Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế thế giới là xu thế tất yếu và là yêu cầu khách quan đối với
nền kinh tế của một quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Ngày
07/11/2006, Việt Nam chính thức được kết nạp vào tổ chức thương mại thế giới
(WTO) sau gần 12 năm đàm phán. Đây là sự kiện có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu
sắc tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của nước ta. Gia nhập WTO, chấp nhận mở
cửa thị trường, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài cũng trở nên ngày
càng gay gắt hơn.Vì vậy, để các doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển một cách
vững chắc trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt thì tài chính doanh nghiệp là một
trong những lĩnh vực rất quan trọng và cần được doanh nghiệp quan tâm.
Và thực tế còn tồn tại hiện nay tại các doanh nghiệp Việt Nam là công tác
quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị tài chính nói riêng chưa dựa trên những
cơ sở khoa học, các quyết định quản trị, quyết định tài chính ít nhiều mang tính chủ
quan, cảm tính và hầu như chỉ dựa vào kinh nghiệm.
Xuất phát từ các nhận thức trên, tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại Công ty Nạo vét và xây dựng
đường thủy I” với mong muốn qua đó tìm hiểu quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, phân tính đánh giá tình hình tài chính và công tác quản trị tài chính tại công
ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I trong thời gian qua. Từ đó đưa ra một số biện
pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản trị tài chính, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh cho Công ty trong thời gian hiện tại và sắp tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phân tích hoạt động kinh doanh, phân tích hoạt động kinh tế doanh
nghiệp, trong đó phân tích đánh giá tình hình tài chính và công tác quản trị tài chính
doanh nghiệp luôn thu hút sự chú ý, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Nó đòi hỏi
sử dụng nhuần nhuyễn kiến thức tổng hợp: sử dụng các thông tin kế toán để phân
tích và ứng dụng những nguyên lý khoa học kinh tế để làm cơ sở cho việc ra các
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
1
Khóa luận tốt nghiệp
quyết định tài chính tối ưu nhất cho đối các chủ thể. Về hoàn thiện công tác quản trị
tài chính doanh nghiệp hiện đã có một số công trình nghiên cứu.
Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ đề cập đến vấn đề quản trị tài chính
doanh nghiệp dưới góc độ quản trị tài chính cho đối tượng sử dụng là bản thân
doanh nghiệp mà chưa chú ý tới các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong khi hoạt
động tài chính doanh nghiệp lại luôn nằm trong mối quan hệ mật thiết với các chủ
thể khác trong nền kinh tế.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản trị tài
chính tại Công ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I.
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm 3 nhóm vấn đề:
Nhóm 1: Tổng quan về quản trị tài chính doanh nghiệp
Nhóm 2: Đánh giá thực trạng quản trị tài chính tại Công ty Nạo vét và xây
dựng đường thủy I.
Nhóm 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính tại Công ty Nạo
vét và xây dựng đường thủy I.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận: nghiên cứu công tác quản trị tài chính ở doanh
nghiệp nói chung, Công ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I nói riêng. Trên cơ sở
đánh giá thực trạng hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp, xác định những
phương hướng, biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị tài chính doanh nghiệp
tại công ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
2
Khóa luận tốt nghiệp
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài cho thấy những tồn tại và bất cập trong công tác quản trị doanh nghiệp
nói chung và quản trị tài chính nói riêng tại Công ty Nạo vét và xây dựng đường
thủy I .Việc nghiên cứu là cơ sở để khắc phục các tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm
nhằm hoàn thiện hơn công tác quản trị tài chính nâng cao năng lực tài chính doanh
nghiệp, đồng thời đưa ra một số giải pháp tài chính để nhà quản lý có thể sử dụng
trong các quyết định tài chính của mình.
7. Nội dung khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về quản trị tài chính của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản trị tài chính tại Công ty Nạo vét và xây dựng
đường thủy I.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản trị tài chính tại
Công ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
3
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế,
là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải
có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết. Quá trình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ
gắn liền với hoạt động đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thường xuyên của
doanh nghiệp, các luồng tiền đó bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền
tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh
nghiệp.
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của
doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan
hệ tài chính trong doanh nghiệp.
* Các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh
khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn
vào doanh nghiệp.[1,tr10]
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này thể hiện
thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính,
doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát
hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh
nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp
cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa
sử dụng.[1,tr10]
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
4
Khóa luận tốt nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế
doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng
hoá, dịch vụ và thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh
nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động… Điều
quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu
hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định
ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường.
