Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

bài giảng môn kinh tế vĩ mô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.9 KB, 25 trang )

13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
CHƯƠNG I : LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC - CÔNG
NGHỆ, TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. Bản chất của tăng trưởng và phát triển kinh tế:
1. Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định thường là một năm.Trong đó sự gia tăng được thể hiện
ở quy mô và tốc độ. Thu nhập bằng giá trị phản ánh các chỉ tiêu GDP, GNI và
được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân trên một đầu người.
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là sự phản ánh thay đổi về lượng của nền
kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay
việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao do vậy quá trình ấy phải được
tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực
trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
2. Phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển
kinh tế được xem là một quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp
một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện hai vấn đề về kinh tế và xã hội của mỗi
quốc gia.
Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự
gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân
đầu người. Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức
phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia. Ba là, sự biến đổi ngày
càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.
3. Phát triển kinh tế bền vững:
Vào năm 1987, khái niệm đầu tiên về phát triển bền vững đã được Ngân
hàng Thế giới (WB) đưa ra : Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu
cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409


tương lai
Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ
hơn. Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug
(Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định : Phát triển bền vững là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển gồm:
tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
II. Lý luận chung về khoa học và công nghệ:
2. Khoa học:
Khoa học là tập hợp của những hiểu biết và tư duy nhằm khám phá những
thuộc tính tồn tại khách quan của những hiện tượng tự nhiên và xã hội.
Khoa học thường được phân thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Trong đó khoa học tự nhiên nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quá trình tự
nhiên,. Khoa học xã hội thì nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vận
động, phát triển của xã hội
3. Công nghệ:
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục
vụ đời sống xã hội
Ngày nay, công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần
mềm. Phần cứng thể hiện kỹ thuật của phương pháp sản xuất nó gồm các phương
tiện sản xuất và máy móc thiết bị. Phần mềm bao gồm ba thành phần: thứ nhất, là
thành phần con người với những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tay nghề, thói
quen trong lao động; thứ hai là thành phần thông tin gồm các bí quyết, quy trình,
phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế ; và thành phần cuối cùng là thành phần tổ
chức thể hiện trong việc bố trí sắp xếp, điều phối và quản lý.
Trong bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều đòi hỏi phải có sự tác
động qua lại lẫn nhau giữa phần cứng và phần mềm. Sự kết hợp chặt chẽ giữa
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
chúng sẽ là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sản xuất đạt hiệu quả cao. Trong mối

quan hệ đó, phần mềm được coi như là xương sống, cốt lõi của quá trình sản xuất
thì thành phần con người là chìa khoá, hoạt động theo những hướng dẫn của thành
phần thông tin. Thành phần thông tin là sơ sở để con người ra quyết định. Thành
phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các thành phần trên, động viên người lao động
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.
3. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ:
Tuy khoa học và công nghệ (KH & CN) có nội dung khác nhau nhưng
chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tác động thúc đẩy lẫn nhau. Khoa học không chỉ mô
tả khái quát công nghệ mà còn tác động trở lại, mở đường cho sự phát triển công
nghệ. Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công
nghệ mới vào sản xuất, đời sống. Ngược lại công nghệ là cơ sở để tổng quát hoá
thành những nguyên lý khoa học, công nghệ còn tạo ra những phương tiện làm cho
khoa học có bước tiến dài. Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất và đời sống
thì việc ứng dụng, triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếp nhiều hơn.
III. Các hình thức đổi mới công nghệ
1. Đổi mới sản phẩm:
Đổi mới sản phẩm là việc tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới, hoặc cải tiến
các sản phẩm truyền thống của công ty mình hoặc công ty khác. Việc tạo ra một
sản phẩm mới đòi hỏi phải đảm bảo về những điều kiện tiền đề. Tuy nhiên ở các
nước phát triển do hạn chế về các điều kiện tiền đề nên thường lựa chọn cải tiến
sản phẩm.
Cải tiến sản phẩm thường theo xu hướng hoàn thiện sản phẩm hiện có qua
việc cải tiến các thông số kỹ thuật, hoặc thay đổi kiểu dáng, màu sắc nguyên liệu
sản xuất. Ảnh hưởng của cải tiến sản phẩm thể hiện P S
chủ yếu ở việc tăng phúc lợi xã hội, điều này khó P
1
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
lượng hoá được nhưng người ta có thể thấy hiệu quả P
0


của nó qua việc dịch chuyển đường cầu lên trên làm D
1
cho giá cả sản phẩm có xu hướng tăng lên. D
2
Điều này thể hiện ở hình bên O Q
0
Q
1
Q
2. Đổi mới quy trình sản xuất
Đổi mới quy trình sản xuất có tác dụng P
0
S
0
S
1
làm tăng năng suất của máy móc thiết bị dẫn P
1
đến năng suất sản xuất tăng làm cho cung tăng.
Tức đường cung dịch chuyển sang phải từ đường
S
0
sang đường S
1
. Điều đó có nghĩa sản lượng D
sản xuất tăng từ Q
0
lên Q
1

và cho phép tiết kiệm O Q
0
Q
1
Q
chi phí sản xuất, giá sản phẩm giảm từ P
0
→ P
1
Kết quả của đổi mới quy
trìnhSX
Một trong những xu hướng đổi mới quy trình sản xuất được các nước đang
phát triển quan tâm là thay đổi trình độ kỹ thuật sản xuất.
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA KH&CN VỚI TĂNG TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN KINH TẾ
I. Hàm sản xuất và yếu tố công nghệ
Hàm sản xuất là một hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
đầu vào. Nói cách khác, trong hàm sản xuất, biến số phụ thuộc (hay biến số được
thuyết minh) là sản lượng, còn biến số độc lập (hay biến số thuyết minh) là các
mức đầu vào.
Trong kinh tế học vi mô, hàm sản xuất biểu thị lượng sản phẩm được nhà sản
xuất sản xuất ra từ những yếu tố sản xuất mà anh ta có như vốn, lao động, v.v
Trong kinh tế học vĩ mô, hàm sản xuất biểu thị giá trị tổng sản phẩm nội địa phụ
thuộc vào số lượng lao động, lượng vốn, công nghệ của một nền kinh tế.
1. Hàm sản xuất Cobb_Douglas và tiến bộ công nghệ:
- Hàm sản xuất Cobb_Douglas: Y = A.K
α
.L

