Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
1.2.Chất lượng tín dụng trung dài hạn của NHTM 6
1.2.1 Quan điểm về chất lượng trung dài hạn 6
Danh mục tài liệu tham khảo 1
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khi nền kinh tế thị trường đang phát triển ở một trình độ cao,
trong đó các chủ thể độc lập với nhau về tính chất sản xuất kinh doanh, về
quyền sở hữu, về sự tuần hoàn và luân chuyển vốn. Nh vậy trong nền kinh tế
có những doanh nghiệp “thừa” vốn. Ví dụ nh các doanh nghiệp có tiền bán
hàng nhưng không phải trả lương, thuế và các khoản chi khác do đó tạm thời
thừa tương đối. Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn những người
thừa vốn sử dụng vốn này để thu lợi nhuận còn doanh nghiệp thiếu vốn muốn
sử dụng phải đi vay để duy trì hoặc tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi
nhuận. Nh vậy hai nhu cầu này đều giống nhau ở chỗ để thu lợi nhuận và
mang tính chất tạm thời. Nhưng chóng khác nhau về chiều vận động và quyền
sở hữu. Do đó trong nền kinh tế tất yếu tồn tại quan hệ tiêu dùng và tín dụng.
Vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa to lớn đến sự thành công
của các ngân hàng thương mại trong chiến lược huy động và sử dụng vốn cho
đầu tư và phát triển. Nâng cao chất lượng không chỉ là những biện pháp cải thiện
chất lượng mà phải bao gồm những biện pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả, có
như vậy hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại mới ngày càng
phát triển, hòa nhập được với xu thế tiên tiến của công nghệ ngân hàng.
Với lý do trên em lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng VIB Lê Thánh Tông ”. làm đề tài
chuyên đề thực tập của mình.
Kêt cấu đề tài gồm ba chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng trung dài hạn của
Ngân hàng thương mại
Chương 2:Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại VIB Lê
Thánh Tông
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
trung dài hạn tại VIB Lê Thánh Tông
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
1
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TRUNG DÀI HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1Tổng quan về tín dụng trung dài hạn tại NHTM
1.1.1.Khái niệm
Tín dụng ( Credit) xuất phát từ chữ La tinh có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm. Tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng được
hiểu như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay ( ngân
hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (các nhân, doanh nghiệp
và các chủ thể khác), trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi một cách vô điều kiện khi đến hạn thanh toán “
Khi Ngân hàng tham gia vào quan hệ tín dụng có thể đóng vai trị là
người đi vay hoặc là người cho vay . Khi ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành
trái phiếu, kỳ phiếu để huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và cá nhân thì nó
đóng vai trị là người đi vay. Khi ngân hàng thực hiện cho cá nhân, tổ chức
kinh tế vay thì nó đóng vai trị là người cho vay.
Tín dụng trung dài hạn là những khoản vay có thời hạn trên một năm
nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản chính bằng vốn
vay. Phân loại tín dụng trung và dài hạn tùy thuộc vào quy định của từng quốc
gia, ở Việt Nam theo quy chế cho vay 1627/2001/QĐ NHNN quy định các
khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng được gọi là trung hạn
trên 60 tháng được gọi là tín dụng dài hạn.
1.1.2. Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn
Tin dụng trung dài hạn có thời hạn tín dụng dài mà thời hạn dài dẫn đến
rủi ro lớn vì thế lãi suất của tín dụng trung dài hạn phải cao hơn lãi suất tín
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
2
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng ngắn hạn. Điều này xuất phát từ mục đích tài trợ của tín dụng trung dài
hạn và ngắn hạn là khác nhau. Tín dụng ngắn hạn thường tài trợ cho các nhu
cầu ngắn hạn như đầu tư vào vốn lưu động sản xuất kinh doanh để mua
nguyên vật liệu,trả lương, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn, cho nhu cầu
tiêu dùng của cá nhân. Còn tín dụng trung dài hạn thường đầu tư mới sản
xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới thiết bị dây chuyền sản xuất. Đó là
những dự án chưa có khả năng sinh lời trong ngắn mà phải trong thời gian dài
thì dự án này mới có khả năng sinh lời cao và hoàn trả vốn vay. Chính vì đối
tượng vay này rất phức tạp nó gồm tổng hợp các loại chi phí, mà nguồn trả nợ
lại phụ thuôc nhiều yếu tố như chính sách vĩ mô của nhà nước, khả năng tiêu
thụ sản phẩm, diễn biến của thị trường, sự chuẩn xác của những dự báo và
chất lượng của dự án …nên tín dụng trung dài hạn chứa đựng nhiều rủi ro
tiềm ẩn ảnh hưởng đến chất lượng của khoản vay. Để đảm bảo chất lượng tín
dụng thì phải sự hợp tác thống nhất, khoa học và hiệu quả giữa Ngân hàng với
khách hàng. Vì thế khi xem xét tính hiệu quả của dự án đầu tư ngân hàng phải
xem xét khả năng sinh lời và khả năng trả nợ của dự án vì đây là những yếu tố
cơ bản quyết định đến chất lượng tín dụng .
1.1.3.Các nhân tố cơ bản của tín dụng trung dài hạn
1.1.3.1 Lãi suất cho vay
Lãi suất của tín dụng trung dại hạn là cao ,xuất phát từ đặc điểm rủi ro
cao nên lãi xuất của tín dụng trung dài hạn là cao nên để bùi lại rủi ro cao là
lãi suất cũng cao hơn lãi suất của tín dụng ngắn hạn. Mức lãi suất cho vay này
có thể cố định trong hết thời gian vay hoặc được điều chỉnh linh hoạt, trong
thực tế diễn biến thị trường có nhiều biến động thì hầu hết lãi suât trung dài
hạn được điều chỉnh theo cơ chế linh hoạt.