[1,tr11]
- Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đây là mối quan hệ tài
chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh
doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa
quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.[1,tr11]
Từ những vấn đề trên có thể rút ra:
“ Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ
tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt
tới các mục tiêu của doanh nghiệp”. [9,tr3]. Các hoạt động có liên quan đến việc tạo
lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp.
Tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng nhằm đạt tới các mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp.
1.1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ vị trí
quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp. Hầu hết mọi quyết định khác đều
dựa trên những kết quả rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong quản trị tài
chính doanh nghiệp. Vì vậy, Quản trị tài chính là một lĩnh vực quản trị của doanh
nghiệp.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
5
Khóa luận tốt nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có nhiều
vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra quyết định tài chính
đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy một cách kịp thời và khoa học, có
như vậy doanh nghiệp mới có thể đứng vững và phát triển.
Để tồn tại và phát triển trong hoạt động kinh doanh thì các hoạt động của
doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở về mặt chiến lược và mặt chiến thuật. Về mặt
chiến lược, phải xác định ra mục tiêu kinh doanh,các hoạt động dài hạn nhằm phát
triển doanh nghiệp và chính sách tài chính của doanh nghiệp. Về mặt chiến thuật.
Về mặt chiến thuật, phải xác định công việc trong thời gian ngắn những tác nghiệp
để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp. Các quyết định về mặt chiến
lược và mặt chiến thuật được lựa chọn chủ yếu trên cơ sở phân tích, cân nhắc về tài
chính.
Tóm lại, Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản trị doanh
nghiệp thực hiện những nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các quan hệ
tài chính nảy sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu
của doanh nghiệp.[5,tr3]
Quản trị tài chính doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích và
sử lý các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ quản
lý tài chính và đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và có hiệu quả.
● Nguyên tắc quản trị tài chính doanh nghiệp
▪ Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận
Quản trị tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Nhà
đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tùy thuộc vào mức độ rủi ro mà họ
chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn. Khi họ bỏ tiền vào những dự
án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao.
▪ Nguyên tắc chi trả
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần đảm bảo mức ngân quỹ tối
thiểu để thực hiện chi trả. Do vậy, điều đáng quan tâm ở các doanh nghiệp là các
dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán. Dòng tiền vào và dòng tiền ra được tái
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
6
Khóa luận tốt nghiệp
đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí. Không những thế, khi
đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà doanh nghiệp cần tính đến dòng tiền tăng
thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế.
▪ Nguyên tắc sinh lời
Nguyên tắc quan trọng đối với các nhà quản trị tài chính không chỉ là đánh
giá các dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm
các dự án sinh lời. Trong thị trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó có thể kiếm được
nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt.
Muốn vậy, cần phải biết các dự án sinh lời tồn tại như thế nào và đang ở đâu trong
môi trường cạnh tranh. Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết làm giảm tính
cạnh tranh của thị trường thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản
phẩm cạnh tranh bằng cách đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh.
▪ Nguyên tắc hành vi đạo đức và trách nhiệm đối với xã hội
Nguyên tắc hành vi đạo đức và có trách nhiệm đối với xã hội có vị trí tối
quan trọng. Hành vi đạo đức có nghĩa là việc làm đúng đắn. Mặc dù khó có thể định
nghĩa việc làm đúng đắn, nhưng mỗi người có một thước đo giá trị để làm nền tảng
cho hành vi của mình, điều gì đúng để làm. Trong một chừng mực nào đó, có thể
coi luật lệ, quy tắc phản ánh tiêu chuẩn xử sự trong xã hội mà nhà quản lý tài chính
phải tuân theo. Những hành vi vô đạo đức sẽ làm mất niềm tin từ người tiêu dùng
cũng như toàn xã hội, mà thiếu niềm tin thì doanh nghiệp không thể thực hiện được
hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, nhà quản lý tài chính doanh nghiệp cũng cần có
trách nhiệm đối với xã hội ngoài việc tối đa giá trị tài sản cho các cổ đông.
1.2. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp
giữ những vai trò chủ yếu sau:
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
7
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.1 Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động của doanh
nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu
vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp
cũng như cho đầu tư phát triển. Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể
hiện ở chỗ xác định đúng các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương thức và hình thức
huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn
cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên
ngoài. Do vậy, vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong
việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho
doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức hợp
lý.