β
Y
=
A. K
α
. L
β
L L L

NSLĐ =
A. K
α
- Nhận xét: L
+ Yếu tố A chính là năng suất yếu tố tổng hợp TFP : nó thể hiện kỹ
năng, tiến bộ công nghệ và trình độ quản lý.
+ K/L: nó là mức vốn sản xuất bình quân trên một lao động, nó thể
hiện kỹ thuật của sản xuất.
+α: hệ số co dãn sản lượng theo vốn
Hàm sản xuất Cobb_Douglas cho thấy năng suất tăng khi hoặc TFC tăng
lên (yếu tố công nghệ) lúc này là phát triển kinh tế theo chiều sâu; hoặc K/L tăng
lên lúc này là phát triển kinh tế theo chiều rộng. Trong xu hướng hiện nay người ta
chú trọng đến phát triển kinh tế theo chiều sâu nên để phát triển kinh tế bền vững
thì phải tăng yếu tố năng suất tổng hợp.
Kinh tế học hiện đại, khi phân tích sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế, đã xác
nhận rằng khoa học và công nghệ là biến số quan trọng nhất, Hiện nay, phần đóng góp của khoa học và
công nghệ vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển đã đạt tới 2/3, còn ở các nước đang phát triển
cũng trên 1/3. Ngoài ra khoa học và công nghệ còn là công cụ làm biến đổi các bộ mặt văn hóa, giáo dục,
y tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409

1.1 Mô hình Solow và tiến bộ công nghệ:
1.1.1 Mô hình Solow: Mô hình Solow được xây dựng trên tư tưởng tự do của
trường phái Tân cổ điển và kết hợp với mô hình Harrod_Dommar.
Trước tiên Solow đã đưa ra một số giả Y/L
thiết đó là : năng suất cận biên của vốn giảm y=f(k)
dần hay là lợi nhuận của vốn giảm dần và
hàm sản xuất được xét là hàm sản xuất giản K/L
đơn tức là Y = f ( K, L ).Từ đó ông tiến hành chia cả hai vế của hàm sản xuất cho
L được: (thu nhập bình quân một lao động ) y = f (k). Biểu hiện ở hình trên
Từ trên mô hình có thể rút ra một số nhận xét : khi vốn bình quân cho một
lao động tăng thì sản lượng bình quân cho một lao động cũng tăng nhưng chậm
dần do vốn tăng nhanh hơn lao động nên dẫn tới tình trạng thiếu hụt lao động.
Từ vai trò của vốn đầu từ là tăng tích luỹ vốn sản xuấtvà thay thế vốn sản
xuất đang bị hao mòn dần : I= ∆I + D
P

Áp dụng phương trình : K
( t+1)
= I
T
+ (1-σ).K
t
Ta lại có I
t
= S
t
= s.Y
t
⇒ K
(t+1)

= s.Y
t
+ (1-σ).K
t
(1)
Để xem xét ảnh hưởng của qui mô lao động/dân số hay tốc độ tăng lao động
đối với tăng thu nhập bình quân ta chia hai vế của phương trình (1) cho L:
k
(t+1)
= s.y
t
+ (1-σ).k
t
= s. f(k) + (1-σ).k
t

s.f(k)+(1-σ)k
t
Trong đó k
t+1
: tích luỹ vốn sản xuất mới năm t+1
s : là tỷ lệ tiết kiệm σ : là tỷ lệ khấu hao
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
k
*
: mức tích luỹ vốn ở trạng thái dừng
(1-σ).k
t
: vốn sản xuất sau khi trừ đi hao mòn. k

0
k
1
k
2
k
3
k
*
k
Một số kết luận được Solow rút ra từ mô hình:
+ Tăng trưởng sẽ giảm dần nếu vốn sản xuất tăng nhanh hơn so với lao động
(quy luật năng suất biên giảm dần).
+ Năng suất cận biên của vốn giảm dần sẽ dẫn tới việc giảm mức tích luỹ
vốn để phù hợp với mức tăng lao động do vậy trong dài hạn vốn sản xuất bình
quân sẽ cố định ở trạng thái dừng k*.
+ Nếu tích luỹ vốn sản xuất ổn định tới trạng thái dừng nào đấy thì thu nhập
bình quân đầu người cũng ở trạng thái dừng vì “y” là một hàm của k do vậy sẽ dẫn
đến không có tăng trưởng trong dài hạn.
1.1.2 Mô hình Solow trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật:
Solow cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng phụ thuộc vào hai yếu tố đó là :
thứ nhất những tiến bộ kỹ thuật của sản xuất; và khả năng tăng tích luỹ các yếu tố
đầu vào. Tiến bộ kỹ thuật tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua nâng cao
việc sử dụng các yếu tố đầu vào (làm tăng năng suất và tăng hiệu quả sản xuất).
Theo phần trên ta có phương trình Solow là: K
(t+1)
= s.Y
t
+ (1-σ).K
t

Ký hiệu: E : n/s hay hiệu quả của lao động L.E : lượng lao động có hiệu quả.
π : tốc độ tăng trưởng của năng suất (tiến bộ kỹ thuật)
(1+n).(1+π).kt+1
n : tốc độ phát triển của lao động. s.y
t
+ (1-
σ).k
t

k : tích luỹ vốn cho một lao động hiệu quả.