1.1.3.2 Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng của tín dụng dài hạn thường lớn vì đối tượng vay của
loại này là các dự án có quy mô lớn và thời gian dài. Hạn mức tín dụng mà
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
3
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng thương mại có có thể cấp cho khách hàng của mình còn phụ thuộc
và hạn mức tín dụng được ngân hàng nhà nước quy định. Theo khoản 1 điều
79 của luật các tổ chức tín dụng là “tổng dư nợ vay của một khách hàng
không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối
với những khoản vay ủy thác từ chính phủ, của tổ chức, cá nhân hoặc trong
trường hợp khách hàng vay là tổ chức tín dụng khác. Trường hợp nhu cầu vốn
của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của các tổ chức tín dụng được phép
cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
1.1.3.3.Thời hạn tín dụng
Đặc điểm lớn của tín dụng trung dài hạn đó là thời hạn tín dụng dài, tín
dụng trung dài hạn nhằm tài trợ cho mục đích đầu tư vào tài sản cố định có
thời gian khấu hao dài và giá trị lớn, tài trợ cho dự án nên thời gian phải dài
thì doanh nghiệp mới có thời gian thu hồi vốn để trả nợ và sinh lời
1.1.3.4 Nguồn vốn tín dụng
Nguồn vốn cho tín dụng trung dài hạn được ngân hàng huy đông từ
những nguồn sau: Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng không cao trong
cơ cấu vốn huy động. Huy động tiền gửi ngắn hạn trong nước, nguồn huy
động này có sự biến động cao và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường
vốn và váo sự thay đổi các quy định của nhà nước do đó nguồn này cũng
chiếm tỷ trọng nhỏ. Huy động tiền gửi trung dài hạn trong nước như trái
phiếu, kỳ phiếu đây là những nguồn tài trợ quan trọng cho nghiệp vụ tín dụng
trung dài hạn. Nguồn vốn vay từ thị trường trong nước bao gồm các khoản
vay ngắn hạn ở thị trường liên Ngân hàng hoặc vay từ ngân hàng nhà nước và
những khoản vay trung dài hạn trong và ngoài nước, vốn ủy thác tài trợ phát
triển, và nguồn từ quỹ đầu tư phát triển theo nguồn ODA.
1.1.4. Vai trò của tín dụng trung dài hạn
1.1.4.1 Đối với Ngân hàng
Trong bảng cân đối tài sản của Ngân hàn thương mại thì khoản mục cho
vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản mục đem lại thu nhập lớn nhất
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
4
Chuyên đề tốt nghiệp
cho ngân hàng( chiếm khoảng 90% tổng thu nhập của Ngân hàng). Thu nhập
từ tiền vay biểu hiện dưới dạng tiền lãi vay và phụ thuộc vào thời hạn vay.
Thời hạn cho vay càng dài thì lãi suất càng cao dẫn đến thu lãi của ngân hàng
càng lớn. vì thế Ngân hàng nào càng mở rộng cho vay trung dài thì sẽ có điều
kiện thu nhiều lợi nhuận hơn. Nhưng những khoản tín dụng trung dài hạn có
thời gian dài thì thường đi đôi với nó là rủi cũng rất cao vì thế mở rộng quy
mô tín dụng trung dài hạn phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng.
Tín dụng trung dài hạn không chỉ đem lại nguồn thu lớn cho Ngân hàng
mà nó còn là vũ khí cạnh tranh lợi hại của Ngân hàng. Khả năng mở rộng và
đáp ứng nhu cầu tín dụng trung dài hạn nó thể hiện tiềm lực về vốn, chất
lượng tín dụng cao thể hiện khả năng quản lý và trình độ chuyên môn của cán
bộ tín dụng điều này càng tạo nên thương hiệu cho Ngân hàng. Đồng thời việc
mở rộng tín dụng trung dài cũng tạo điều kiện thúc đẩy tín dụng ngắn hạn và
một số dịch vụ khác của ngân hàng, bởi vì doanh nghiệp vay vốn trung dài
hạn thì họ có điều kiện đổi mới máy móc công nghệ, thiết bị, mở rộng sản
xuất vì thế sẽ cần nhiều vốn lưu đông và Ngân hàng mà họ muốn quan hệ dĩ
chính là ngân hàng mà đã cấp tín dụng trung dài hạn cho họ. Khi sản xuất mở
rộng, tình hình kinh doanh thuận lợi thì nhu cầu của doanh nghiệp về các dịch
vụ của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn sẽ tăng lên và
Ngân hàng phục vụ họ chính là Ngân hàng đã cấp tín dụng trung dài hạn.
1.1.4.2. Đối với doanh nghiệp
- Tín dụng trung dài hạn là một trong những nguồn vốn đầu tư quan
trọng của doanh nghiệp
Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, khi
doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư dây tài sản cố định
hoặc thực hiện một dự án khả thi, doanh nghiệp có thể huy động vốn thông
qua phát hành cổ phiếu hoặc đi vay. Cách thứ nhất là phát hành cổ phiếu
không phải doanh nghiệp nào cũng đạt hiệu quả cao và có chi phí vốn rẻ vì
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
5
Chuyên đề tốt nghiệp
chi phí phát hành them cổ phiếu là cao và trải qua nhiều nhiều thủ tục. Hơn
nữa không phải doanh nghiệp nào cũng có thể huy động vốn thông qua kênh
này,chỉ những doanh nghiệp lớn có thương hiệu trên thị trường mới đạt hiệu
quả bằng cách huy động này,còn những doanh nghiệp vừa và và nhỏ gặp rất
nhiều khó khăn vì họ ít có uy tín trên thị trường nên huy động qua phát hành
cổ phiếu sẽ có chi phí vốn rất cao và khả năng thành công không cao, những
doanh nghiệp này gặp cằng nhiều khó khăn khi mà thị trường tài chính nói
chung và thị trường chứng khoán nói riêng ở Việt Nam hiện nay còn chưa
phát triển. Cách thứ hai để doanh nghiệp có được vốn đầu tư đó là đi vay
thông qua các trung gian tài chính mà Ngân hàng thương mại là thành phần
chính, đây là nơi đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn tốt nhất cho doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với tiềm lực tài chính mạnh,
hệ thống công nghệ và quản trị rủi ro tốt, các Ngân hàng thương mại là đối tác
quan trọng đối doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trung dài hạn để
mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị dây chuyền sản xuất.
- Tín dụng trung dài hạn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của
doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung
Với trình độ quản trị rủi ro cao, quy trình cho vay chặt chẽ đảm bảo an
toàn vốn kinh doanh nên Ngân hàng thương mại chỉ giải ngân cho những dự
án khả thi cao, những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả có khả năng hoàn trả
vốn và lãi vay cho Ngân hàng. Bên cạnh đó với kinh nghiệp của mình thì
Ngân hàng ngoài đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp còn cung cấp
những thông tin về thị trường rồi đối tác tốt cho doanh nghiệp. Từ đó nguồn
vốn từ Ngân hàng luôn được các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả cao đem
lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và cả cho Ngân hàng.
