CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP
CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI
HOÀNG THÀNH
GV HƯỚNG DẪN: ĐỖ THỊ HẠNH
SV THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ DOAN
MSSV : 10006733
LỚP : CDKT12BTH
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 1 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2013
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 2 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHÍ PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
1.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa
và các hao phí cần thiết khác mà Doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất thi
công trong một thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất của DN xây lắp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn
tại và hoạt động sản xuất của DN, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh
doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp cho từng kỳ phù hợp với kỳ báo cáo
kế toán. Trong đó, những chi phí sản xuất mà DN bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi
phí sản xuất trong kỳ.
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
• Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí:
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia ra như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là tất cả những chi phí về nguyên vật liệu chi
ra để cấu tạo nên thực thể công trình như vật liệu chính ( gạch, đá, cát, xi măng, sắt
thép…) các cấu kiện bê tông và các phụ gia khác. Giá trị vật liệu kể trên được tính theo
giá thực tế gồm giá mua trên hóa đơn của người bán và các khoản chi phí thu mua thực tế
như vận chuyển, bốc dỡ, chi phí thuê kho bãi.
Trong chi phí nguyên vật liệu không bao gồm các laoij vật liệu phụ, nhiên liệu
dung cho máy thi công, các loại vật liệu làm công trình tạm như lán che mưa, các chi phí
vận cuyển trên công trường nằm ngoài cự ly định mức lao động và định mức sử dụng
máy thi công.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ tiền lương chính, lương phụ, phụ
cấp, tiền thưởng và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất làm công
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 1 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
tác xây lắp, công nhân vận chuyển vật liệu trong thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo
dưỡng, quét đường, công nhân dọn dẹp vật liệu trên công trường, công nhân tháo ghép
cốp pha, giàn giáo… Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương trả theo thời gian,
trả theo sản phẩm, trả giờ làm thêm, trả tiền thưởng về tăng năng suất lao động. Nhưng
khoản mục này không bao gồm tiền lương và các khoản có tính chất lương của công nhân
điều khiển máy móc thi công, tiền lương công nhân vận chuyển vật liệu ngoài cự ly thi
công.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là các khoản chi phí trực tiếp liên quan
đến việc sử dụng máy móc để sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm tiền khấu hao máy
móc, tiền lương chính của công nhân điều khiển máy, chi phí về nhiên liệu, động lực
dùng cho máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí trực
tiếp phục vụ cho sản xuất của đội công trình xây dựng nhưng không được tính cho một
đối tượng cụ thể. Nội dung của chi phí sản xuất chung bao gồm: tiền lương của bộ phận
quản lý đội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định,
khấu hoa TSCĐ dùng cho quản lý đội, chi phí hội họp, tiếp khách, điện thoại, điện nước
và các chi phí bằng tiền khác.
• Phân loại chi phí theo quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí có thể chia ra thành chi phí trực tiếp và chi phí
gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí là chi phí có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất
và tạo ra sản phẩm, một công việc nhất định, bao gồm nguyên vật liệu xây dựng, tiền
lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan tới việc tạo ra nhiều
loại sản phẩm, công việc. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tương tự như chi phí chi phí
trực tiếp nhưng những chi phí này phát sinh ở bộ phận quản lý đội, phân xưởng sản xuất
của đơn vị xây lắp. Vì vậy, kế toán phải phân bổ cho các đối tượng liên quan theo một
tiêu thức thích hợp.
• Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí ( theo yếu tố chi phí )
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 2 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí được chia ra thành các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm các chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất thi công xây lắp.
- Chi phí nhân công: Là các chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao
động và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương, tiền công.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ trong DN.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN.
- Chi phái khác bằng tiền: Là các chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
• Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn
thành.
Theo cách này, chi phí được phân theo cách ứng xử của chi phí hay là xem xét sự
biến động của chi phí khác theo mức hoạt động thay đổi chi phí này được phân thành:
- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về mức độ hoạt
động của DN.
- Định phí: Là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc hoàn thành
thay đổi.
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và
định phí.