1.2.2 Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc
tổ chức sử dụng vốn. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ
rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu. Việc huy động kịp thời
các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể chớp được các cơ
hội kinh doanh. Mặt khác, việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh
doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng
thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay.
Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng
các hình thức thưởng phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ
công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp
phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
8
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.3 Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thông qua các hình thức, thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và
thực hiện các chỉ tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có
thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát
hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra
các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biện thực tế kinh doanh.
[4,tr 4]
1.3. Nội dung quản trị tài chính
1.3.1 Tham gia đánh giá, lựa chọn, các dự án đầu tư về kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh
nghiệp cùng hợp tác thực hiện. Trên góc độ tài chính, điểm chủ yếu cần phải xem
xét là hiệu quả chủ yếu của tài chính tức là xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra,
những rủi ro có thể gặp phải và khả năng có thể thu lợi nhuận, khả năng thực hiện
dự án. Trong việc phân tích lựa chọn, đánh giá các dự án tối ưu, các dự án có mức
sinh lời cao, người quản trị tài chính là người xem xét việc sử dụng vốn đầu tư như
thế nào; trên cơ sở tham gia đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư, cần tìm ra định hướng
phát triển doanh nghiệp, khi xem xét việc bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư cần chú ý
việc tăng cường tính khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo đạt được
hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như lâu dài.
1.3.2 Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho
các hoạt động của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn. Bước vào hoạt động
kinh doanh, quản trị tài chính doanh ngiệp cần phải xác định các nhu cầu vốn cấp
thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ. Vốn hoạt động gồm có vốn
dài hạn và vốn ngắn hạn, và điều quan trọng là phải tổ chức huy động các nguồn
vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. Để đi đến
việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp doanh
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
9
Khóa luận tốt nghiệp
nghiệp cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu vốn, chi phí cho việc sử
dụng các nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của các hình thức huy động vốn.
1.3.3 Tổ chức sử dụng các số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi,
đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huy động
tối đa các số vốn hiện có vào các hoạt động kinh doanh, giải phóng các nguồn vốn
bị ứ đọng. Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi bán hàng và các khoản
thu khác, quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp. Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền
mặt để đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán. Mặt khác, cũng cần
xác định rõ các khoản chi phí phải nộp, xác định các khoản chi nào là chi phí cho
hoạt động kinh doanh và những chi phí thuộc về các hoạt động khác. Những chi phí
vượt quá định mức quy định hay những chi phí thuộc về các ngành kinh phí khác tài
trợ, không được tính là chi phí hoạt động kinh doanh.
1.3.4 Thực hiện việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp.
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử
dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển
doanh nghiệp và cải thiện đời sống của công nhân viên chức. Lợi nhuận là mục tiêu
của hoạt động kinh doanh, là một chỉ tiêu mà doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm
ví nó liên quan đến sự tồn tại và phát triển mở rộng của doanh nghiệp. Không thể
nói doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hiệu quả trong khi lợi nhuận của doanh
nghiệp lại giảm. Doanh nghiệp cần có phương pháp tối ưu trong việc phân chia lợi
tức doanh nghiệp, trong việc xác định tỷ lệ các quỹ của doanh nghiệp như : quỹ đầu
tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng.
1.3.5 Đảm bảo việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt
động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính.
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ
tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động của
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
10
Khóa luận tốt nghiệp
doanh nghiệp. Phân tích tài chính nhằm đánh giá điểm mạnh và những điểm yếu về
tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó có thể giúp
cho nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong việc đánh giá tổng quát tình hình hoạt động
của doanh nghiệp, những mặt mạnh và những điểm yếu còn hạn chế trong hoạt
động kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư, tiền vốn,
hiệu quả hoạt động kinh doanh, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về
sản xuất tài chính, xây dựng được một kế hoạch tài chính khoa học, đảm bảo mọi tài
sản, tiền vốn và mọi nguồn tài chính của doanh nghiệp được sử dụng một cách hiệu
quả nhất.
1.3.6 Thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính.
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến thông qua việc
lập kế hoạch tài chính. Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công cụ cần thiết
cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động
của thị trường. Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình ra quyết
định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.[4,tr 5 – tr6].