1.2.Chất lượng tín dụng trung dài hạn của NHTM
1.2.1 Quan điểm về chất lượng trung dài hạn
Một trung gian tài chính trong nền kinh tế thị trường thì chất lượng tín
dụng luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại, đặc
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
6
Chuyên đề tốt nghiệp
biệt là chất lượng tín dụng trung dài hạn. Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu
tổng hợp nó phản ánh mức độ thích nghi của Ngân hàng với sụ phát triển của
bên ngoài, thể hiện sức mạnh cạnh tranh của Ngân hàng trong quá trình cạnh
tranh để tồn tại. Quan niệm về chất lượng tín dụng nó vừa mang tính định tính
khó xác định cụ thể bằng số liệu tính toán được, vừa mang tính chất định
lượng trừu tượng thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng. Chất lượng tín
dụng trung dài hạn là khái niệm phán ánh chất lượng của những khoản tín dụng
có thời hạn tín dụng trên một năm. Để đảm bảo được chất lượng tín dụng thì
Ngân hàng phải kết hợp và đáp ứng được ba yêu cầu đó là: đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp phần vào
sự phát triển của kinh tế. Ba yêu cầu này luôn có quan hệ hữu cơ với nhau tác
động tới khả năng mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng, Việc đáp ứng tốt
nhu vốn của doanh nghiệp sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, uy tín và thu
hútnhững khách hàng mới tạo điều kiện mở rộng tín dụng. Khi Ngân hàng đáp
ứng tốt nhu cầu vốn của doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn vay làm
gia tăng lợi nhuận, điều này sẽ đảm bảo được khả năng hoàn trả vốn và lãi vay
của khách hàng theo đúng cam kết đã ký với Ngân hàng.
Từ quan điểm trên cho thấy nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn
là trong những vấn đề quan trọng quýêt định sự tồn tại và phát triển của Ngân
hàng thương mại. Khi chất lượng tín dụng trung dài hạn được đảm bảo sẽ làm
tăng lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro mất vốn, giảm chi phí cho ngân hàng, đồng
thời nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn sẽ làm tăng nguồn thu từ dịch
vụ khác cho ngân hàng. Vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng là điều tất yếu
của mỗi ngân hàng
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn
Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng thương mại
chúng ta phải sử dụng một cách linh hoạt và kết hợp giữa các chỉ tiêu định
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
7
Chuyên đề tốt nghiệp
tính và các chỉ tiêu định lượng để từ đó mới có sự đánh giá chính xác về chất
lượng tín dụng. Chỉ tiêu định tính được thể hiện qua khả năng mở rộng quy
mô tín dụng trung dài hạn thông qua uy tín của ngân hàng. nếu một Ngân
hàng có uy tín nó sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn và ngựơc lại. Chất
lượng tín dụng còn thể hiện qua khả năng đáp ứng những yêu cầu của khách
hàng, truớc hết thể hiện qua thủ tục đơn giản thuận tiện cho khách hàng
nhưng vẫn bảo đảm được nguyên tắc an toàn, thứ hai thể hiện thông qua cung
cấp vốn nhanh chóng và an toàn. Từ đó khách hàng rút ngắn được thời gian
giao dịch, giảm chi phí và chớp được thời cơ kinh doanh. Để thực hiện được
điều này thì Ngân hàng phải trở thành người bạn đồng hành cùng doanh
nghiệp. Chất lượng tín dụng trung dài hạn còn thể hiện thông qua sự bảo đảm
tồn tại của doanh nghiệp. Hay nói cách khác hoạt đọng tín dụng trung dài hạn
phải đem lại nhuận cao và hạn chế ở múc thấp nhất rủi ro cho ngân hàng. Một
khoản vay trung dài hạn đuợc coi là có chất lượng khi nó được thực hiện theo
đúng quy trình cho vay, khách hàng sử dụng đúng mục đích vay vốn, hiệu quả
kinh tế cao và rủi ro được hạn chế ở múc thấp nhất. Bên cạnh những chỉ tiêu
định tính trên thì các chỉ tiêu định lượng sau đây cũng là căn cứ quan trọng để
đánh giá chính xác chất lượng tín dụng trung dài hạn.
1.2.2.1. Chỉ tiêu về lợi nhuận
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên chỉ tiêu về lợi luôn là
quan tâm hàng đầu, lợi nhuận ngân hàng thu được là chênh lệch giữa lãi suất
cho vay với lãi suất đi vay cộng với chi phí quản lý của ngân hàng. Chỉ tiêu
này rất quan trọng đối với những ngân hàng mà nguồn thu từ hoạt động tín
dụng chiếm ưu thế,các dịch vụ khác chưa phát triển. Nếu mà chất lượng tín
dụng trung dài hạn mà không tốt sẽ làm phát sinh những chi phí như chi phí
dự phòng, chi phí quản lý tài sản đảm bảo và không thu được lãi vay từ đó
làm cho lợi nhuận của ngân hang suy giảm nghiêm trọng.
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ sinh lời của tín =
dụng trung và dài hạn Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của tín dụng trung dài hạn, nó cho
biết lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn chiếm bao nhiêu trong tổng
lợi nhuận của ngân hàng, từ đó thể hiện được vị trí của tín dụng trung dài hạn
trong cơ cấu thu nhập của Ngân hàng
Lợi nhuận từ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận của =
tín dụng trung dài hạn Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh rõ nét sự đóng góp quan trọng của tín dụng trung
dài hạn lợi nhuận của ngân hàng. Nếu chất lượng tín dụng trung dài hạn được
đảm bảo sẽ làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, ngược lại chất lượng tín dụng
trung dài hạn kém sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng và làm giảm lợi nhuận.