1.1.2 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất kinh doanh tính cho một khối lượng
hoặc đơn vị sản phẩm, dịch vụ, do DN đã sản xuất hoặc cung cấp trong kỳ.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí chi ra như: chi phí vật tư, chi
phí nhân công, chi phí máy thi công tính bằng tiền để hoàn thành khối lượng một sản
phẩm xây lắp nhất định.
Sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết kế
và dự toán riêng, có thể là hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ. Giá
thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ là giá thành cuối cùng của
sản phẩm xây lắp.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 3 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giá thành sản phẩm xây lắp là chi tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất
lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền
vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà DN đã thực hiện
nhằm đạt muc đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí tiết kiệm
nhằm hạ giá thành.
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều
phạm vi tính toán khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại giá thành.
Theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
+ Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở
giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
+ Giá thành định mức: Được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy
nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên
tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, thì giá thành định mức lại được xây
dựng trên cơ sở xác định mức chi phí hiện hành tài từng thời điểm nhất định trong kỳ kế
hoạch ( thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với thay
đổi của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm.
+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu được xác sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản
phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Cách phân loại
này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được nguyên nhân vượt
hay hụt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức
chi phí cho phù hợp.
Theo phạm vi phát sinh chi phí
+ Giá thành sản xuất ( giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân
xưởng, bộ sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chí phí sản
xuất chung.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 4 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
+Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuât, chi phí
quản lý và chi phí bán hàng ). Do vậy giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ = Giá thành + Chi phí quản lý + Chi phí
của sản phẩn tiêu thụ sản xuất sản phẩm doanh nghiệp tiêu thụ SP
Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu sau:
Giá đấu thầu xây lắp: là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tư đề ra để
các doanh nghiệp xây lắp ráp dựa vào đó tính toán giá thành ( còn gọi là giá thành dự
thầu công tác xây lắp). Nếu thấy giá thành của doanh nghiệp thấp hơn giá đấu thầu thì sẽ
tang giá đấu thầu công tác xây lắp công trình.
Giá dự thầu công tác xây lắp: là loại giá thành công tác xây lắp ghi trong hợp đồng
được ký kết giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu.
Đó cũng chính là giá thành của doanh nghiệp xây lắp thắng dầu và được chủ đầu
tư thỏa thuận ký hợp đồng giao nhận thầu .Về nguyên tắc giá thành hợp đồng chỉ được
nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu ông tác lắp ráp.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt nhưng lại có
mối quan hệ rất mật thiết vì đó là hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Về bản chất
đều cùng biểu hiện bằng tiền nhưng hao phí về động sống và lao động vật hóa bỏ ra
nhưng khác nhau về mặt lượng. khi nói đến chi phí sản xuât là giới hạn cho chúng một
thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa, còn
nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định tính cho một
đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quá
trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một thời điểm có
tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Tại thời điểm tính giá thành có thể là một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành chứa
đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí dở dang cuối kỳ. Tương tự như vậy, đầu kỳ
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 5 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
có thể có một khối lượng sản phẩm sản xuất chưa hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang để
tiếp tục tạo sản phẩm chứa đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí dở dang đầu kỳ.
Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước
chuyển sang và một phần của chi phí sản xuất sản phẩm trong kỳ.
Z = Dư ĐK + PS + Dư CK
Trong đó:
Z – Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Dư ĐK – Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
PS – Chi phí sản xuất sản phẩm phát sinh trong kỳ
Dư CK – Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Hơn nữa giá thành sản xuất mang tính chất chủ quan, việc tính giá thành
sản phẩm gồm những chi phí nào còn thuộc vào quyết định tính toán xác định chi phí, đối
tượng, kết quả cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế tào chính, kế toán hiện
hành. Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả trước nhưng
chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh
nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này và những chi
phí phải trả kỳ này nhưng chưa thực tế phát sinh. Ngược lại, giá thành sản phẩm lại chỉ
liên quan đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ.
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất
TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tang sức mạnh về kinh tế,
quốc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có một cơ sở hạ
tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy, việc xây dựng cơ sở
hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác.
Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được.
Vì thế một phần lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng, cùng với
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 6 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.Vì vậy, ngành xây
dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác. Các đặc điểm kỹ thuật đặc
trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và qua trình tạo ra sản phẩm của ngành.
Được thể hiện cụ thể như sau:
+ Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có
giá trị rất lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra cũng là nơi sản phẩm hoàn thành
đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây
dựng theo một kiểu thiết kế riêng, có giá trị dự đoán riêng biệt và tại một thời điểm nhất
định. Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về mặt kinh tế, xã
hội,chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật…
+ Quá trình từ khởi công xây dựng đến khi hoàn thành bàn giao sử dụng là
một con đường dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạo về kỹ thuật của từng
công trình. Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi
công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công trình cụ thể, do chịu ảnh
hưởng lớn từ thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công
công trình. Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn các công trình đều được thi công ngoài
trời do vậy mà điều kiện thi công không ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng
và theo từng giai đoạn thi công công trình.
+ Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng
cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết
kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải
đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo đúng chất lượng công
trình thi công.
1.2.2 Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
Do đặc thù của xây dựng và sản phẩm của ngành xây dựng nên việc quản lý về đầu tư
xây dựng cơ bản khó khan phức tạp hơn các ngành khác. Chính vì thế trong quá trình quản
lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đạp ứng yêu cầu sau:
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 7 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản
phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng các mục
tiêu phát triển kinh tế.
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào Việt
Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động trong nước, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực
khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước, phục vụ cho quá trình tang trưởng, phát
triển kinh tế, đồng thời đảm bảo bền vững mỹ quan đất nước.
Từ trước tới nay, XDCB là một “ lỗ hổng lớn “ làm thất thoát vốn đầu tư của nhà
nước. Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản lý giá thành xây dựng
thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự
toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác
định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự đoán công trình và cho từng hạng mục công trình.
Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ
đầu tư và đơn vị xây dựng. Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán được duyệt.
Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, ký thuật, đảm bảo
chất lượng các công trình với chi phí hợp lý. Bản thân các doanh nghiệp phải có biện
pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ hợp lý có hiệu quả.
Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao thầu
xây dựng. Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công
trình dựa trên cơ sở các định mức đơn giá XDCB do nhà nược ban hành trên cơ sở giá cả
thị trường và khả năng của doanh nghiệp. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh
có lãi.
Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo
phương thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công
việc cho các các đơn vị trong nội bộ Doanh nghiệp (Đội, Xí nghiệp…). Trong giá khoán
gọn không chỉ có tiền lương mà có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ thi công,
chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 8 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường các công tác
quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọng tâm là công
chi phí sản xuật và tính giá thành sản phẩm.
* Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xuất phát từ quy định về lập dự toán công trình xây dựng cơ bản là phải lập theo
từng hạng mục công trình và phải phân tích theo tưng khoản mục chi phí cũng như đặc
điểm tại các đơn vị nhận thầu, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp có các
đặc điểm sau:
- Đối tượng hạch toán chi phí có thể là công trình, hạng mục công trình, các đơn
đặt hàng, các giai đoạn của hạng mục hay nhón hạng mục … Vì thế phải lập - dự toán chi
phí và tính giá thành theo tưng hạng mục hay giai đoạn của hạng mục công trình.
-Giá thành công trình lắp đặt thiệt bị không bao gồm bản thân giá trị thiệt bị do
chủ đầu tư đưa vào lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra
liên quan đến xây lắp công trình.
-Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và giá
trị thiết bị kèm theo như các thiết bị vệ tinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm , điều hòa nhiệt
độ, thiết bị truyền dẫn…
1.2.3 Nhiện vụ của công tác quản lý, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phù hợp
với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thỏa mãn yêu cầu của quản lý đặt ra, vận dụng
các phương pháp tập hợp, chi phí và tính giá thành một cách khoa học kỹ thuật hợp lý
đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác các số liệu cần thiết cho công tác
quản lý. Cụ thể là:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản
xuất của doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.