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quá quản trị tài chính
1.4.1 Nhóm tỷ số về cơ cấu tài sản và nguồn vốn
▪ Tỷ suất cơ cấu tài sản
Tỷ suất cơ cấu tài sản
=
TSLĐ và Đầu tư ngắn hạn
TSCĐ và Đầu tư dài hạn
▪ Tỷ suất TSLĐ và nguồn vốn thường xuyên
Tỷ suất TSLĐ và nguồn
vốn thường xuyên
=
TSLĐ và Đầu tư ngắn hạn
Nguồn vốn thường xuyên
Tỷ số này cho biết một đồng TSLĐ và Đầu tư ngắn hạn được đầu tư bởi bao
nhiêu đồng vốn thường xuyên.
▪ Tỷ suất TSLĐ và nguồn vốn ngắn hạn
Tỷ suất TSLĐ và nguồn
vốn ngắn hạn
=
TSLĐ và Đầu tư ngắn hạn
Nguồn vốn ngắn hạn
Tỷ số này cho biết một đồng TSLĐ và Đầu tư ngắn hạn được đầu tư bởi bao
nhiêu đồng vốn ngắn hạn.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
11
Khóa luận tốt nghiệp
T su t t t i tr t i s n c nh▪ ỷ ấ ự à ợ à ả ố đị
=
Nguồn vốn chủ sở hữu
TSCĐ
* Ý nghĩa: Hệ số tự tài trợ tài sản cố định cho thấy số vốn tự có của doanh nghiệp
dùng để trang bị tài sản cố định là bao nhiêu.
Doanh nghiệp nào có khả năng tài chính vững vàng và lành mạnh thì hệ số
này thường lớn hơn 1. Và sẽ là điều mạo hiểm khi doanh nghiệp phải đi vay ngắn
hạn để mua sắm tài sản cố định. Vì tài sản cố định thể hiện năng lực sản xuất kinh
doanh lâu dài nên không thể thu hồi nhanh chóng được.
1.4.2 Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán
Đây là những chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như người đầu tư,
người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt ra câu hỏi: hiện
doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn không?
▪ Khả năng thanh khoản (Liquidity Ratios)
Khả năng thanh toán hiện hành
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Chỉ số hiện hành thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với
nợ ngắn hạn, là chỉ tiêu đánh giá tốt nhất khả năng thanh toán ngắn hạn, mà giá trị
càng lớn thì phản ánh khả năng thanh toán càng cao.
Để có căn cứ đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi cho vay thì
chỉ số được đa số các chủ nợ chấp nhận là 2. Ngoài việc căn cứ vào chỉ số để đánh
giá khả năng thanh toán là tốt hay xấu, cũng cần xem xét các yếu tố sau:
+ Bản chất kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Cơ cấu tài sản lưu động;
+ Hệ số vòng quay của một số tài sản lưu động.
▪ Khả năng thanh toán nhanh:
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
12
Khóa luận tốt nghiệp
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh cũng tương tự như tỷ số khả năng thanh toán
hiện hành, nhưng là số đo thanh khoản chặt chẽ hơn một chút vì nó loại trừ tồn kho
ra khỏi tài sản hiện hành.
Khả năng thanh toán nhanh
=
Tài sản lưu động - hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Chỉ số nhanh thể hiện khả năng về tiền mặt và các loại tài sản có thể
chuyển ngay thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn.
Nói chung, hệ số này thường biến động trong khoảng từ 0,5÷1 thì khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt. Tuy nhiên, để kết luận hệ số thanh
toán nhanh là tốt hay xấu ở một doanh nghiệp cụ thể còn cần xét đến bản chất kinh
doanh và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp đó. Ngoài ra, khi phân tích cung
cần xem xét đến phương thức thanh toán mà khách hàng được hưởng; kỳ hạn thanh
toán nhanh hay chậm cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
▪ Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh
toán tức thời
=
Tiền
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh khoản cao thì rủi ro thanh khoản sẽ thấp, tuy nhiên lợi nhuận
có thể thấp vì tiền mặt nhiều, phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều.
Khả năng thanh khoản thấp thì rủi ro thanh khoản sẽ cao, tuy nhiên lợi nhuận
có thể cao vì tài sản lưu động được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn đầu tư cho tài sản
lưu động nhỏ, ROA và ROE có thể tăng.
1.4.3 Khả năng Quản lý Vốn vay (Debt Management Ratios)
Tỷ số này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh
nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý nghĩa nghĩa
quan trọng trong phân tích tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn của chủ sở
hữu doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các
món nợ. Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số
vốn thì rủi ro xảy ra trong sản xuất - kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu.
Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
13
Khóa luận tốt nghiệp
quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu được
lợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận danh cho các chủ doanh nghiệp sẽ gia tăng đáng
kể.