K t+1
=
s.Y t .
+

(1-
σ
).
K t .
(L.E)
t+1
(L.E)
t
(L.E)
t
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
→ k
t+1

= s. y
t
+ (1-σ). k
t
→ (1+n).(1+π).k
t+1
= s.y
t
+ (1-σ).k
t
k*
Kết luận: Lượng vốn sản xuất trên một đơn vị lao động hiệu quả hội tụ về trạng
thái dừng k*. Mức tăng thu nhập bình quân bằng với mức tăng của tiến bộ kỹ thuật
trong dài hạn (y = π). Do vậy yếu tố tiến bộ kỹ thuật là yếu tố có tác động trực tiếp
đến mức tăng trưởng bình quân trong dài hạn, cả trên phương diện tổng thu nhập lẫn GDP
bình quân đầu người. Nếu tốc độ tiến bộ công nghệ tăng lên (g tăng lên), thì cả GDP lần GDP/người đều
tăng lên tương ứng.
II. Vai trò của khoa học và công nghệ:
1. Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế:
K.Marx đã dự đoán rằng : đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự
giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phần lớn
phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ kỹ thuật hay sự vận
dụng khoa học vào sản xuất. Như vậy, KH & CN không chỉ tạo ra công cụ lao
động mới, mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả
sản xuất và tăng năng suất lao động.
Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở
rộng. Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; làm
biến đổi chất lượng nguồn lao động. Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động
giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật nhờ đó nâng cao
năng suất lao động. Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn

vốn đầu tư một cách có hiệu quả biểu hiện thông qua quá trình hiện đại hoá các tổ
chức trung gian tài chính, hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải
Khoa học công nghệ với sự ra đời của các công nghệ mới đã làm cho nền
kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu tức là
tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố
sản xuất. Với vai trò này, KH & CN là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
cao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật.
2. Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển
của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu
sắc và đưa đến phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực thể hiện:
- Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng
dần, còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm.
- Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày
càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao. Lao
động tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hoá cũng ngày càng tăng
nhanh. Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển khoa học và công nghệ.
3. Tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường:
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Muốn vậy
các doanh nghiệp phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hoá các
chi phí yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức
sản phẩm cho phù hợp. Những yêu cầu này chỉ được thực hiện khi áp dụng tiến
bộ KH & CN vào trong sản xuất và kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ KH & CN đã có những
tác động sau:

- Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại và
đồng bộ.
- Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của nhiều loại
hình doanh nghiệp mới.
- Tạo ra nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh.
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
- Chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu sang
hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước hướng ra thị trường
thế giới, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ngày nay các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chỉ có ưu thế trong
cạnh tranh trên thị trường thế giới, mà còn có ưu thế về xuất khẩu tư bản, chuyển
giao KH & CN sang các nước khác
4. Khoa học và công nghệ là một công cụ mạnh đối với phát triển con người:
Khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ gen ngày
càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi vào công tác chăm sóc sức khoẻ của
người dân. Đã có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực y tế nhất là trong việc phát
minh ra những loại thuốc, vắc – xin, các thiết bị y tế Đồng thời việc phát triển
những công nghệ sạch đã cải thiện môi trường sống của con người, giảm việc ô
nhiễm môi trường Tất cả những điều này đã góp phần cải thiện sức khoẻ của con
người, tăng tuổi thọ trung bình.
Khoa học và công nghệ đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào
tạo và hoạt động thực tiễn trang bị cho con người những tri thức và kinh nghiệm
cần thiết để cho họ có thể nhanh chóng thích nghi với các trang thiết bị hiện đại,
tiên tiến trong sản xuất, và đời sống. Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới theo
hướng hiện đại dần của các tranh thiết bị sản xuất và đời sống buộc con người phải
thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi
quá trình sản xuất xã hội thích ứng với cuộc sống hiện đại. Chính nhờ vậy mà trình
độ và chất lượng của đội ngũ những người lao động trong lực lượng sản xuất
không ngừng được nâng cao và hiện đại hoá. [2.256]

KH & CN tác động thông qua việc đổi mới sản phẩm, và đổi mới quy trình
sản xuất đã làm tăng quy mô sản xuất; tăng năng suất của máy móc thiết bị. Một
mặt KH & CN kích cầu; mặt khác nó giúp tăng năng suất qua đó tăng cung và từ
đó nền kinh tế tăng trưởng và làm tăng thu nhập bình quân; cải thiện mức sống của
người dân.
5. Có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
xuất, kinh doanh:
Trong sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động của xã hội nói chung nếu
không có một cơ chế tổ chức quản lý điều hành hợp lý thì chắc chắn không thể
mang lại kết quả tích cực. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của công tác tổ chức quản
lý và liên kết các yếu tố trang thiết bị, máy móc, con người và thông tin lại với
nhau thành một tổ hợp vận hành hợp lý, đồng điệu nhằm đạt đến một mục tiêu nhất
định. Nhiệm vụ quan trọng của quản lý là điều hành, phân phối, sắp xếp đúng
người, đúng việc nhờ đó mà có thể khai thác, phát huy sở trường, sở đoản của từng
con người, kích thích lợi ích người lao động để họ có thể bộc lộ hết những khả
năng, thế mạnh của mình.
Những công việc thì ngày càng rộng lớn, phức tạp, vừa tỉ mỉ, chi tiết của
công tác tổ chức và quản lý ngày nay đang được thực hiện một cách nhanh chóng
hơn, hiệu quả hơn nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công
nghệ thông tin. Khoa học công nghệ ngày nay cũng đã đúc rút và xây dựng nên
nhiều những tri thức, cả tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ
chức và quản lý. Tổ chức và quản lý đã trở thành một khoa học - khoa học quản lý.
[2.270,271]
6. Góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của
xã hội
Phát triển bền vững hay phát triển lâu bền đang là quan tâm sâu sắc của toàn
nhân loại. KH & CN góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát
triển bền vững. Những đóng góp có tính chất quyết định của KH & CN vào thúc

