp trên trong toàn Công ty.
Thủ quỹ kiêm văn thư phòng
Thực hiện việc thu chi tiền mặt của cơ quan theo lệnh, phiếu thu, phiếu chi.
Quản lý kho két cơ quan Công ty và thường xuyên thực hiện đối chiếu kiểm kê sổ tiền
mặt với kết quả thu chi hàng ngày. Hàng tháng đối chiếu số dư quỹ.
Tiếp nhận các công văn, tài liệu từ văn thư Công ty và chuyển về Kế toán
trưởng để phân công cho từng thành viên xử lý.
Kế toán công nợ và quản lý hợp đồng: Kiểm tra đối chiếu, xem xét tính
hợp pháp đầy đủ chứng từ thanh toán công nợ, phân loại ghi chép, hạch toán quản lý
các khoản thanh toán và công nợ trên sổ sách kế toán theo quy định của chế độ kế
toán, biểu mẫu quy định. Lập biên bản đối chiếu công nợ khi công việc đã hoàn thành
toàn bộ hoặc hoàn thành từng phần. Kiểm tra lập báo cáo công nợ theo quy định của
bộ tài chính, lưu giữ chứng từ kế toán trong phần việc được giao.
- 21 -
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH 1
THÀNH VIÊN XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VÀ DÂN DỤNG
DẦU KHÍ
2.1. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
2.1.1, Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất:
2.1.1.1, Khái niệm chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về
lao động sống, lao động vật hóa và các khoản chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp
bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất, thi công trong một thời kỳ nhất định.
2.1.1.2, Phân loại chi phí sản xuất:
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản khác
nhau cả về tính chất, nội dung, công dụng, vai trò, vị trí… Để thuận lợi cho công tác
quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ
mục đích yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo
những tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí vào từng
loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định. Thông thường chi phí sản
xuất trong doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau:
Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí ( phân loại theo
yếu tố): Để phục vụ cho việc tập hợp quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không kể đến công dụng, địa điểm phát sinh thì chi phí được
phân loại theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố chi
phí sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các đối tượng lao
động như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế… sử dụng
trong kỳ.
- Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền lương, phụ cấp và các khoản trích
trên tiền lương theo quy định.
- 22 -
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh số trích khấu hao trong kỳ của toàn
bộ tài sản cố định sử dụng cho sản xuất, thi công của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là chi phí phải trả về các dịch vụ mua ngoài, thuê
ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất, thi công trong kỳ.
- Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ các chi phí khác bằng tiền chi cho
hoạt động sản xuất, thi công của doanh nghiệp ngoài bốn yếu tố chi phí kể trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng ( theo khoản mục ):
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành những khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… sử dụng trực tiếp vào sản xuất ( trong khoản mục này
không bao gồm các loại vật liệu, nhiên liệu dùng cho máy thi công).
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương, lương phụ có
tính chất ổn định của công nhân trực tiếp sản xuất cần thiết để hoàn thành sản phẩm
( Không kể đến tiền lương và các khoản trích có tính chất lương của nhân viên quản
lý, công nhân điều khiển máy thi công).
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là những chi phí liên quan đến việc sử dụng
máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm đối với doanh nghiệp
xây lắp theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công, vừa kết hợp bằng máy.
- Chi phí sản xuất chung: Phản ánh chi phí sản xuất của phân xưởng gồm :
Lương nhân viên quản lý phân xưởng, khoản trích bảo hiểm xã hội ( BHXH) , bảo
hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn ( KPCĐ) được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền
lương phải trả công nhân trực tiếp và nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ
dùng chung cho hoạt động của phân xưởng và những chi phí khác liên quan tới hoạt
động của phân xưởng.
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ
cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá
thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất xây lắp được chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
- 23 -
- Chi phí trực tiếp là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí,
chi phí này được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí căn cứ vào chứng từ
gốc.
- Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí mà
không thể dựa vào chứng từ để tính trực tiếp cho từng đối tượng, phải tập hợp đến cuối
kỳ khoá sổ và lựa chọn tiêu thức phân bổ cho các đối tượng theo tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa đối với việc xác định phương
pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách hợp lý.
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Theo mối quan hệ này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành: Chi
phí cố định (chi phí bất biến), chi phí biến đổi (chi phí khả biến) và chi phí hỗn hợp.