▪ Chỉ số nợ:
Chỉ số nợ
=
Tổng nợ
Tổng tài sản
Chỉ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ tài chính của chủ doanh
nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số
nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo
trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh
nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn
quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song, nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi
vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
▪ Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả
lãi hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể hiện khả
năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản.
▪ Khả năng thanh toán tổng quát
Khả năng thanh toán tổng quát
=
Tổng tài sản
Tổng nợ
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
14
Khóa luận tốt nghiệp
1.4.4. Khả năng Quản lý tài sản (Asset Management Ratios)
Nhà phân tích tài chính sử dụng các tỷ số sử dụng tài sản để đo lường hiệu
quả sử dụng các tài sản của doanh nghiệp. Họ phân tích các tài sản đặc biệt và theo
loại các tài sản.
▪ Vòng quay hàng tồn kho
Tỷ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện doanh nghiệp đã chuyển hàng tồn kho
thành hàng doanh thu bán hàng hiệu quả như thế nào. Nếu doanh nghiệp có hàng
tồn kho bán chạy, giá trị của tỷ số này sẽ cao. Nếu hàng tồn kho không được bán
chạy vì thiếu hụt nhu cầu hay nếu có tồn kho vượt mức, giá trị của tỷ số này thấp.
Vòng quay hàng tồn kho
=
Doanh thu (giá vốn hàng bán)
Hàng tồn kho
Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
▪ Kỳ thu nợ bán chịu
Kỳ thu nợ bán chịu đo lường trung bình bao nhiêu ngày thì khách hàng của
doanh nghiệp làm những thanh toán của họ. Các nhà quản lý, đặc biệt là quản lý tín
dụng, sử dụng tỷ số này để quyết định khách hàng nào sẽ được mở rộng cung cấp
tín dụng mua hàng.
Kỳ thu nợ bán chịu
=
Khoản phải thu
* 360
Doanh thu
▪ Vòng quay Tài sản cố định (hiệu suất sử dụng tài sản cố định)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
trong một năm.
Vòng quay tài sản cố định
=
Doanh thu thuần
Tài sản cố định bq
▪ Vòng quay tài sản lưu động:
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
15
Khóa luận tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh
thu.
Vòng quay tài sản lưu động
=
Doanh thu thuần
Tài sản lưu động bq
▪ Vòng quay tổng tài sản (Hiệu suất sử dụng tổng tài sản)
Tỷ số này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay tổng tài sản
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bq
Vòng quay tổng tài sản do lường doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả như
thế nào. Nếu doanh nghiệp có nhiều tài sản không tạo ra được nhiều doanh thu, khi
đó tỷ số vòng quay tổng tài sản sẽ thấp. Một doanh nghiệp có tỷ số này cao cho thấy
tài sản của nó giúp nâng cao doanh thu bán hàng.
1.4.5. Khả năng sinh lợi (Profitability Ratios)
● Doanh lợi doanh thu sau thuế ROS
ROS
=
Lãi ròng
Doanh thu
Chỉ số này cho biết trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lãi vay cho
chủ sở hữu.
● Doanh lợi trước thuế (BEP – Basic earning Power) (sức sinh lợi cơ sở)
BEP
=
EBIT
Tổng tài sản
(Trong đó: EBIT là thu nhập trước lãi vay và thuế)
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu
đồng lãi cho toàn xã hội.
Chỉ số này cho phép so sánh các doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác nhau và thuế
suất thu nhập khác nhau.
● Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA)
ROA
=
Lãi ròng
Tổng tài sản
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
16
Khóa luận tốt nghiệp
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu
đồng lãi cho chủ sở hữu.
● Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE
=
Lãi ròng
Vốn chủ sở hữu
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp góp
phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu.
Đây là một chỉ số tài chính quan trọng nhất và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu.
1.4.6. Chỉ số giá trị thị trường
Các tỷ số này chủ yếu dựa vào thông tin trên thị trường tài chính, như là giá
thị trường của cổ phiếu thường. Các tỷ số giá trị thị trường đo lường sự chấp nhận
của thị trường đối với lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp, được phản ánh trong
giá cổ phiếu thường.