đẩy sản xuất, nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh là điều đã quá rõ ràng.
Ngoài ra sự phát triển của KH&CN đ ã giảm bớt sự lãng phí các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và ô nhiễm môi trường; khắc phục những hậu quả tiêu cự do sản xuất
xã hội mang lại giúp cho tăng trưởng kinh tế không những nhanh mà còn an toàn.
Đối với mục tiêu sinh thái, trước tiên KH & CN cung cấp cho con người
những tri thức về môi trường thiên nhiên, qua đó giúp con người có cơ sở để xây
dựng ý thức sinh thái. KH & CN giúp con người cập nhập được thông tin về môi
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
trường từ đó con người có thể chủ động phòng tránh, khắc phục để giảm thiểu
những hậu quả xấu, những rủi ro không đáng có.
Bản thân KH & CN đang có tác động rất mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc lên
sự phát triển của xã hội loài người. KH&CN đặc biệt là CNTT góp phần to lớn đối
với công cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng, bình đẳng trong xã hội, tự
do dân chủ: giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận với các thông tin hơn, tạo ra một
cơ chế phản ánh tiếng nói của người dân đặc biệt là của người nghèo đến chính phủ
hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng của các dịch vụ công.
II. Các nhân tố tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ:
1. Môi trường thể chế, chính sách:
Các cơ chế chính sách có tác động là động lực và kích thích cả về cung lẫn
cầu trên thị trường công nghệ.
Về phía cung: chính sách có tác động rất lớn đến nguồn cung của khoa học
công nghệ. Nếu có một cơ chế chính sách thích hợp về chế độ tuyển dụng, đãi ngộ
đối với các nhà khoa học thì chúng ta sẽ thu hút được rất nhiều nhà khoa học và
công nghệ, tránh tình trạng chảy máu chất xám. Chính sách về bản quyền, chính
sách ưu đãi cho các doanh nghiệp phần mềm Tất cả những chính sách đấy có tác
động làm cho nguồn cung của KH&CN tăng lên, ngược lại sẽ làm cho nguồn cung
bị giảm sút.
Về phía cầu : với một môi trường kinh tế tự do cạnh tranh lành mạnh, với
việc đổi mới cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp nhà nước từ đó tác động

buộc các doanh nghiệp phải đẩy mạnh việc áp dụng khoa học và công nghệ. Với
những chính sách tín dụng ưu đãi, thực hiện chế độ khấu hao nhanh nhằm đẩy
nhanh tốc độ đổi mới công nghệ làm cho nhu cầu khoa học và công nghệ của các
doanh nghiệp tăng lên kích cầu của khoa học và công nghệ.
2. Vốn:
Việc tiến hành nghiên cứu khoa học đòi hỏi rất nhiều vốn: từ đầu tư cho cơ
sở nghiên cứu: trang bị thiết bị, phòng thí nghiệm đến quá trình tiến hành nghiên
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
cứu, các cuộc thử nghiệm điều tra đều cần rất nhiều kinh phí. Không những thế
việc triển khai để đưa những một số công nghệ mới, ứng dụng các đề tài khoa học -
công nghệ vào trong đời sống cũng đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn. Vì vậy vốn có
tác động rất lớn đến việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học - công nghệ.
Vốn có tác động vào việc tiến hành đổi mới, cải tiến sản phẩm trong các
doanh nghiệp qua việc tiến hành đầu tư cho nghiên cứu. Vốn đầu tư nhiều hay ít
quyết định phần lớn về tranh thiết bị, máy móc trình độ khoa học công nghệ của
doanh nghiệp.
3. Quan hệ quốc tế:
Quan hệ quốc tế có tác động trự tiếp đến việc hợp tác đầu tư, phát triển khoa
học công nghệ giữa các quốc gia. Nó tác động đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư
FDI, làm tăng số dự án FDI vào trong nước, qua đó không những tăng được nguồn
vốn đầu tư mà quan trọng hơn là gia tăng được số công nghệ chuyển giao, đẩy
nhanh tiến bộ khoa học công nghệ.
Quan hệ quốc tế còn tác động đến việc giao lưu, trao đổi giữa các tổ chức
khoa học công nghệ trong nước và các tổ chức khoa học công nghệ nước ngoài,
tăng cường việc thu hút các nguồn lực tri thức từ bên ngoài để nâng cao năng lực
và trình độ trong nước
4. Nhân lực:
Có thể nói đối với việc phát triển khoa học và công nghệ thì nguồn nhân lực
đóng vai trò tác động trực tiếp. Nguồn nhân lực trong công tác nghiên cứu có tác

động đến chất lượng của các đề tài khoa học và công nghệ được sự chính xác về
nghiên cứu trong khoa học tự nhiên hay khả năng ứng dụng cao trong các công
trình nghiên cứu KHXHNV và KH&CN. Trình độ, khả năng và cả đạo đức của đội
ngũ thẩm định các công nghệ tác động to lớn đến chất lượng của các công nghệ
được đưa vào ứng dụng qua đó làm tăng hiệu quả của các công nghệ tăng trưởng
kinh tế.
Trình độ kỹ thuật, kỹ năng của đội ngũ lao động có tác động đến việc sử
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
dụng các công nghệ mới có hiệu quả hay không. Một công nghệ tiên tiến nhưng
đội ngũ lao động ở trình độ thấp thì sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng thấp có khi không
những không phát huy được hiệu quả của công nghệ mà còn gây ra nhiều thiệt hại
to lớn.
CHƯƠNG III : VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
I. TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM:
1. Khoa học xã hội và nhân văn:
Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực KHXHNV đã có tác động tích cực và
đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Về những vấn đề KT – XH: KHXHNV cung cấp các luận cứ khoa học cho
quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển và việc triển khai
thực hiện chúng. Như làm rõ bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN; các vấn đề xã hội và xu hướng biến đổi xã hội trong trong tiến trình đổi
mới từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho việc lựa chọn chiến lược phát triển KT –
XH cho các vùng trong giai đoạn 2020.
Về lĩnh vực chính trị, một số đề tài nghiên cứu đưa ra quan niệm mới về Nhà
nước pháp quyền hướng tới một nền chính trị XHCN và Nhà nước XHCN với mục
tiêu là duy trì bản chất của giai cấp công nhân và tính nhân dân của Nhà nước, phát
huy cao độ dân chủ XHCN và nâng cao hiệu lực quản lý và điều hành [2003 tr