1.2.2.2. Chỉ tiêu về vòng quay vốn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thu nợ tín dụng trung dài hạn
Vòng quay vốn của =
tín dụng trung dài hạn Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh những lượng vốn vay thu lại của những khoản vay
đã tất toán là bao nhiêu để cho vay lại và những dự án mới. Vòng quay càng
lớn chứng tỏ Ngân hàng đã cho vay đúng đối tượng và ngân hàng đang hoạt
động có hiệu quả, tài sản ngân hàng đang được sử dụng hiệu quả
1.2.2.3 Chỉ tiêu về dư nợ tín dụng trung dài hạn
Dư nợ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ về dư nợ tín =
dụng trung dài hạn Tổng dư nợ
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô của tín dụng trung dài hạn trong tổng dư
nợ của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì cho thấy Ngân hàng rất có uy tín,
tiềm lực tài chính mạnh chất lượng tín dụng trung dài hạn đảm bảo nên quy
mô tăng do quan hệ được với doanh nghiệp lớn có nhu cầu vay vốn cao. Mặt
khác chỉ tiêu này càng lớn cũng có thể do điều kiện cấp tín dụng của Ngân
hàng đã buông lỏng, Ngân hàng đồng ý cấp tín dụng trung dài hạn cho nhiều
dự án không khả thi. Vì vậy chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh hết được chất
lượng tín dụng trung dài hạn.
1.2.2.4 Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nợ quá hạn trung dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn của =
tín dụng trung dài hạn Dư nợ tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ quá hạn, nó phản
ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn xét về mặt định lượng. Tuy nhiên
không phải lúc nào chỉ tiêu này cũng phản ánh chính xác chất lượng tín dụng
trung dài hạn. Nợ quá hạn xuất hiện khi đến kỳ hạn trả nợ nhưng khách hàng
không trả được nợ và ngân hàng không cho gia hạn nợ, vì thế khi khách hàng
có nợ qua hạn là có thể do nguyên nhân khách quan làm cho doanh nghiệp
gặp khó khăn trong ngắn hạn và đến khi tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp phục hồi thì doanh nghiệp sẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình với ngân
hàng. Doanh nghiệp có nợ quá hạn là do khả năng quản lý do tình hình kinh
doanh yếu kém, khi đó Ngân hàng sẽ phải sử lý tài sản đảm bảo của doanh
nghiệp. Vì vậy khi có nợ quá hạn xảy ra phải kế hợp nhiều yếu tố khác thì
mới đánh giá chính xác được chất lượng tín dụng và đưa ra những phương án
xử lý phù hợp nhằm đảm bảo chất lưọng tín dụng và bảo toàn vốn.
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.5 Chỉ tiêu về sử dụng vốn
Vốn huy động
Tỷ lệ sử dụng vốn = *100%
Nguồn vốn được sử dụng
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả hoạt động của Ngân hàng qua đó phản
ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng. Nguồn vốn huy động
được sử dụng hết nó làm giảm chi phí cho hoạt động ngân hàng.
Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dàì
hạn,tuy nhiên để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng trung dài hạn thì phải
có cái nhìn tổng quát trên cở sở những chỉ tiêu định lượng và định tính. Từ đó
mới đánh giá hết được thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn và đưa ra
những giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn
Chất lượng tín dụng trung dài hạn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên
ngoài và bên trongbản thân ngân hàng, những yếu tố chủ quan và khách qua,
vì vậy để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn thì chúng ta
phải nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng để từ đó
đưa ra được những giải pháp chính xác. Sau đây là những nhân tố chính ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng trung dài hạn của các ngân hàng thương mại.
1.2.3.1 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý đó là hệ thống những văn vản pháp luật có liên quan
tới hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng trung dài hạn
của ngân hàng nói riêng.
Hiện nay hệ thống các văn bản pháp luật nước ta nói chung và hệ thống
các văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tài chính nói riêng còn thiếu,
chồng chéo và chưa đồng bộ. Điều này đã gây ra những khó khăn vướng mắc
cho Ngân hàng và khách hàng trong việc ký kết các hợp đồng tín dụng. Đồng
thời yếu tố này còn gây ra những điểm bất hợp lý không thuận lợi cho hoạt động
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
11
Chuyên đề tốt nghiệp
sử dụng, quản lý khoản vay và sử lý phát mại tài sản đảm bảo khi khách hàng
không hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng. Ví dụ như trong quy
chế cho vay của các tổ chức tín dụng của Ngân hàng nhà nước ban hành, quy
định thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng, trong khi đó luật Ngân hàng
quy định thời hạn cho vay trung dài hạn bắt đầu từ 12 tháng, điều này đã tạo lên
sự thiếu nhất quán giữa các ngân hàng trong việc phân loại tín dụng theo thời
hạn tín dụng và cũng gây khó khăn trong quản lý của nhà nước từ đó tạo những
sơ hở cho những sai phạm. Từ đó đã ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Các chính sách chủ trương của chính phủ đối doanh nghiệp liên tục thay
đổi cũng đã gây lên những ảnh hưởng xấu cho những khoản tín dụng. Đặc
biệt là những chính sách về cơ cấu kinh tế, chính sách về xuất nhập khẩu…sự
thay đổi đột ngột của những chính sách này đã gây ra những sáo trộn trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm và tín khả thi cũng những
dự án của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không phản ứng kịp những thay
đổi đó sẽ gây ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh từ đó sẽ xuất hiện nợ
quá hạn và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Do hệ thống văn bản pháp lý còn thiếu đồng bộ, chồng chéo cũng gây khó
khăn cho các cơ quan quản lý nhà nứơc trong việc kiểm tra giám sát hoạt động
của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã sử dụng các biện pháp để lách luật,
trốn thuế, vi phạm pháp luật từ đó gây ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Môi trường pháp luật ảnh lớn chất lượng tín dụng nói chung và chất
lượng tín dung trung dài hạn nói riêng. một hệ thống văn bản pháp luật hoàn
chỉnh, đồng bộ sẽ làm chất lưọng tín dụng được đảm bảo, ngược lại hệ thống
pháp luật không đầy đủ hoàn chỉnh sẽ tác động xấu tới chất lượng tín dụng
trung dài hạn
1.2.3.2 Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế nói chung
và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các Ngân hàng thương mại, đặc
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
12
Chuyên đề tốt nghiệp
biệt đối với chất lượng tín dụng. Một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển ổn định và không ngừng mở rộng
quy mô sản xuất từ đó nhu cầu tín dụng tăng cao. Đồng thời môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, hiệu quả kinh doanh và sử
dụng vốn vay không ngừng tăng lên từ đó chất lượng tín dụng trung dài hạn cũng
được đảm bảo. Bên cạnh đó khi nền kinh tế ổn định, chi phí huy động vốn của các
Ngân hàng ở mức thấp nên lãi suất cho vay trung dài hạn là thấp từ đó doanh
nghiệp có được nguồn vốn trung dài hạn hợp lý dẫn đến khả năng sinh lời cao và
đảm bảo được nghĩa vụ trả nợ đối ngân hàng.