● Tỷ số giá trên lợi nhuận
P/E
=
Giá thị trường của cổ phiếu
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Các nhà đầu tư và quản lý sử dụng tỷ số P/E để đo lường triển vọng tương lai
của một doanh nghiệp, tỷ số này đo lường các nhà đầu tư sẵn lòng trả cho khoản
đầu tư vào một đồng lợi nhuận trên một cổ phiếu thường của doanh nghiệp là bao
nhiêu. Nhà đầu tư càng sẵn lòng trả cho giá trị EPS nhiều bao nhiêu thì họ càng tin
tưởng vào sự tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp- đó là tỷ số P/E càng cao, thì
sự kỳ vọng vào tăng trưởng của nhà đầu tư càng cao.
● Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách:
Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách là giá trị thị trường trên một cổ phiếu
chia cho giá trị ghi sổ kế toán của một cổ phiếu (BPS). Tỷ số ghi sổ kế toán được
dựa theo giá trị ghi trên bảng cân đối tài sản chia theo số lượng cổ phiếu thường.
Giá thị trường/Giá sổ sách
=
Giá thị trường của cổ phiếu
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
17
Khóa luận tốt nghiệp
Giá sổ sách của cổ phiếu
1.4.7 Các đẳng thức Du pont
- Đẳng thức Du Pont thứ nhất:
ROA
=
Lãi ròng
=
Lãi ròng
x
Doanh thu
Tổng tài sản Doanh thu Tổng tài sản
= ROS x Vòng quay tổng tài sản
Có 2 hướng để tăng ROA: tăng ROS và tăng vòng quay tổng tài sản.
Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và
tăng giá bán.
Muốn tăng vòng quay tổng tài sản cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách
giảm giá bán và tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng.
Đẳng thức Du Pont thứ 2:
ROE
=
Lãi ròng
=
Lãi ròng
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
=
ROA
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Có 2 hướng để tăng ROE: tăng ROA và tỷ số Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu.
Muốn tăng ROA cần làm theo đẳng thức Du pont 1.
Muốn tăng tỷ số Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu cần phấn đấu giảm vốn chủ sở
hữu và tăng nợ. Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao lợi nhuận của chủ sở hữu
càng cao.
Đương nhiên khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng.
Đẳng thức Du Pont tổng hợp
ROE =
Lãi ròng
x
Doanh thu
x
Tổng tài sản
Doanh thu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
=
ROS
x
Vòng quay tổng
tài sản
x
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
ROE phụ thuộc 3 nhân tố: ROS, ROA và tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu.
Các nhân tố này có thể ảnh hưởng trái chiều nhau đối với ROE.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
18
Khóa luận tốt nghiệp
Phân tích Du Pont là xác định ảnh hưởng của 3 nhân tố này đến ROE của
doanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân làm tăng giảm chỉ số này.
Việc phân tích ảnh hưởng này được tiến hành theo phương pháp thay thế liên
hoàn.
1.4.8 Hệ thống đòn bẩy trong doanh nghiệp
Mục đích sản xuất kinh doanh là thu lợi nhuận, do đó các nhà quản lý thường
dùng một số công cụ để gia tăng lợi nhuận. Các công cụ đó là: Đòn bẩy tài chính,
đòn bẩy kinh doanh và sử dụng tổng hợp hai loại đòn bẩy trên.
a. Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là tỷ lệ giữa vốn đi vay so với tổng số vốn hiện có. Đôi khi
người ta còn gọi là hệ số nợ. Hệ số nợ dùng để đo lường mức độ góp vốn của chủ sở
hữu với số nợ vay, nó có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt và được coi như một
chính sách tài chính của doanh nghiệp.
Đòn bẩy tài chính được sử dụng để đánh giá chính sách vay nợ được sử dụng
trong việc điều hành doanh nghiệp. Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay
đổi do đó đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có hệ số nợ cao và
ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất nhỏ trong khi các doanh nghiệp có hệ số nợ thấp.
Những doanh nghiệp không mắc nợ (hệ số nợ bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài
chính. Như vậy đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm vào hệ số nợ. Khi đòn bẩy tài chính
cao, thì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng có thể
làm tăng một tỷ lệ cao hơn về doanh lợi vốn chủ sở hữu, nghĩa là doanh lợi vốn chủ
sở hữu rất nhạy cảm khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay biến đổi.
Như vậy, mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính được xác định như là tỷ lệ
thay đổi về doanh lợi vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi về lợi nhuận trước
thuế và lãi vay phải trả.