104,105]
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
Về vấn đề văn hoá, dân tộc, tôn giáo, các đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu về
văn hoá, con người và nguồn nhân lực Việt Nam. Một số công trình được đánh giá
có giá trị văn hoá cao như các dự án điều tra, sưu tầm, bảo tồn, khai thác và phát
huy các di sản văn hoá quý báu của dân tộc: dự án tổng thể về Hán nôm, Dự án sử
thi Tây Nguyên, Dự án tư liệu văn học Việt Nam 10 thế kỷ Ngoài ra còn có
những đề tài nghiên cứu dân tộc, tôn giáo ở các vùng các dân tộc miền núi phía
Bắc, Tây nguyên và Tây Nam Bộ đã được triển khai. Các đề tài về dân tộc tôn giáo
đã góp phần giúp đỡ việc tiến hành thực hiện dự án 133 và 135 phù hợp với văn
hóa của các dân tộc; đảm bảo việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
Về những vấn đề quốc tế: một số đề tài nhiệm vụ khoa học đã tiến hành
nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển và biến đổi tình hình kinh tế và chính trị
quốc tế, những vấn đề có tính toàn cầu, chiến lược phát triển của các nước lớn, làm
rõ các thách thức, thời cơ phát triển, cơ chế tác động của cá xu hướng quốc tế đến
sự phát triển của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được nhiều kiến nghị có
giá trị, góp phần xây dựng chính sách đối ngoại, nhất là chính sách kinh tế, lộ trình
gia nhập các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực của Việt Nam.
2. Khoa học tự nhiên:
Hàng năm có hàng trăm công trình nghiên cứu thuộc hoạt động nghiên cứu
cơ bản. Năm 2001 có 536 nhiệm vụ, năm 2002 con số này đã tăng lên 709 nhiệm
vụ và đến năm 2003 thì đã có đến 778 đề tài được tiến hành . Các đề tài này tập
trung chủ yếu đi sâu nghiên cứu những kiến thức cơ bản, tạo cơ sở cho những
nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như công
nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Như các đề tài về
toán học đã đưa ra một số phương pháp luận về ứng dụng các mô hình điều kiện,
quản lý, dự báo trong công nghệ v.v . Trong tin học đã cung cấp một số phương
pháp phát hiện tri thức từ dữ liệu: phương pháp hỗ trợ phần mềm, nhận dạng văn

bản Về vật lý đã phát triển một số phương pháp thực nghiệm mới về nghiên cứu
bán dẫn nanô, phương pháp mô hình hoá vật liệu tổ hợp Về hoá học đã xác định
được tính chất và hoạt tính của một số xúc tác trong công nghệ lọc dầu, quy luật
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
chiết và hiệu ứng tăng cường chiết của các nguyên tố đất hiếm. Về khoa học sự
sống kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử, di truyền học đã bước đầu được ứng
dụng trong y học, trồng trọt và chăn nuôi Đặc biệt các năm gần đây các đề tài về
khoa học trái đất đã tiến hành nghiên cứu xác định các nguyên nhân và cơ chế hình
thành các tai biến địa chất ở vùng miền núi phía Bắc và đề xuất các giải pháp
phòng tránh; đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học cho các giải
pháp phòng tránh, hạn chế lũ lụt, đánh giá các tác nhân gây lũ lụt và xây dựng các
bản đồ chuyên cảnh báo lũ lụt.
3. Tác động của khoa học công nghệ trong các ngành KTQD
Kết quả trong các chương trình khoa học công nghệ đã góp phần tích cực
làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, nông – lâm - thuỷ sản,
bưu chính - viễn thông và y tế.
Trong nông nghiệp, các nhà khoa học đã tạo được hàng trăm giống cây
trồng, vật nuôi, đưa máy móc vào trong sản xuất cơ giới hoá, điện khí hoá nông
nghiệp làm tăng năng suất nông nghiệp. Mặt khác việc nâng đầu tư công nghệ
trong việc bảo quản nông sản phẩm đã góp phần nâng cao giá trị của hàng hoá
nông sản, làm tăng thu nhập cho người nông dân
Trong lâm nghiệp, nhờ áp dụng KH & CN, nhiều địa phương, lâm trường,
nông dân đã trồng rừng kinh tế có lãi. Đặc biệt công nghệ gen đã góp phần giữ lại
những giống cây lâm nghiệp quý hiếm.
Trong thuỷ sản, KH&CN đã góp phần đáng kể giúp ngành thuỷ sản đạt sản
lượng xuất khẩu hơn 2 tỷ $/ năm. Mới đây, chúng ta đã thành công trong việc sản
xuất các giống cua biển, ốc hương, cá song mở ra triển vọng mới cho phát triển sản
xuất các mặt hàng có giá trị kinh tế cao
Trong y tế, KH&CN đã tập trung vào hai hướng quan trọng là chăm sóc sức