Ngược lại khi môi trường kinh tế không ổn định, lạm phát xảy ra làm
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thu hẹp dẫn đến nhu cầu
tín dụng giảm mạnh. Bên cạnh đó khi môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định
và rơi vào suy thoái làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
bị đình trệ, thua lỗ và xuất hiện nợ quá hạn làm cho chất lượng tín dụng trung
dài hạn xấu đi nghiêm trọng. Khi nền kinh tế rơi và suy thoái, lạm phát tăng
cao làm cho lãi suất cho vay của các Ngân hàng tăng cao và các điều kiện tín
dụng cũng bị thắt chặt cho vay trung dài hạn giảm mạnh vì khi đó các dự án
sản xuất kinh doanh phải đảm bảo được mức sinh lời tối thiểu lớn. Tín dụng
trung dài hạn giảm mạnh, trong khi đó tín dụng ngắn hạn được ưu tiên và ưu
tiên cho những ngành ít chụi ảnh hưởng của lạm phát.
1.2.3.3 Các nhân tố thuộc về Ngân hàng
Cơ cấu và quy mô nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính trên thị trương tài chính, là
cầu nối giữa những người thừa vốn và thiếu vốn. Nên cơ cấu và quy mô của
nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng trung dài hạn,
nó đảm bảo nguyên tắc an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương
mại. Trong hoạt động của ngân hàng thương mại thì tính thanh khoản luôn là
một trong nguyên tắc được đặt lên hàng đầu vì thế để đảm bảo tính thanh
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
13
Chuyên đề tốt nghiệp
khoản và chất lượng tín dụng trung dài hạn thì các ngân hàng thương mại phải
lấy nguồn vốn trung dài hạn để cho vay trung dài hạn, bao gồm những nguồn
vốn có thời hạn trên một năn và những nguồn ngắn hạn nhưng có tính ổn định
cao. Một ngân hàng thương mại nếu có nguồn vốn ngắn hạn dồi dào thì cũng
không thể mở rộng cho vay trung dài hạn được vì nếu lấy nguồn vốn ngắn hạn
đi cho vay trung dài hạn thì rất nguy hiểm đến tính thanh khoản của ngân
hàng đó, điều này càng thể hiện rõ nét khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng
dẫn đến các nguồn vốn ngắn hạn có lãi suất cao và sự biến động cao cho nên
bản thân ngân hàng không thể phản ứng lại kịp sự thay đổi đó, dẫn đến mất
tính thanh khoản.
Quy mô huy động của nguồn vốn là rất quan trọng đối với chất lượng tín
dụng trung dài hạn. khi quy mô nguồn vốn không ngừng tăng trưởng nó giúp
cho ngân hàng mở rộng được quy mô tín dụng trung dài hạn, bên cạnh đó nó
còn giúp tạo uy tín cho ngân hàng trong việc đáp ứng tốt nhu cầu của khách
hàng từ đó tiếp cận được với nhữg khách hàng tốt, nâng cao được chất lượng
tín dụng.
Năng lực quản trị của ngân hàng
Năng lực quản trị của mỗi ngân hàng là yếu tố hàng đầu quyết định tới
tình hình kinh doanh và đảm bảo chất lượng tín dụng. Ngân hàng thương mại
là một định chế tài chính kinh doanh rủi ro, trong hoạt động của nó lợi nhuận
luôn đi đôi với rủi ro, lợi nhuận cao thì rủi ro lớn và ngược lại. Vì vậy quản trị
rủi ro tốt đồng nghĩa vơi chất lưọng tín dụng nói chung và chất lưọng tín dụng
trung dài hạn nói riêng. Tín dụng trung dài hạn luôn kèm theo là rủi ro lớn vì
vậy năng lực quản trị của ngan hàng tốt có thể giảm thiểu được những rủi ro
xảy ra. Trong một ngân hàng hiện đại thì hệ thống quản trị rủi ro luôn luôn
được quan tâm và thực hiện rất nghiêm túc, quy trình thẩm định và giám sát
trước và sau khi vay luôn được thực hiện rất chặt chẽ, đặc biệt đối tín dụng
trung dài hạn. Trong thẩm định tín dụng trung dài hạn đó là Ngan hàng thẩm
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
14
Chuyên đề tốt nghiệp
định một cách khách quan các yếu tố liên quan tới tính khả thi của dự án, giúp
cho ngân hàng đưa ra được kết luận về tính khả thi, khả năng sinh lời của dự
cũng như những rủi ro gặp phải và khả năng trả nợ của dự án để từ đó đưa ra
quyết định cho vay hay không. Qua thực hiện theo đúng quy trình thẩm dịnh
giúp cho Ngân hàng lựa chọn đựơc những khách tốt.
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng thương mại là một hệ thống
những biện pháp nhằm tăng trưởng hay hạn chế tín dụng phát triển, nhằm đạt
được mục tiêu mà ngân hàng đã đề ra. Qua đây ta có thể thấy được ý nghĩa
quan trọng của chính sách tín dụng đối với chất lượng tín dụng trung dài hạn.
Trước tiên xét về mặt quy mô tín dụng, nếu vào một giai đoạn nào đó tín dụng
trung dài hạn bị giảm tức là quy mô tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đó
bị giảm, điều này có nghĩa là chất lượng tín dụng trung dài hạn có thể đang có
vấn đề hoặc trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn sẽ gặp nhiều rủi ro tiềm
ẩn. Tất cả những điều chỉnh này cũng chỉ nhằm đảm bảo cho chất lượng tín
trung dài hạn mà thôi.
Ngoài việc thay đổi quy mô tín dụng thì chính sách tín dụng còn bao
gồm các vấn đề như quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách
hàng, quy định về kĩnh vực tài trợ, biện pháp đảm bảo tiền vay, quy trình
quản lý và lãi suất cho vay từng thời kỳ. qua đây có thể thấy tầm quan trọng
của chính sách tín dụng đối với chất lượng tín dụng, nếu một chính sách tín
dụng được xây dựng một cách khoahọc và thực hiện một cách nghiêm túc và
kết hợp hài hồ chặt chẽ giữa lợi ích của ngân hàng vơi lợi ích của khách hàng
và xã hội thì sẽ đảm bảo được chất lượng tín dụng tốt. Và ngược lại nếu chính
sách tín dụng không được xây dựng một cách khoa học và không thực thi một
cách nghiêm túc thì khó có thể đảm bảo được chất lượng tín dụng.