Mức độ ảnh hưởng của
đòn bẩy tài chính (DFL)
=
Tỷ lệ thay đổi về doanh lợi vốn CSH
Tỷ lệ thay đổi về LN trước thuế và LV
b. Đòn bẩy kinh doanh
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
19
Khóa luận tốt nghiệp
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phí
biến đổi. Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh rất lớn ở những doanh nghiệp nào có chi
phí cố định cao hơn chi phí biến đổi. Nhưng đòn bẩy kinh doanh chỉ tác động tới lợi
nhuận trước thuế và lãi vay bởi lẽ hệ số nợ không ảnh hưởng tới độ lớn của đòn bẩy
kinh doanh.
Mức độ ảnh hưởng của
đòn bẩy tài chính (DOL)
=
Tỷ lệ thay đổi về LN trước thuế và LV
Tỷ lệ thay đổi của doanh thu
c. Phối hợp đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh
Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính phụ thuộc vào các hệ số nợ, không
phụ thuộc vào kết cấu chi phí cố định và chi phí biến đổi của doanh nghiệp. Do đó,
đòn bẩy tài chính chỉ tác động tới lợi nhuận sau thuế và lãi vay, vì vậy khi ảnh
hưởng của đòn bẩy kinh doanh chấm dứt thì ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính sẽ
thay thế để khuyếch đại lợi nhuận của vốn chủ sở hữu khi doanh thu thay đổi. Vì lẽ
đó người ta có thể tổng hợp đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính thành một đòn
bẩy tổng hợp.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
20
Khóa luận tốt nghiệp
Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tổng hợp được xác định như sau:
Mức độ ảnh hưởng của
đòn bẩy tổng hợp =
Mức độ ảnh hưởng
của đòn bẩy kinh
doanh
x
Mức độ ảnh hưởng
của đòn bẩy tài
chính
DTL = DOL x DFL
1.5. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp.
1 5.1 Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Theo tổ chức pháp lý của doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện nay có các
loại hình thức doanh nghiệp chủ yếu sau:
- Doanh nghiệp nhà nước
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Doanh nghiệp tư nhân.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các
doanh nghiệp trên có ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ
chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phối lợi nhuận.
1.5.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ
tới quản trị tài chính doạnh nghiệp. Mỗi ngành kinh doanh có những đặ điểm về mặt
kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Những ảnh hưởng đó thể hiện:
▪ Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của
doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ
thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển
vốn ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả.
▪ Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
21
Khóa luận tốt nghiệp
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu sử dụng
vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn
thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có các biến
động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp
doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như việc
tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh. Những doanh nghiệp sản xuất
ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu động
tương đối lớn; doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ thì
nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu
về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp
khó khăn. Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối
giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn.
1.5.3 Môi trường kinh doanh
▪ Sự ổn định của nền kinh tế
Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh hưởng
trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn
của doanh nghiệp.
Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh
doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng
tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc
thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản.
▪ Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế.
Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh hưởng
lớn tới doanh nghiệp, do đó có ảnh hưởng lớn đến khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Cơ
cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả. Sự
tăng giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng có ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự
hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
22
Khóa luận tốt nghiệp
lường khả năng huy động vốn vay. Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp
tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư.
Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân
tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị
trường tài chính.
▪ Sự cạnh trạnh trên thị trường và sự tiền bộ kỹ thuật công nghệ
Sự cạnh tranh sản phẩm đang sản xuất và các sản phẩm tương lai giữa các
doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên
quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một
nền kinh tế luôn biến động.
Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh
nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình
hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường từ đó đề ra những chính sách thích
hợp cho doanh nghiệp.
▪ Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp
▪ Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tài chính trung
gian
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
23
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
NẠO VÉT VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG THỦY I
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Nạo vét và xây dựng đường thủy I
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty nạo vét và xây dựng
đường thủy I
Trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng đường thuỷ
Địa chỉ: Số 8 Nguyễn Tri Phương – Hồng Bàng – Hải Phòng
Điện thoại: 031.3842806
Fax: (84.31)3841695
Email:
Công ty Nạo vét và xây dựng đường thuỷ I được thành lập ngày
16/02/1957 .ngày đầu với tên là Công ty tầu cuốc. Khi mới thành lập đơn vị trực
thuộc Cục vận tải đường thuỷ, Bộ giao thông vận tải và Bưu Điện. Công ty được
thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là nạo vét, trục vớt các chướng ngại vật, thông
luồng đường thuỷ ở Hải Phòng và các tuyến sông trên Miền bắc, góp phần giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế.