khoẻ cộng đồng và ứng dụng công nghệ hiện đại trong chuẩn đoán và điều trị. Kết
quả nổi bật nhất là đã làm chủ việc sản xuất 9/10 loại vắc xin phục vụ chương trình
tiêm chủng mở rộng, thay thế 80% vắc xin nhập ngoại, góp phần giảm tỷ lệ mắc
một số bệnh.
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
Trong công nghiệp, đã làm chủ được các công nghệ trong ngành cơ khí và tự
sản xuất được các thiết bị công nghệ gia công, công nghệ hàn, mạ, sơn và ứng
dụng các phần mềm chuyên dụng trong thiết kế và sản xuất các sản phẩm cơ khí
Làm tăng năng suất sản xuất, các sản phẩm đa dạng về mẫu mã, chủng loại, chi phí
sản xuất giảm. Nhiều ngành công nghiệp mới ra đời, các ngành công nghiệp tăng
trưởng với tốc độ cao.
Trong giao thông vận tải, nhờ đổi mới công nghệ, trong đó có nhiều công
nghệ và thiết bị đo trong nước nghiên cứu tạo ra, ngành đã có nhiều thành quả. Ví
dụ: ngành đóng tàu đã có bước tiến vượt bậc, tổng sản lượng của Tổng công ty tàu
thuỷ năm 2004 đạt 7.500 tỷ đồng, tăng 17 lần so với năm 1996
Trong xây dựng, từ chỗ tiếp nhận chuyển giao và làm chủ công nghệ, đến
nay đã có khă năng tự thiết kế và thi công bằng các công nghệ tiên tiến nhất. Nhờ
vậy các sản phẩm của ngành xây dựng có thể cạnh tranh được với hàng ngoại đồng
thời duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.
II. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT
NAM
Chiến lược phát triển KH & CN là một nội dung qua trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm của Việt Nam; chiến lược phát triển KH & CN là
một bộ phận quan trọng, được coi là một giải pháp tạo động lực cho phát triển kinh
tế xã hội của đất nước.
Nội dung chính của chiến lược là:
- Huy động tối đa lực lượng KH&CN trong nước tập trung vào giải quyết
những nhiệm vụ KH & CN gắn với việc làm rõ giá trị sử dụng và khai thác các tài
nguyên, các lợi thế so sánh của đất nước phù hợp với năng lực khoa học công nghệ

hiện có như: các lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn, chế biến nông sản,
thực phẩm nhằm nâng giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu,
tạo việc làm và tăng thu nhập của đại bộ phận dân cư, góp phần ổn định xã hội.
- Tranh thủ công nghệ tiên tiến bên ngoài đáp ứng nhu cầu cấp bách về
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
đổi mới công nghệ, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân; nâng cao năng suất chất
lượng và tăng cường cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước,
phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đi thẳng vào các hướng công nghệ hiện đại
trong các lĩnh vực như: khai thác, chế biến dầu khí, năng lượng, điện tử, sản xuất
xi măng, dệt may ; những lĩnh vực cần có sự tương hợp quốc tế như: hạ tầng cơ
sở thông tin, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tài chính, hàng không, giao thông
vận tải Phát triển KH & CN phải tập trung vào hỗ trợ việc lựa chọn, tiếp thu,
làm chủ, thích nghi, cải tiến những công nghệ nhập hiện đại, tiến tới từng bước tạo
ra công nghệ cho trong nước và hướng tới xuất khẩu. Đồng thời coi trọng những
công nghệ thiết thực nâng cao ngay trình độ công nghệ của các ngành kinh tế,
trong đó chủ ý công nghệ cơ khí.
Để làm chủ, cải tiến công nghệ nhập khẩu và từng bước tạo ra công nghệ
trong nước, phải lựa chọn và nhanh chóng xây dựng năng lực KH & CN nội sinh
đối với một số hướng công nghệ chiến lược, tiêu biểu, phù hợp với nhu cầu và điều
kiện cụ thể của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung trên thế giới, như:
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá và cơ khí chế tạo,
công nghệ vật liệu.
Với tư tưởng chỉ đạo nêu trên, mục tiêu bao trùm của KH&CN nước ta trong
thời gian 10 năm tới là: KH&CN phải trở thành một yếu tố động lực của quá trình
CNH, HĐH rút ngắn của đất nướcc theo định hướng XHCN, phát triển bền vững,
hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế toàn cầu hoá và thu hệp khoảng cách với các
nước tiên tiến trong khu vực. Trong đó các mục tiêu tổng quát trong lĩnh vực KT –
XH chủ yếu của đất nước phải đạt được là :
+ KH&CN phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách, quy hoạch phát

triển KT-XH: giải quyết những vấn đề về phát triển KT – XH của đất nước, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam. KHXHNV tiếp tục tổng kết thực tiễn của
đất nước, đi sâu vào những vấn đề khu vực và quốc tế dưới tác động của xu thế
toàn cầu hoá, để có câu trả lời khoa học cho những vấn đề lý luận và thực tiễn làm
cơ sở cho quá trình hoạch định chính sách phát triển KT – XH và phát huy nhân tố
con người Việt Nam. Khoa học tự nhiên, chú trọng nghiên cứu cơ bản theo định
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
hướng ứng dụng, phục vụ trực tiếp cho phát triển của KH & CN và tạo nguồn nhân
lực, làm rõ giá trị sử dụng của nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho việc quy
hoạch phát triển KT – XH.
+ KH&CN phục vụ nông nghiệp - nông thôn. Thúc đẩy quá trình áp dụng
công nghệ sinh học hiện đại và công nghệ chế biến, khai thác những lợi thế của đất
nước nhiệt đới nhằm phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Trình độ
công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp đạt mức tiên tiến của các nước trong khu
vực, đảm bảo cho nông sản xuất khẩu đạt mức cạnh tranh ngang bằng với các nước
trong khu vực. KH & CN góp phần tích cực xác định và phát triển những sản phẩm
xuất khẩu đặc thù của các vùng sinh thái trọng điểm
+ KH&CN phục vụ công nghiệp.Theo định hướng thúc đẩy quá trình tiếp thu,
thích nghi và phát triển công nghệ nhập khẩu, một số ngành, lĩnh vực chủ yếu
trong công nghiệp tới năm 2010 có trình độ công nghệ trong sản xuất đạt mức tiên
tiến trong khu vực. Đặc biệt về lĩnh vực công nghệ phần mềm (tin học) được tập
trung phát triển như một lợi thế của của Việt Nam, cho phép chúng ta rút ngắn
khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực. Xây dựng ngành công nghiệp
phần mềm như một ngành mũi nhọn, có tính chiến lược trong tương lai.
+ KH&CN phục vụ các lĩnh vực dịch vụ, văn hoá, xã hội.Theo định hướng áp
dụng rộng rãi công nghệ thông tin và các lĩnh vực KH & CN khác trong các ngành
dịch vụ từ vận tải, du lịch, liên lạc viễn thông đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ;
phát triển kỹ thuật và công nghệ y dược đạt trình độ của khu vực nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giảm tỷ lệ mắc bệnh,