- Phản ánh đầy đủ chính xác kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát
sinh.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 9 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử
dụng máy thi công…và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch
so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoaanr thiệt hại, mất
mát, hư hỏng trong sản xuấ để ngăn chặn kịp thời.
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là
lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của DN theo từng công trình, hạng mục
công trình, từng loại sản phẩm…vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành hợp lý, hiệu
quả.
- Xác định đúng đắn, hợp lý bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công
tác xây lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo
quy định.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất…trong từng thời kỳ
nhất định. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây
lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành
phục vục cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo DN.
1.3 Vai trò ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp hiện nay
Vai trò
Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn dự
trữ nội bộ của DN và đảm bảo tích lũy tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên
cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thõa mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc
lợi của quần chúng lao động.
Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành
các kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chập hành
nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính.
Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các sô liệu một
cách chính xác, kiệp thời đầy đủ phục vụ cho công việc phân tích, đánh giá tình hình thực
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 10 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý
và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán.
Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây
lắp . Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế so với kế
hoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để có giải pháp khắc
phục. Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động kinh doanh và quản lý
kinh tế tài chính của đơn vị.
Ý nghĩa
Giúp cho công việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu
tư của nhà nước. Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chính xác các
thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.1. Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp xây
lắp.
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây lắp đã làm cho việc
quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản gặp khó khăn và phức tạp hơn các ngành xây dựng vật
chất khác. Vì vậy đòi hỏi trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng
được yêu cầu:
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo những sản phẩm, dịch
vụ được xã hội chấp nhận cả về giá cả và chất lượng, đáp ứng được mục tiêu phát triển
kinh tế và xã hội trong từng thời kỳ. Đồng thời phải đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh có
lãi.
- Xây lắp đúng tiến độ, chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành
công trình.
- Quá trình thi công đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ vật tư, tài sản… đảm bảo
sử dụng chi phí tiết kiệm, hiệu quả cao. Điều đó đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất và
hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán ( cả dự toán trong thiết kế và dự toán trong
thi công ). Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo,
đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 11 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Để thực hiện được yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp tăng cường công tác
quản lý kinh tế. Trước hết là quản lý chi phí, giá thành, trong đó tập trung là công tác
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.3.2. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp.
Hạ giá thành sản phẩm có thể tạo ra điều kiện cho các đơn vị xây dựng
giảm bớt được vốn lưu động sử dụng vào sản xuất hoặc có thể mở rộng thêm sản xuất sản
phẩm xây lắp. Để thực hiện được mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm thì đơn vị xây dựng thường áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Đứng trên góc độ
quản lý, cần phải biết các nhân tố hay nội dung cấu thành giá thành, để từ đó biết được
nguyên nhân cơ bản nào làm giảm giá thành. Trên cơ sở đó, người quản lý mới đề ra
được các biện pháp cẩn thiết để hạn chế, loại trừ những ảnh hưởng của các nhân tố tiêu
cực, phát huy và động viên những nhân tố tích cực, khai thác khả năng tiềm tang quản lý,
sử dụng các nguồn vật tư, lao động và tiền vốn.
Một trong những biện pháp giữ vị trí quan trọng và không thể thiếu được
phải kể đến biện pháp quản lý của công cụ kế toán. Bởi vậy, phải tính đúng, tính đủ chi
phí sản xuất vào giá thành mới đảm bảo phát huy được tác dụng của công cụ kế toán đối
với việc quản lý sản xuất. Do đó, nhiệm vụ chủ yếu cho công tác hạch toán đói với việc
quản lý sản xuất. Do đó, nhiệm vụ chủ yếu cho công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành là: Xác định chính xác đói tượng tập hợp chi phí phù hợp với các điều kiện
thực tế của doanh nghiệp, thỏa mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng phương pháp hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành một cách hợp lý, khoa học. Đảm bảo cung cấp một
cách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần thiết cho công tác quản lý
Cụ thể là:
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí phát sinh.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, nhân công, sử dụng
máy thi công và các khoản dự toán chi phí sản xuất khác. Phát hiện kịp thời các khoản
chênh lệch so với định mức, dự toán, các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt
hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để đề ra các biện pháp kịp thời.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 12 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của DN theo từng công trình, hạng mục
công trình, từng bộ phân thi công trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời lập các báo cáo
về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ cho yêu cầu quản lý của DN.