- Chi phí bất biến (còn gọi là định phí) là các chi phí mà tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm sản
xuất ra trong kỳ như chi phí khấu hao TSCĐ tính theo phương pháp đường thẳng, chi
phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị
- Chi phí khả biến (còn gọi là biến phí) là các chi phí mà tổng số thay đổi với sự
thay đổi của mức độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ như chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,…
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của định phí và
biến phí như chi phí của nhân viên quản lý tổ đội thi công, chi phí nguyên vật liệu gián
tiếp, chi phí nhân công gián tiếp
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong công
tác quản lý doanh nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định
quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
Ngoài các cách phân loại chi phí sản xuất trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu công tác
quản lý chi phí sản xuất xây lắp có thể phân loại theo tiêu thức khác.
Ví dụ theo Chuẩn mực kế toán số 15 - “Hợp đồng xây dựng”, chi phí trong
doanh nghiệp xây lắp bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng trong suốt
giai đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng, bao gồm:
- Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng như chi phí nhân công tại công
trường, chi phí nguyên liệu, vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị,…
- 24 -
- Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng và có thể
phân bổ cho từng hợp đồng như chi phí bảo hiểm, chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật
không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể,
- Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp
đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai,…
2.1.2, Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm:
2.1.2.1, Khái niệm giá thành sản phẩm:
Trong sản xuất chi phí chỉ mới thể hiện được một mặt thể hiện hao phí. Để đánh
giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp phải xem xét chi phí với mặt thứ hai, đó là kết
quả sản xuất thu được, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “ Giá thành sản
phẩm”.
Giá thành sản phẩm( công việc, lao vụ) là toàn bộ chi phí sản xuất tính cho một
khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm ( công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã
hoàn thành.
Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào quá trình sản xuất cần phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà
không bao gồm toàn bộ những chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp. Những chi
phí đưa vào giá thành phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất dùng
cho sản phẩm và các khoản chi tiêu khác có liên quan việc bù đắp giản đơn hao phí lao
động sống tiêu hao cho quá trình sản xuất. Mọi tính toán một cách chủ quan, không
phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể phá vỡ các quan hệ hàng
hóa tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh…
Tuy nhiên giá thành là đại lượng tính toán nên phần nào nó cũng mang tính chủ
quan ( biểu hiện mặt hạn chế của giá thành). Đặc điểm chủ quan này thể hiện ở hai
khía cạnh:
- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập thuần
túy của xã hội như các khoản trích nộp thuế, nộp cấp trên.
- Một số khoản mục chi phí gián tiếp được phân bổ vào giá thành của từng sản
phẩm theo những tiêu thức nhất định.
Như vậy chỉ tiêu giá thành trong một chừng mực nào đó vừa mang tính chủ
quan vừa mang tính khách quan, vì vậy nó cần được xem xét trên nhiều mặt khác nhau
nhằm có thế sử dụng chỉ tiêu này một cách có hiệu quả nhất.
- 25 -
2.1.2.2, Phân loại giá thành sản phẩm:
Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành: Theo
cách phân loại này giá thành sản phẩm bao gồm:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng sản
phẩm. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và
đơn giá của nhà nước.
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lợi nhuận định mức
Hoặc:
Giá thành dự toán = Khối lượng công tác xây lắp theo định mức kinh tế kỹ
thuật do nhà nước quy định × Đơn giá xây lắp do nhà nước ban hành theo từng
khu vực thi công và các chi phí khác theo định mức.
Giá thành dự toán được xây dựng và tồn tại trong một thời gian nhất định , nó
được xác định trong những điều kiện trung bình về sản xuất thi công, về tổ chức quản
lý, về hao phí lao động vật tư…cho từng loại công trình hoặc công việc nhất định. Giá
thành dự toán có tính cố định tương đối và mang tính chất xã hội.
- Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành được xác định trước khi bước vào sản
xuất được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định
mức, đơn giá….
Giá thành
kế hoạch
=
Giá thành
dự toán
-
Lãi do hạ
giá thành
±
Chênh lệch so
với dự toán
- Giá thành định mức: là tổng số chi phí để hoàn thành một khối lượng xây lắp
cụ thể được tính toán trên cơ sở đặc điểm kết cấu của công trình, về phương pháp tổ
chức thi công và quản lý thi công theo các định mức chi phí đã đạt được ở tại doanh
nghiệp, công trường tại thời điểm bắt đầu thi công.
Khi đặc điểm kết cấu sản xuất thay đổi, hay có sự thay đổi về phương pháp tổ
chức, về quản lý sản xuất thì định mức sẽ thay đổi và khi đó giá thành định mức được
tính toán lại cho phù hợp.
- Giá thành thực tế: Là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực tế phát sinh
để hoàn thành khối lượng sản phẩm. Giá thành thực tế được tính trên cơ sở số liệu kế
toán về chi phí sản xuất của khối lượng sản phẩm thực hiện trong kỳ.