Thông tin tín dụng
Trong nghiệp vụ cho vay nói chung và cho vay trung dài hạn nói riêng
thông tin tín dụng luôn luôn là yếu tố quan trọng, là cơ sở để đưa ra các
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
15
Chuyên đề tốt nghiệp
quuyết định tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thông tin là rất đa
dạng, từ rất nhiều nguồn khác nhau vì thế Ngân hàng thương mại phải biết lựa
chọn những thông tin chính xác về dự án về doanh nghiệp vay vốn, để từ đó đưa
ra quyết định tín dụng một cách nhanh chóng. Việc thiếu thông tin là rất nguy
hiểm, ví như Ngân hàng không có thông tin về tình hình các ngành hàng nên đã
quyết định cho các doanh nghiệp trong ngành hàng này vay vốn dẫn đến tình
trạng nợ quá hạn xảy ra và chất lượng tín dụng bị suy giảm nghiêm trọng. Ngoài
thông tin đó ra thì thông tin phi tài chính cũng rất quan trọng, đặc biệt là đối với
các dự án một dự án dự có tính khả thi cao, tỷ suất lợi nhuận cao nhưng được
thực hiện bởi một chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thì khả năng thành công của dự
án này là không cao và chất lượng tín dụng không được đảm bảo.
Như vậy thông tín tín dụng đóng vai trị quan trọng đối với chất lượng tín
dụng, có được thông tin tín dụng chính xác sẽ giúp cho ngân hàng có đựơc
chính sách tín dụng khoa học sát với thị trường từ đó mà chất lượng tín dụng
cũng được đảm bảo.
Công nghệ ngân hàng
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay thì yếu tố công
nghệ ngân hàng cũng tác động tới chất lượng tín dụng. Một ngân hàng điện tử
có nhiều dịch vụ tiện ích sẽ tạo điều kiên đơn gian hoá các thủ tục, rút ngắn
thời gian giao dịch, đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng vay vốn và nâng
cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng từ đó thu hút được nhiều khách hàng
tốt, loại bỏ những khách hàng không tốt nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
trung dài hạn. Mặt khác công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ giúp ngân hàng sẽ
giúp ngân hàng thu thập thông tin nhanh chóng chính xác qua đó xây dựng
được chính sách tín dụng hiệu quả đem lại chất lượng tín dụng cao.
Chất lượng cán bộ tín dụng
Trong mọi tổ chức con người luôn là nhân tố quyết định đến sự thành bại
của tổ chức, đặc biệt trong nghiẹp vụ tín dụng của ngân hàng nó càng đóng
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
16
Chuyên đề tốt nghiệp
vai trị quan trọng hàng đầu. Chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín
dụng trung dài hạn có được đảm bảo hay không là do yếu tố con người quyết
định, bởi lẽ nếu trình độ, đạo đức của cán bộ tín dụng không cao thì các quy
trình tín dụng các chính sách tín dụng cũng không được thực hiện một cách
nghiêm túc từ đó đưa ra những thông tin tín dụng sai lệch dẫn đến cấp tín
dụng cho khách hàng không đủ tiêu chuẩn. Trong thực tế đã có rất nhiều cán
bộ tín dụng đã câu kết với khách hàng để lập lên những phương án vay vốn ảo
để lừa đảo ngân hàng. Đồng thời trình độ của cán bộ tín dụng yếu cũng dẫn
đến không thẩm định chính xác được những yếu tố liên quan đến tính khả thi
của dự án dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Vì vậy để nâng cao chất
lượngtín dụng thì Ngân hàng không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ tín
dụng và lựa chon những con người có dạo đức có tinh thần trách nhiệm cao
vào trong đội ngũ nhân sự của mình.
1.2.3.4 Nhân tố thuộc về khách hàng
1.2.3.4.1 Năng lực tài chính của khách hàng
Đây là nhân tố hàng đầu quyết định có cho hay không cho vay của ngân
hàng đối với khách hàng. Một khách hàng có tiềm lực tài chính lành mạnh sẽ
đảm bảo được khả năng hoàn trả vốn vay và có hiệu quả trong sử dụng vốn
vay do có cơ cấu vốn hợp lý đem lại.
1.2.3.4.1 Năng lực quản lý điều hành của doanh nghiệp
Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng trung dài hạn.
Một dự án dự có tốt đến đâu có tỷ suất sinh lời cao nhưng chủ đầu tư lại là
một doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm dẫn đến trong quá trình thực hiện dự án
đã không đem lại hiệu quả đầu tư như ý muốn. Vì thế những thông tin phi tài
chính của doanh nghiệp như hội đồng quản trị là những ai, mục tiêu chiến
lược quản lý và đội ngũ nhân sự có chuyên nghiệp không là một trong những
yếu tố quan trọng kết hợp với thông tin tài chính của doanh nghiệp để đưa ra
quyết định tín dụng của ngân hàng. Một doanh nghiệp có kinh nghiệm quản lý
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
17
Chuyên đề tốt nghiệp
điều hành, đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp thì sẽ đảm bảo được khả năng sử
dụng vốn vay một cách hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.3.4.2 Tinh thần hợp tác và uy tín của của doanh nghiệp
Yêu cầu đầu tiên của người đi vay là tinh thần hợp tác và trung thực, vì
thế khi mà ngân hàng mà nhận thấy được những gian dối của khách hàng thì
không được cho khách hàng đó vay vốn để bảo toàn tín dụng. cho nên đối với
mỗi khách hàng ngân hàng phải có biện pháp để kiểm tra uy tín và độ trung
thực. Những gian dối, thiếu đạo đức của khách hàng thể hiện qua việc cung
cấp thông tin sai sự thật, sử dụng vốn vay không đúng mục đích…Trong thực
tế ngày nay có rất nhiều hình thức tín dụng nên chất lượng tín dụng càng phụ
thuộc vào uy tín đạo đức của khách hàng vay.