1.3.3 Vai trò của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp
Đối với các DN xây lắp, việc hạch toán sẽ cung cấp số liệu một cách chính xác,
kịp thời đầy đủ, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh của DN, từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức uản lý phù hợp với
yêu cầu hạch toán.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp là vấn đề
trung tâm của công tác hạch toán trong xây lắp. Tập hợp chi phí sản xuất giúp cho đơn
vị nắm bắt được tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, nhân công, máy thi
công là bao nhiêu so với dự toán và kế hoạch, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay
lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra các biện pháp thích hợp. Việc tính giá thành công tác
xây lắp thể hiện toàn bộ chất lượng sản phẩm sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài
chính của đơn vị.
1.4 Nội dung cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
trong doanh nghiệp xây lắp
1.4.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong DN xây lắp là phạm vi và giới hạn để tập
hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo phạm vi và giới hạn đó.
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên
trong việc tổ chức kế toán CPSX. Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp CPSX là
xác định nơi gây ra chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí. Để xác định đối tượng kế toán
tập hợp CPSX trong DN xây lắp cần dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất sản xuất, loại hình sản
xuất sản phẩm
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
- Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 13 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Nhìn chung đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong DN xây lắp có thể là công
trình, hạng mục công trình, các giai đoạng quy ước của hạng mục công trình có dự toán
công trình riêng hay nhóm công trình, các đơn vị thi công ( đọi thi công xây lắp . . .)
1.4.2 Đối tượng kế toán tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc lao vụ mà DN đã sản
xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành.
Trong DN xây lắp do tổ chức sản xuất đơn chiếc nên đối tượng tính giá
thành là từng công trình hạng mục, các giai đoạn quy ước của hạng mục công trình có giá
trị dự toán riêng hoàn thành.
Cũng như xác định đối tượng kết toán CPSX việc xác định đối tượng giá
thành là khâu đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành. Bộ phận kế toán giá thành
khi xác định đối tượng tính giá thành phải căn cứ vào :
- Đặc điểm tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất, tính chất của từng loại sản
phẩm cụ thể của DN.
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Yêu cầu và trình độ của cán bộ kế toán.
1.4.3 Mối quan hệ giữa kế toán tập hợp chi phí sản xuất & kế toán tính giá thành
sản phẩm
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí là căn cứ mở sổ kế toán chi tiết để tập hợp
CPSX mở tài khoản chi phí, đảm bảo cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành kịp
thời, chính xác, tạo điều kiện tăng cường quản lý, hạch toán chi phí nội bộ.
Đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán tổ chức các bảng tính giá thành sản
phẩm theo từng đối tượng nhất định, lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp để tổ
chức việc tính giá thành khoa học, hợp lý, phục vụ kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành. Tuy vậy, giữa đối tượng kế toán CPSX với tính giá thành lại có mối quan hệ
mật thiết vơi nhau: Một đối tượng tập hợp chi phí có thể tương ứng phù hợp với một hoặc
nhiều đối tượng tính giá thành. Tương ứng với nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
có thể là một đối tượng tính giá thành.
Xem xét mối quan hệ giữa đối tượng kế toán CPSX và tính giá thành để
vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 14 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.4.4 Kỳ tính giá thành
Là khoảng thời gian cần thiết tiến hành tổng hợp CPSX để tính tổng giá thành và
giá thành đơn vị kết quả hoàn thành. Thông thường, kỳ tính giá thành có thể là hàng
tháng, quý, năm và được chọn trùng với kỳ báo cáo kế toán.
Đơn vị tính giá thành: LÀ đơn vị thừa nhận trong nền kinh tế quốc dân và
thường được sử dụng phổ biến nhất. Đơn vị tính giá thành trong thực tế cần phải thống
nhất tính giá thành đã ghi trong kế hoạch giá thành sản phẩm của DN.