tăng thể lực, tăng tuổi thọ của nhân dân, phát triển nòi giống; góp phần xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong giao lưu, hội nhập
hài hoà với nền văn hoá tiến bộ của thế giới
+ KH&CN phục vụ phát triển bền vững. Đảm bảo các chỉ tiêu phát triển nhanh
về kinh tế, đồng thời bảo vệ môi trường, công bằng xã hội và an ninh - quốc
phòng, thể hiện đặc thù trong phương thức CNH – HĐH của nước ta.
III. Tồn tại lớn trong hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong thời
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
gian qua và giải pháp
1. Tồn tại
Có thể nói những đặc điểm chính của khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam trong
mấy chục năm qua là:
- Sự đóng góp còn rất hạn chế của KH&CN vào công cuộc phát triển đất nước
- Lực lượng làm KH&CN được đào tạo nhiều nhưng không làm việc hiệu quả
- Các chính sách và cách thức tổ chức hoạt động KH&CN còn nhiều bất cập.
Có thể tóm tắt những điểm nổi bật của bức tranh tổng quát về tình trạng khoa học và
công nghệ của Việt Nam hiện nay, như sau:
• Thứ nhất, có thể nói hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN ở Việt Nam
còn mờ nhạt: hoạt động nghiên cứu KH&CN có chất lượng thấp và KH&CN
chưa có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển đất nước.
Chất lượng thấp này có thể thấy rõ qua các thước đo khách quan như số lượng các công
trình công bố trên các tập san khoa học quốc tế uy tín và số bằng phát minh sáng chế.
Trong 10 năm qua, số lượng công bố của các nhà khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/3 của
Thái Lan và 2/5 của Malaysia. Hơn nữa, ở nhiều lĩnh vực, phần lớn những nghiên cứu
này là do hợp tác với nước ngoài, tức còn phụ thuộc vào “ngoại lực” quá nhiều. Trong
giai đoạn 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng phát minh,
trong khi cùng thời gian này Malaysia có 901 bằng phát minh. Thái Lan (310),
Philippines (256) và Indonesia (85) cũng đều có số bằng phát minh nhiều hơn Việt Nam
nhiều lần.

Ứng dụng và sáng tạo KH&CN trong sự phát triển của Việt Nam còn mờ nhạt, chưa
tương xứng với lực lượng đông đảo cán bộ KH&CN được đào tạo và chưa đáp ứng được
đòi hỏi của xã hội. Kinh phí đầu tư, chính sách và cách quản lý chưa cho thấy KH&CN
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
khó có thể trở thành yếu tố quyết định để Việt Nam thoát ra khỏi nhóm quốc gia chủ yếu
chỉ sản xuất sản phẩm đơn giản hay gia công hàng hóa. Hiện tại, phần lớn doanh nghiệp
làm ăn chưa dựa trên KH&CN và hầu hết không có liên kết chặt chẽ với các cơ sở
KH&CN.
• Thứ hai là số người được đào tạo để hoạt động KH&CN tuy rất đông với nhiều
bằng cấp, nhưng phần lớn không thật sự hoạt động KH&CN, mà lay lắt hoặc
“chân trong chân ngoài” với danh nghĩa làm KH&CN. Đội ngũ cán bộ KH&CN
còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu cán bộ
KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao. Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề
và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý.
• Thứ ba là chính sách và cách thức tổ chức hoạt động KH&CN còn nhiều bất cập:
- Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh
nghiệp. Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rất thiếu,
không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành.
- Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN
chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh
doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại
học và doanh nghiệp.
- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành
chính.
- Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo
và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức KH&CN chưa có
được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy

tính năng động, sáng tạo.
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
- Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học,
chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế tự chủ về tài
chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nên hiệu quả
còn hạn chế.
2. Nguyên nhân
Một là, Việt Nam thiếu một chiến lược KH&CN thích hợp nên chưa xác định được lộ trình của
KH&CN, và tập trung vào những hướng quan trọng rất cần cho phát triển đất nước và có
thể tạo ra thành quả ý nghĩa. Hạn chế này có phần do việc thiếu các chuyên gia đầu đàn ở
mức độ am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín quốc tế, có thể
lãnh đạo được những tập thể khoa học. Một nguyên nhân của tình trạng trên là: Tuy số
lượng cán bộ KH&CN của ta được đào tạo nhiều, nhưng hầu hết chỉ ở mức vừa xong giai
đoạn học việc (như có bằng tiến sĩ mới là xong giai đoạn học để thành người làm nghiên
cứu), thường không được rèn luyện thêm trong môi trường KH&CN phát triển để thành
nhà khoa học trưởng thành.
Hai là, các nhà khoa học Việt Nam chưa có được môi trường KH&CN thích hợp để có thể làm việc và
sáng tạo. Môi trường này gồm ba yếu tố cơ bản: điều kiện làm việc đủ tốt, lương đủ sống để tập trung
cho công việc, các chính sách hợp lý có tác dụng kích thích tinh thần sáng tạo, dấn thân vì khoa học .
Điều kiện làm việc ở phần lớn các đại học và các viện nghiên cứu của Việt Nam nói
chung còn thiếu thốn, chưa đủ để tiến hành nhiều đề tài quan trọng và tiên tiến trong khoa
học. Một số nơi có trang thiết bị tốt, lại không giải quyết được vấn đề tiền lương. Tiền
lương của người làm khoa học thấp vừa ảnh hưởng đến nội dung, chất lượng nghiên cứu
vừa gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, người có năng lực nghiên cứu cũng không chuyên
tâm với nghề mà phải xoay xở tìm thêm thu nhập ngoài lương.
Ba là, nhiều chính sách và cách quản lý đề tài KH&CN chưa hợp lý cũng góp phần làm ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng của nghiên cứu. Thí dụ tiêu biểu như cách tổ chức đề tài
khoa học còn nặng tính xin-cho, làm nhiều người làm nghiên cứu mất nhiều thì giờ chạy
dự án; việc tuyển chọn và nghiệm thu đề tài thiếu nghiêm túc nên rất nhiều đề tài không

13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
có ý nghĩa và giá trị khoa học. Những quy định, tiêu chuẩn hiện nay về việc phong các
chức danh giáo sư, phó giáo sư không khuyến khích các nhà khoa học hướng đến những
nghiên cứu quan trọng và thách thức, có giá trị khoa học cao hoặc cần cho sự phát triển,
mà dễ hướng đến những nghiên cứu dễ làm, những nơi dễ công bố để có đủ “điểm” thỏa
mãn các tiêu chuẩn phong chức danh, vốn không có ở bất kỳ nước nào khác. Đây thật sự
là những điều rất không hợp lý đã được nhiều nhà khoa học góp ý gần hai chục năm,
nhưng không được thay đổi.
Người làm nghiên cứu trong ngành khoa học xã hội còn luôn nỗi ám ảnh sợ “chệch
hướng”, mất lập trường, nên nói chung sáng tạo bị hạn chế, khoảng cách so với cộng
đồng khoa học thế giới càng lớn. Ngoài ra, ngược với yêu cầu rất cao về sự bình đẳng, sự
tự do tư duy của môi trường khoa học, việc mất dân chủ ở các cơ quan khoa học thường rất lớn,
nhiều trường hợp nội bộ mâu thuẫn, giành giật địa vị, hoàn toàn không xứng đáng với phẩm vị của
người làm khoa học.
3. Giải pháp
Để phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình
phát triển nhanh và bền vững, chúng ta cần phải:
Thứ nhất, hướng trọng tâm hoạt động khoa học, công nghệ vào phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng
suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện
đồng bộ các nhiệm vụ: Nâng cao năng lực, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa
học và công nghệ, tăng cường hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ.
Thứ hai, tăng nhanh năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm;
phát triển đồng bộ và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Nhà nước tập
trung đầu tư cho các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, các giải pháp khoa học, công
nghệ cho các sản phẩm chủ lực, mũi nhọn; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy
động mọi nguồn lực xã hội, nhất là của các doanh nghiệp cho phát triển khoa học,
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409

công nghệ. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ với các mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở từng cấp, ngành, địa phương và cơ sở.
Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa
học, công nghệ; phát huy vai trò, hiệu quả của các tổ chức khoa học, công nghệ
chủ lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm; phát
triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ.
Thứ tư, đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây
dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả ứng
dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ sang cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Thứ năm, phát triển các doanh nghiệp khoa học, công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ
và quỹ đầu tư mạo hiểm. Xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng,
đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học và công nghệ. Thực hành dân chủ, tôn trọng
và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì sự
phát triển của đất nước.
Thứ sáu, đẩy mạnh nghiên cứu - triển khai, ứng dụng công nghệ; phát triển hợp lý,
đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Khoa
học xã hội làm tốt nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu
hướng phát triển, cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách phát
triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ bảy, hướng mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ gắn với yêu cầu
phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm, gắn với đào tạo và sản xuất kinh
doanh. Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; có chính
sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ hiện đại, trước hết là đối
với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; ưu tiên phát triển công nghệ cao;
13
Môn Kinh tế Vĩ mô Nhóm 14. Lớp K12409
ứng dụng nhanh khoa học và công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp
nông thôn; sử dụng hợp lý công nghệ dùng nhiều lao động.
Thứ tám, nhanh chóng hình thành một số cơ sở nghiên cứu ứng dụng mạnh, đủ sức

tiếp thu, cải tiến công nghệ và sáng tạo công nghệ mới gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh;
phát huy hiệu quả các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Có chính sách
khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công
nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, mũi nhọn và đẩy mạnh sản xuất các sản
phẩm có hàm lượng công nghệ cao, trong đó ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Quan tâm đúng mức nghiên cứu cơ bản có trọng điểm, theo yêu cầu phát triển của
đất nước.
Thứ chín, chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng
cho phát triển kinh tế tri thức, như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệu mới, công nghệ môi trường Tập trung phát triển sản phẩm công
nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn trong một số ngành, lĩnh vực.
Thứ mười, hình thành hệ thống đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động khoa học và
công nghệ; thực hiện nghiêm túc các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, tập trung
phát triển và khai thác tài sản trí tuệ; mở rộng và nâng cao hệ thống tiêu chuẩn, quy
chuẩn đạt chuẩn mực quốc tế.

×