Ban đầu khi mới thành lập, từ sự tiếp nhận trụ sở của Sở thuỷ lục lộ đóng tại
Bến Bính phố Juy - lơ (đội khảo sát 6, đường Cù Chính Lan hiện nay) toàn bộ hệ
thống quản lý của Sở là 20 người Pháp và 40 người Việt nam. Công ty tầu cuốc có
các phòng kỹ thuật, kế hoạch, công trình, nhân sự, tiền lương, xưởng sửa chữa, âu
đà, kho cấp vật liệu. Nhiệm vụ là phục vụ công trình xây dựng, mở rộng cảng, nạo
vét thông luồng trên toàn xứ Bắc kỳ và Trung Kỳ. Ngày 16/02/1957 Bộ giao thông
vận tải và Bưu Điện ra nghị định số 34 - NĐ tách ty tầu cuốc ra khỏi Cảng Hải
Phòng và thành lập Công ty tầu cuốc trực thuộc Cục vận tải đường thuỷ, ông
Trương văn Kỳ được chỉ định làm Giám đốc.
Tổng số cán bộ công nhân thủ thuỷ có 453 người với trang thiết bị máy móc:
có tầu cuốc Đình Vũ, Cát bà, Cửa Cấm, tầu cuốc 1954, tầu lai gồm TC1, TC2, TC3,
TC4, TC5 và tầu Hòa bình, sà lan gồm 8 chiếc SL1, SL2, SL3, SL4, SL5, SL6, SL7,
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
24
Khóa luận tốt nghiệp
SL8 và 01 sà lan chở nước 50 tấn, 02 sà lan chở than. Ca nô gồm X01, X02, X03.
Tổ đo dò và thợ lặn thuộc ban kế hoạch và công trình. Tổ sửa chữa thuộc ban kỹ
thuật cơ khí. Tổ kho vật liệu thuộc ban cung ứng. Công tác tổ chức, sắp xếp lực
lượng lao động, phương tiện, tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng phù hợp với
cơ sở Quốc doanh có tầm cỡ quốc gia.
Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ từ năm 1964
đến năm 1973 Công ty đã tham gia nạo vét Kênh đào nhà Lê Thanh Hoá- Nghệ An
để tiếp hàng cho chiến trường phía Miền nam, rà phá bom mìn, thuỷ lôi do Mỹ ném
xuống để phong toả Cảng Hải Phòng. Những năm đó Công ty vừa sản xuất và làm
nhiệm vụ phục vụ cho giao thông vận tải cho tiền tuyến đã lập được nhiều thành
tích mà Đảng và Nhà nước trao tặng. Sau khi kết thúc chiến tranh.
Từ năm 1975 đến năm 1983 Công ty có những nhiệm vụ chủ yếu:
1. Nạo vét đảm bảo giao thông các tuyến sông trên toàn Miền Bắc. Công ty
có 4 tầu hút loại 3D6, 10 tầu hút xén thổi loại 3D12, 4 tầu cuốc nhiều gầu tầu cuốc
TC57, TC58, TC66, TC85 và các 12 tầu lai, 6 ca nô, 4 xưởng nổi, 2 sà lan chở nước
phục vụ công tác nạo vét đảm bảo giao thông.
2. Trục vớt thanh thải các chướng ngại vật bị đắm trên luồng tầu chạy. Công
ty có các Cần cẩu trục vớt sà lan lặn.
3. Sửa chữa các phương tiện thuỷ của Công ty và các đơn vị khác. Công ty
có hai xưởng sửa chữa là xưởng sửa chữa X400 đóng tại km9 đường 5 , xưởng sửa
chữa X500 tại xã An Tràng Kiến An. Công ty có nhiều máy tiện, máy phay, máy
hàn, máy búa và các công cụ khác.
4. Sản xuất vật liệu xây dựng Công ty có nhà máy xi măng Minh Đức đóng
tại xã Minh Đức huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Theo quyết định của Bộ giao thông vận tải và Bưu Điện Công ty tầu cuốc
được đổi thành Xí nghiệp nạo vét trục vớt đường sông I thuộc Liên hiệp các xí
nghiệp nạo vét sông Biển, có nhiệm vụ nạo vét và trục vớt, khơi thông luồng lạch từ
khu Bốn trở ra. Đầu tháng 12 năm 1984 do yêu cầu tình hình của Liên hiệp, đội trục
tầu chuyển sang đơn vị mới. Vì vậy cuối tháng 12 năm 1984 Xí nghiệp lại đổi tên
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thái Sơn
Sinh viên thực hiện : Mạc Thị Đông - Lớp QTKD BK8
25