1.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.5.1 Kế toán chi phí NVL trực tiếp
Nội dung và phương pháp tập hợp
Trong tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp thì chi phí NVL chiếm một tỷ trọng tương đối
lớn. Chi phí NVL trực tiếp trong xây lắp là những chi phí vật liệu chính, phụ, các bộ phận
kế cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực tế công trinh xây lắp hoặc
giúp cho việc hoàn thành công trình xây lắp. Chi phí NVL trực tiếp không bao gồm vật
liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình.
Chi phí NVL cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như giá trị thực tế
của vật liệu chính ( gạch, đá, vôi, cát, xi măng…) vật liệu phụ như sơn, CCDC…
Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế người
bán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất
thẳng tới công trình. Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, hạng mục công trình nào
thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc,
theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.
Kế toán áp dụng phương pháp tập hợp trực tiếp đối với những chi phí vật
liệu liên quan đến một công trình, hạng mục công trình. Trường hợp vật liệu xuất dùng có
liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán
trực tiếp vào đối tượng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi
phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí NVL
trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 15 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê
số vật liệu chưa sử dụng hết ở các công trình, bộ phận sản xuất để tính số liệu thực tế sử
dụng cho từng công trình, đồng thời hạch toán đúng đắn số phế liệu thu hồi ( nếu có ) theo
từng đối tượng công trình.
Tài khoản sử dụng
Để phản ánh chi phí NVL sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử
dụng TK 154 – Chi phí SXKD dở dang, tài khoản được mở chi tiết cho từng công trình,
hạng mục công trình, khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt điểm dừng kỹ thuật
có dự toán riêng.
- Vật liệu xuất kho cho công trình
Nợ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 111,112,331…
- Quyết toán tạm ứng
Nợ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 141: Tạm ứng
- Vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 16 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TK 152 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 152
VL xuất kho sử dụng trực tiếp VL không sử dụng hết
cho công trình xây lắp cuối kỳ nhập lại kho
VL sử dụng không hết cuối kỳ
nhưng không nhập lại kho ( ghi âm)
TK 111, 112, 141, 331 TK 632
Mua VL sử dụng ngay cho công Chi phí NVL vượt trên
trình không qua kho mức bình thường
TK 133
Thuế GTGT
( nếu có )
TK 141
Quyết toán tạm ứng về
KLXL giao khoán
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 17 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.5.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Nội dung phương pháp tập hợp
Chi phí NCTT bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày công lao động
của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây
lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công chuẩn
bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay
công nhân thuê ngoài.
Việc hạch toán tiền lương của công nhân trong DN thì dựa trên bảng chấm công,
theo dõi từng tổ sản xuất, đội xây dựng. Bảng chấm công cho biết ngày giờ làm việc thực
tế, số ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và chuyển lên phòng lao động
để ghi chép, theo dõi sau đó làm căn cứ cho phòng kế toán tính lương và phân bổ tiền
lương.
Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí về
NVL trực tiếp.
Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến công trình, hạng mục,
công trình nào thì được hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục đó. Trong điều kiện
xây lắp không cho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, hạng mục
công trình thì kế toán phải phân bổ NCTT cho các đối tượng theo tiền lương định mức
hay mức giá công định mức.
Tài khoản sử dụng.
Phản ánh chi phí NCTT, kế toán sử dụng tài khoản 622 – Chi phí NCTT.Tài khoản
này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
Một số nghiệp vụ chủ yếu:
- Chi phí phải trả cho CNTT sản xuất:
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 334, 338: Chi phí phải trả
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 18 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Quyết toán tạm ứng:
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 141: Tạm ứng
- Chi phí vượt mức dự toán:
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Sơ đồ 1.2.
TK 334, 338 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 632
Tiền lương phải trả cho Chi phí NCTT vượt trên
cho CN trực tiếp sản xuất mức bình thường
TK 141
Quyết toán tạm ứng về giá trị
KLXL giao khoán hoàn
thành bàn giao
TK 133
Thuế GTGT
( nếu có )
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 19 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.5.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.