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
18
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG
DÀI HẠN TẠI VIB LÊ THÁNH TÔNG
2.1. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của VIB Lê Thánh Tông
2.1.1 Giới thiệu khái quát về VIB Lê Thánh Tông
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VIB Lê Thánh Tông
VIB Lê Thánh Tông được thành lập ngày 6/10/2005 trực thuộc chi
nhánh VIB-Hoàn Kiếm. Trải qua chặng đường 7 năm hoạt động, VIB Lê
Thánh Tông nay đã trưởng thành. Với đội ngũ 24 nhân viên, đoàn kết và nhiệt
thành trong công việc, không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ nghiệp vụ,
chất lượng dịch vụ cùng với sự hỗ trợ chia sẻ của các phòng ban HO, các
đơn vị bạn trong hệ thống, sự chỉ đạo sâu sát của Ban Lãnh đạo Ngân hàng,
VIB Lê Thánh Tông đã đạt được một số thành công nhất định, khẳng định
được vị trí của mình trong hệ thống. VIB Lê Thánh Tông là một trong các
PGD hoạt động hiệu quả. Tổng tài sản trên 380 tỷ, với thế mạnh về huy động,
đồng thời với các hoạt động tín dụng, thanh toán Quốc tế hiệu quả, PGD VIB
Lê Thánh Tông đang phấn đấu trở thành một đơn vị kinh doanh có quy mô
phát triển vững mạnh.
VIB Lê Thánh Tông là:
- Đơn vị hạch toán phụ thuộc trong hệ thống NH Quốc Tế Việt Nam,
chịu sự quản lý trực tiếp của NH Quốc Tế, có con dấu riêng, có bảng cân đối
kế toán.
- VIB Lê Thánh Tông có quyền chủ động tổ chức quản lý, kinh doanh
nhằm sử dụng vốn có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn, tài sản và các nguồn
lực khác được giao để thực hiện mục tiêu kinh doanh và nhiềm vụ do Ngân
Hàng Quốc Tế giao hoặc được uỷ nhiệm phù hợp với quy định của pháp luật.
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ký kết các văn bản thoả thuận, các hợp đồng kinh tế, dân sự phục vụ
mục đích kinh doanh trong phạm vi hoạt động của Phòng giao dịch. Yêu cầu
khách hàng vay vốn cung cấp tài liệu thông tin về tình hình sản xuất kinh
doanh và tài chính để xem xét cấp tín dụng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn
vay của khách hàng. Từ chối các quan hệ tín dụng, các quan hệ kinh doanh
khách với khách hàng nếu thấy các quan hệ này trái với các quy định của
pháp luật hoặc không đem lại hiệu quả kinh tế cho chi nhánh hoặc không có
khả năng thu hồi vốn.
- Trích lập và sử dụng các quỹ để phục vụ các yêu cầu kinh doanh theo
quy định của NH Quốc Tế Việt Nam.
- Phối hợp, hợp tác với các đơn vị thành viên của NH Quốc Tế Việt Nam
trong hoạt động huy động vốn, cho vay, thanh toán và các hoạt động khác.
- Thực hiện nghiêm túc các kế hoạch kinh doanh được giao và chiến
lược định hướng phát triển do Ngân hàng Quốc Tế Việt Nam phê duyệt.
- Triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chế đội do Ngân hàng
Quốc Tế Việt Nam ban hành trong các hoạt động nghiệp vụ. Chịu sự kiểm tra,
giám sát toàn diện của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam. Tổ chức bộ máy của
VIB Lê Thánh Tông và quản lý lao động theo đúng quy định của Ngân hàng
Quốc Tế Việt Nam.
- Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn và các nguồn lực
khác được giao để thực hiện các mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ được NH
Quốc Tế Việt Nam, chịu trách nhiệm về tính xác thực của các báo cáo. VIB
Lê Thánh Tông có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và quy định về quản lý
vốn, tài sản chế độ hạch toán kế toán, kiểm toán và các chế độ khác do Nhà
Nước quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước.
Hoạt động trên một địa bàn tiềm năng là một thuận lợi cho VIB Lê
Thánh Tông,tuy nhiên VIB Lê Thánh Tông cũng gặp không ít khó khăn mà
trước tiên là sự cạnh tranh gắt gao trên thị trường tiền tệ tại địa bàn. Trên địa
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
20
Chuyên đề tốt nghiệp
bàn có rất nhiều chi nhánh của các ngân hàng khác như: Techcombank,
NHTMCP Quân Đội, NH VPBank,…Vì vậy để thu hút được các khách hàng
vay vốn là các doanh nghiệp trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. VIB Lê Thánh
Tông cũng không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ của mình để thu hút
khách hàng mục tiêu của mình là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các khách
hàng vay vốn là cá nhân, đây cũng là mục tiêu kinh doanh của nhiều Ngân
hàng TMCP khác.
Hoạt động của VIB Lê Thánh Tông tập chung vào các hoạt động chủ yếu
là nhận tiền gửi, sử dụng tiền để cấp tín dụng , cung cấp các dịch vụ thanh
toán, dịch vụ thẻ… Tuy nhiên vẫn tạo ra sự khác biệt cho mình bằng cách
phát huy thế mạnh từ trước đến nay và ngân hàng phục vụ cho các cá nhân và
doanh nghiệp vừa và nhỏ thuận tiện nhất, an toàn nhất, hiệu quả nhất.
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của PGD
Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
21
Trưởng phòng giao dịch
Trưởng phòng giao dịch
P.Dịch vụ
khách hàng
P.Dịch vụ
khách hàng
P. Kinh doanh
P. Kinh doanh
Bộ phận
dịch vụ
khách hàng
Bộ phận
dịch vụ
khách hàng
Bộ phận
kho quỹ
Bộ phận
kho quỹ
Bộ phận
tớn dụng
cỏ nhân
Bộ phận
tớn dụng
cỏ nhân
Bộ phận tớn
dụng doanh
nghiệp
Bộ phận tớn
dụng doanh
nghiệp
Bộ phận
giao dịch
tớn dụng
Bộ phận
giao dịch
tớn dụng
Chuyên đề tốt nghiệp
Trưởng phòng PGD
Trưởng phòng có nhiệm vụ điều hành hoạt động của PGD Lê Thánh
Tông. là người đi là người đại diện theo uỷ quyền và là người điều hành cao
nhất mọi hoạt động của PGD, thực hiện công tác quản lý hoạt động tại VIB
Lê Thánh Tông trong phạm vi phân cấp quản lý, phù hợp với các quy chế của
Ngân hàng Quốc Tế Việt Nam. Trưởng phòng phải chịu trách nhiệm trước
HĐQT và Tổng giám đốc ngân hàng quốc tế Việt Nam, trước pháp luật về
hoạt động kinh doanh, về các mục tiêu nhiệm vụ, về kết quả kinh doanh của
PGD VIB Lê Thánh Tông.
Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh bao gồm ba bộ phận, đó là bộ phận khách hàng cá
nhân, bộ phận khách hàng doanh nghiệp và bộ phận giao dịch tín dụng
Khối khách hàng cá nhân
Tìm kiếm và duy trì các mối quan hệ, tiếp thị các sản phẩm dịch vụ của
Ngân hàng đến các khách hàng cá nhân. Trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, thẩm định
khách hàng vay vốn theo đúng quy trình vay vốn của VIBank, sau đó làm tờ
trình để trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt. quản lý khách hàng sau vay
vốn, kiểm tra sự tuôn thủ các điều kiện vay vốn của khách hàng sau khi đã
giải ngân. Giám sát khách hàng vay về tình hình sử dụng vốn,về tài sản đảm
bảo, đôn đốc các khách hàng trả nợ đúng hạn.
Khối khách hàng doanh nghiệp(CB)
Thực hiện các chức năng nhiệm vụ giống khối PB. Phục vụ cho khách
hàng là các doanh nghiệp.
Bộ phận giao dịch tín dụng
Thẩm định về tính đầy đủ và chính xác của hồ sơ vay vốn, thực hiện
đăng ký giao dịch đảm bảo cho tài sản thế chấp vay vốn của khách hàng. Sau
khi khách hàng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt khoản vay thì giao dịch
tín dụng tiến hành giải ngân cho khách hàng vay vốn .
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Phòng dịch vụ khách hàng
Bộ phận dịch vụ khách hàng
Thực hiện giải ngân vốn vay trên cơ sở hồ sơ giải ngân được duyệt, thực
hiện tất cả các giao dịch nhận tiền gửi, chuyển, rút tiền bằng nội, ngoại tệ của
khách hàng, cung cấp dịch vụ thẻ cho khách hàng.Thực hiện giao dịch thu đổi
mua bán ngoại tệ giao ngay trong quyền hạn được cho phép.Giới thiệu các
sản phẩm dịch vụ mới với khách hang.
Bộ phận kho quỹ
Thực hiện các nghiệp vụ về tiền tệ, kho quỹ. Quản lý quỹ nghiệp vụ của
chi nhánh; thu chi tiền mặt; quản lý vàng bạc, kim loaị quý, đá quý; quản lý
chứng chỉ có giá, hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố; thực hiện xuất nhập khẩu
tiền mặt để đảm bảo thanh khoản tiền mặt cho chi nhánh; thực hiện các dịch
vụ tiền tệ, kho quỹ cho khách hàng.
2.1.2 Các hoạt động chính của VIB Lê Thánh Tông
2.1.2.1Huy động vốn
VIB Lê Thánh Tông luôn xác định được ý nghĩa quyết định của hoạt
động huy động vốn đối với hoạt động của Ngân hàng, đặc biệt quan trọng đối
với hoạt động cho vay. Đây là thước đo sức mạnh, là cơ sở cho việc thực hiện
và đẩy mạnh của các hoạt động khác của Ngân Hàng. Ngân hàng VIB Lê
Thánh Tông đã thực hiện nhiều hình thức huy động tiền gửi và chính sách thu
hút khách hàng đa dạng
VIB Lê Thánh Tông thực hiện huy động các nguồn vốn ngắn hạn, trung
dài hạn từ các tổ chức kinh tế và dân cư bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới
các hình thức tiền gửi thanh toán, tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn.
2.1.2.2.Cho vay
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ có thế mạnh nhất của
VIB Lê Thánh Tông. VIB Lê Thánh Tông đã tích cực trong việc tìm kiếm và
thu hút khách hàng bằng nhiều chính sách khách hàng hấp dẫn.VIB Lê Thánh
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Tông tiến hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp, cá nhân dưới hình thức vay
theo món, theo hạn mức, với thời hạn ngắn trung và dài hạn, Tài trợ xuất nhập
khẩu, bảo lãnh dự thầu.
VIB Lê Thánh Tông có thế mạnh là cho vay cá nhân với những khoản
vay trung dài hạn để tài trợ cho mục đích mua bất động sản,mua nhà, sửa
chữa nhà, vay kinh doanh. Tất cả các khoản vay này đều được trả theo
phương thức trả góp hàng tháng theo dư nợ giảm dần và được đảm bảo bằng
bất động sản. Tại VIB Lê Thánh Tông cũng đẩy mạnh sản phẩm cho vay tín
chấp cán bộ công nhân viên, dư nợ của sản phẩm này ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn, đây cũng là mục tiêu kinh doanh của các ngân hàng trong nước
nhằm chống lại sức cạnh tranh của các ngân hàng ngoại. Các sản phẩm cho
vay cá nhân bao gồm:
-Cho vay mua nhà trả góp, thời gian tối đa 180 tháng Ngân hàng sẽ tài
trợ 70% tổng nhu cầu vốn của khách hàng
- Cho vay mua ô tô trả góp, tài sản đảm bảo chính là chiếc xe định mua,
thời gian cho vay tối đa 72 tháng.
- Cho vay hộ gia đình bổ xung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
- Cho vay tín chấp cán bộ công nhân viên
Cho vay doanh nghiệp tại VIB Lê Thánh Tông còn chiếm một tỷ trọng
không lớn trong cơ cấu dư nợ. VIB Lê Thánh Tông luôn luôn cố gắng nâng
cao chất lương phục vụ đối doanh nghiệp vừa và nhỏ, các sản phẩm cho vay
daonh nghiệp không ngừng được cải tiến và phát triển mới nhằm thu hút
những khách hàng mới
2.1.2.3.Kinh doanh ngoại tệ
Tiến hành mua bán ngoại tệ với tổ chức cá nhân theo quy định về pháp
lệnh ngoại hối và quy định của VIB
2.1.2.4.Các dịch vụ khác
-Phát hành thẻ ATM,thẻ Master
-Dịch vụ thanh toán
-Dịch vụ ngân hàng điện tử
Nguyễn Đức Tuấn Lớp: NHG - K10
24