Nội dung, phương pháp tập hợp.
Máy thi công là loại xe máy chạy bằng động lực (điện, xăng, dầu, khí nén) được
sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình.
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công, và các
chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công.
Tài khoản sử dụng.
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt
động xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 154 “Chi phí SXKD dở dang”. Chi phí sử dụng
máy thi công có liên quan đến công trình nào thì hạch toán cho công trình đó. Không
hạch toán vào tài khoản này các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của
công nhân sử dụng máy thi công.
Một số nghiệp vụ chủ yếu:
- Mua nguyên vật liệu xuất kho sử dụng cho máy thi công
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 152, 153, 141…: Nguyên vật liệu, CCDC, …
- Tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển máy thi công
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 334: Tiền lương
- Quyết toán tạm ứng
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 141: Tạm ứng
- Khấu hao máy thi công
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 214: Khấu hao TSCĐ
- Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sử dụng MTC:
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 20 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Nợ TK 632: Giá vốn
Có TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Chứng từ sử dụng.
- Hợp đồng thuê máy
- Hóa đơn GTGT
- Biên bản thanh lý hợp đồng thuê máy
- Bảng đề nghị thanh toán tiền thuê thiết bị thi công
- Bảng kê chi phí sử dụng máy thi công
- Bảng tổng hợp chi phí trực tiếp thi công công trình.
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Sơ đồ 1.3
TK 334 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 632
Tiền lương phải trả cho Kết chuyển chi phí sử dụng máy
cho CN điều khiển máy dưới công suất và chi phí khác
vượt mức
TK 152, 153, 142, 111, 331…
Xuất kho mua VL, NL, CCDC
sử dụng cho máy thi công
TK 133
Thuế GTGT
( nếu có )
TK 141
Quyết toán tạm ứng về giá trị
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 21 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
KLXL giao khoán hoàn
thành bàn giao
TK 214
Khấu hao xe, máy thi công
1.5.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
Nội dung và phương pháp tập hợp.
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí có liên quan đến
việc tổ chức, phục vụ và quản lý công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng.
Chi phí sản xuất chung được tập hợp cho từng đối tượng theo phương thức gián tiếp.
Tài khoản sử dụng.
Phản ánh chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 – chi phí sản xuất
chung.
Tài khoản 627 có 6 TK cấp 2:
- 627.1 Chi phí nhân viên phân xưởng
- 627.2 Chi phí vật liệu
- 627.3 Chi phí CCDC sản xuất
- 627.4 Chi phí khấu hao TSCĐ
- 627.7 Chi phí dịch vụ mua ngoài
- 627.8 Chi phí khác bằng tiền
Các nghiệp vụ kế toán:
- Lương trả nhân viên bộ phận SXC:
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 334: Tiền lương
- Các khoản chi phí sử dụng cho bộ phận SXC:
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 111, 112, 331…: Chi phí bằng tiền
- Khấu hao TSCĐ:
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 214: Khấu hao TSCĐ
- Trích lập dự phòng phải trả về bảo hành công trình:
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 22 SVTH:
Nguyễn Thị Doan
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 352: Dự phòng phải trả
- Các khoản trích theo lương
Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Có TK 338: Phải trả, phải nộp khác
- Cuối kỳ, kết chuyển phân bổ vào giá thành
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí SXKD dở dang
Sơ đồ 1.4
TK 334 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 632
Chi phí lương nhân viên QL Khoản CPSXC cố định không
đội xây dựng và tiền ca ăn p.bổ vào giá thành SX
được ghi vào GVHB
TK 152, 153, 142, 242…
Chi phí mua VL, NL, CCDC
sử dụng cho đội xây dựng
TK 111, 112, 331
Chi phí bằng tiền
TK 133
VAT được
Khấu trừ
TK 214
Khấu hao TSCĐ sử dụng
chung cho đội xây dựng
TK 352
Trích lập dự phòng phải trả
về bảo hành công trình
TK 338
GVHD: Đỗ Thị Hạnh 23 SVTH:
Nguyễn Thị Doan