Tải bản đầy đủ (.docx) (100 trang)

kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty tnhh tư vấn kế toán và kiểm toán việt nam (ava)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (952.34 KB, 100 trang )

1
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn đều là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của
đơn vị thực tập và chưa từng được sử dụng trong luận văn, luận án nào.
Tác giả luận văn
Sinh viên
Hoàng Kiều Anh
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
1
2
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AVA Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
BCKT Báo cáo kiểm toán
BCTC Báo cáo tài chính
HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
KTV Kiểm toán viên
TSCĐ Tài sản cố định
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
2
3
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
MỤC LỤC
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
3
4
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những biến chuyển về mọi mặt,
đặc biệt là nền kinh tế phát triển sôi động. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển trong
môi trường cạnh tranh, yêu cầu quản lý được đặt ra cấp thiết. Một trong những
công cụ quản lý được sử dụng phải kể đến hoạt động kiểm toán.
Xuất hiện từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX nhưng hoạt động
kiểm toán đã nhanh chóng phát triển và dần khẳng định vị trí quan trọng trong
nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi theo cơ chế thị trường và tăng
cường hội nhập phát triển kinh tế ở Việt Nam. Với chức năng xác minh và bày tỏ
ý kiến về BCTC từ đó phản ánh thực trạng hoạt động của đơn vị được kiểm toán,
kiểm toán tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, cho
khách hàng và những người quan tâm, góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng
cố nề nếp hoạt động tài chính – kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói chung,
nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Ngày nay, các công ty kiểm toán không
chỉ dừng lại ở việc thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính mà còn mở rộng sang
lĩnh vực khác như: tư vấn tài chính, tư vấn thuế, phát triển phần mềm kế toán …
Trong xu hướng phát triển của xã hội, Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm
toán Việt Nam (AVA) được thành lập và đi vào hoạt động đã, đang ngày càng
khẳng định được uy tín của mình trong lĩnh vực kiểm toán.
TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của đơn vị, đặc
biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Trong mọi trường hợp, TSCĐ phản ánh tình
trạng trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Vì vậy có thể nói
TSCĐ là một khoản mục quan trọng trên BCTC. Hơn thế nữa trong quá trình hoạt
động TSCĐ phát sinh chi phí nâng cấp, sửa chữa và hao mòn. Việc tính và phân
bổ chi phí khấu hao ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định giá vốn và tiếp đến là
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi thế, AVA luôn coi kiểm toán khoản mục
tài sản cố định là một trong các phần hành quan trọng của tất cả các cuộc kiểm
toán Báo cáo tài chính và luôn được thực hiện bởi các KTV giàu kinh nghiệm.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán khoản mục tài sản cố định,

trong quá trình thực tập và được tìm hiểu tình hình thực tế của công ty, dưới sự
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
4
5
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
hướng dẫn tận tình của Thầy giáo Phạm Tiến Hưng và các anh chị KTV em đã
mạnh dạn chọn đề tài:”Kiểm toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán
Báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam
(AVA)” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quy trình kiểm toán khoản mục Tài
sản cố định trong kiểm toán BCTC.
- Làm rõ thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định tại
công ty TNHH Tư vấn Kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA).
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Tài
sản cố định tại công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA).
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là: Lý luận về quy trình kiểm toán BCTC, quy
trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán BCTC.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là: Đề tài nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản
mục Tài sản cố định với tư cách là một bộ phận, một khoản mục trong một cuộc
kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung:
+ Phương pháp duy vật biện chứng
+ Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp diễn giải
+ Phương pháp tổng hợp

+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp khảo sát thực tiễn
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
5
6
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
+
5.Nội dung kết cấu đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về quy trình kiểm toán khoản mục
Tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố
định trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán
Việt Nam (AVA).
Chương 3: Những kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm
toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán BCTC tại Công tyTư vấn kế
toán và kiểm toán Việt Nam (AVA).
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Kiều Anh
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
6
7
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1ĐẶC ĐIỂM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN

• Khái niệm Tài sản cố định
TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, mang lại lợi ích lâu dài cho doanh
nghiệp, là một bộ phận chủ yếu của tư liệu lao động đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định năng
lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trong quá trình sản xuất kinh
doanh, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được dịch
chuyển dần dần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra trong kỳ mà nó tham
gia sản xuất
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03: TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình
thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.Tài sản được ghi nhận là
TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản;
- Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04:TSCĐ vô hình là tài sản không có hình
thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng
trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê
phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Một tài sản vô hình được ghi
nhận là TSCĐ vô hình phải thỏa mãn đồng thời:
- Định nghĩa về TSCĐ vô hình; và
- Bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
7
8
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang
lại;
+ Nguyên giá tài sản phải xác định được một cách đáng tin cậy;

+ Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Theo thông tư 203/2009/TT – BTC ngày 20/10/2009 TSCĐ phải là những tài
sản có giá trị từ 10 triệu VNĐ trở lên (áp dụng từ 1/1/2010).
Đặc điểm chủ yếu và cơ bản của TSCĐ ảnh hưởng đến hoạt động kiểm toán:
- TSCĐ thường có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, trong quá trình sử dụng
doanh nghiệp phải trích khấu hao các tài sản này và có thể phát sinh các chi phí
nâng cấp sửa chữa TSCĐ. Do đó công tác hạch toán TSCĐ cần tuân thủ theo các
quy định kế toán hiện hành có liên quan. Việc xác định giá trị ban đầu của TSCĐ
không chính xác, áp dụng chính sách khấu hao không hợp lý, phản ánh các chi phí
phát sinh sau ban đầu không kịp thời đúng đắn sẽ ảnh hưởng đến các thông tin
có liên quan đến TSCĐ trên BCTC như nguyên giá, giá trị hao mòn, chi phí khấu
hao, chi phí sửa chữa nâng cấp TSCĐ từ đó sẽ ảnh hưởng đến chỉ tiêu về lợi
nhuận, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- Quá trình mua sắm trang bị TSCĐ trong các doanh nghiệp thường không
nhiều và diễn ra không đều đặn, nó thường được thực hiện theo một trình tự có
sự kiểm soát tương đối chặt chẽ của các doanh nghiệp. Mọi nghiệp vụ liên quan
đến TSCĐ đều phải được phê duyệt bởi người có thẩm quyền và theo một trình tự
nhất định của doanh nghiệp.
• Phân loại TSCĐ
TSCĐ trong doanh nghiệp là một bộ phận tài sản chủ yếu, phong phú về chủng
loại và nguồn hình thành. Mỗi TSCĐ trong doanh nghiệp có công dụng khác nhau
trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, để quản lý tốt cần
phải phân loại TSCĐ theo từng nhóm, chi tiết đến từng đối tượng TSCĐ. Trong
doanh nghiệp thường phân loại TSCĐ theo một số tiêu thức sau:
Theo hình thái biểu hiện, TSCĐ bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình
Theo quyền sở hữu, TSCĐ bao gồm: TSCĐ tự có, TSCĐ thuê ngoài
Theo tình hình sử dụng, TSCĐ gồm: TSCĐ đang dùng, TSCĐ chưa cần dùng, TSCĐ
không cần dùng và chờ thanh lý.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02

8
9
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
• Giá trị Tài sản cố định
TSCĐ được thể hiện thông qua nguyên giá và chi phí khấu hao TSCĐ.
• Nguyên giá TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ được xác định tùy thuộc vào từng trường hợp tăng tài
sản như mua ngoài, XDCB hoàn thành, tự chế, biếu tặng, điều chuyển…
Khi kiểm tra tính trung thực hợp lý của nguyên giá TSCĐ được ghi nhận, KTV
thường chỉ kiểm tra được trên hồ sơ tài sản. Trên thực tế giá trị của TSCĐ tương
tự trên thị trường thường sai khác so với nguyên giá mà đơn vị ghi nhận (có thể
cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể), nếu chỉ kiểm tra trên hồ sơ thì sẽ chỉ đánh giá
được tính trung thực của việc ghi nhận còn tính hợp lý không được đảm bảo bởi
việc ghi nhận nguyên giá của tài sảnđã có sự thống nhất thông đồng giữa bên
mua và bên bán. Nếu muốn kiểm tra được tính hợp lý của giá trị ghi nhận KTV
cần sử dụng các công cụ hỗ trợ khác như internet,đánh giá khảo sát thị trường
và ý kiến của chuyên gia…những việc làm này thường mất nhiều thời gian chi
phí, các công ty kiểm toán chưa có đủ điều kiện để thực hiện.
• Hao mòn TSCĐ
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do chịu tác động
của nhiều nguyên nhân khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn dần. Do phục vụ cho
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và để đảm bảo nguyên tắc “thận trọng” rằng
giá trị của tài sản không được đánh giá cao hơn cũng như nguyên tắc “phù hợp”
thì cần chuyển giá trị TSCĐ vào giá trị sản phẩm tạo ra bằng việc trích khấu hao
TSCĐ.
Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trịcủa TSCĐ trong suốt
quá trình sử dụng hữu ích của tài sản cố định đó.
Căn cứ xác định giá trị hao mòn của TSCĐ là:
- Giá trị tính khấu hao tài sản
- Thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản

- Phương pháp khấu hao
Việc xác định giá trị hao mòn của đơn vị thường mang tính chất rất chủ quan của
bộ phận kế toán. Việc xác định thời gian sử dụng hữu ích của tài sản dựa trên
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
9
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
phán đoán của kế toán mà không dựa trên tình hình sử dụng thực tế của đơn vị.
Phương pháp khấu hao thường áp dụng theo lối mòn không sát với thực tế khấu
hao dẫn đến giá trị hao mòn phản ánh không đúng thực trạng.Hơn nữa, chi phí
khấu hao ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định giá vốn và sau đó là lợi nhuận
đơn vị vì vậy mà nhiều đơn vị tiến hành trích khấu hao để đạt được mục đích của
mình có thể là giảm lãi hoặc biến lỗ thành lãi…
• Công tác quản lý Tài sản cố định
TSCĐ được các doanh nghiệp theo dõi, quản lý cả về mặt hiện vật và giá trị.
Quản lý về mặt hiện vật: do TSCĐ có thời gian sử dụng lâu dài nên việc quản lý
phải đảm bảo cảvề số lượng và chất lượng của TSCĐ. TSCĐ phải luôn được đảm
bảo đủ về số lượng, tránh hỏng hóc mất mát và phát huy hết công suất hiện có
trong quá trình sử dụng, khi có TSCĐ bị hư hỏng phải phát hiện và có biện pháp
khắc phục sửa chữa kịp thời. Để thực hiện tốt vấn đề này, mỗi doanh nghiệp cần
phải xây dựng nội quy bảo quản và sử dụng TSCĐ một cách hợp lý, phù hợp với
đặc điểm hoạt động của mình.
Quản lý về mặt giá trị: Là xác định đúng nguyên giá, giá trị còn lại của TSCĐ
đầu tư, mua sắm, điều chuyển và giá trị hao mòn.Quản lý TSCĐ về mặt giá trị là
công việc chủ yếu trong công tác hạch toán kế toán. Công việc này đảm bảo cho
ban quản lý có thể biết chính xác, kịp thời, đầy đủ những thông tin về mặt giá trị
(Nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại) của từng loại TSCĐ trong doanh
nghiệp tại từng thời điểm xác định.
Công tác quản lý tài sản cố định thực hiện tốt đến đâu thể hiện hệ thống KSNB có
hiệu lực, hiệu quả đến đó. Việc khảo sát hệ thống KSNB là bước công việc không

thể thiếu trong mỗi cuộc kiểm toán, giúp KTV đánh giá được rủi ro kiểm soát, hơn
nữa nếu việc quản lý tài sản của đơn vị khách hàng thực hiện tốt và có hiệu quả
KTV có thể tin tưởng vào kết quả mà đơn vị cung cấp, phạm vi kiểm toán được thu
hẹp, các thủ tục kiểm toán cũng sẽ giảm đi, tiết kiệm thời gian và chi phí khi vẫn
đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán.
• Kế toán tài sản cố định
• Về chứng từ :
Tổ chức chứng từ kế toán là thiết kế khối lượng công tác hạch toán ban đầu trên
hệ thống các văn bản chứng từ hợp lý, hợp pháp theo một quy trình luân chuyển
chứng từ nhất định.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
10
11
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Các chứng từ được sử dụng trong hạch toán TSCĐ bao gồm:
- Hợp đồng mua TSCĐ
- Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán
- Biên bản bàn giao TSCĐ
- Biên bản thanh lý TSCĐ
- Biên bản nghiệm thu khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành
- Biên bản đánh giá lại TSCĐ
- Biên bản kiểm kê TSCĐ
- Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng mua tài sản
- Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ
• Tài khoản sử dụng
Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, trong hạch toán TSCĐ, TSCĐ được
phân thành những nhóm khác nhau và sử dụng những tài khoản chính sau:
TK 211: “ TSCĐ hữu hình”
TK 212: “Tài sản cố định thuê tài chính”
TK 213: “Tài sản cố định vô hình”

TK 214: “Khấu hao tài sản cố định”
• Trình tự kế toán Tài sản cố định
Trình hạch toán TSCĐ được thể hiện qua sơ đồ 1.1 ( Phụ lục số 1)
Về sổ sách: Để theo dõi kịp thời và đầy đủ các thông tin về Tài sản cố định, các
doanh nghiệp thường sử dụng hệ thống chứng từ sổ sách như:
- Thẻ TSCĐ
- Sổ chi tiết TSCĐ theo từng bộ phận sử dụng và theo loại TSCĐ
- Sổ cái các tài khoản 211, 212, 213, 214
Quá trình hạch toán là quá trình kế toán ghi chép xử lý số liệu với các nghiệp vụ
phát sinh về tài sản, tổng hợp và báo cáo tình hình tài sản biến động trong kỳ.
Quá trình hạch toán này thường có nhiều rủi ro vì nó phụ thuộc vào trình độ của
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
11
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
kế toán đơn vị, ý muốn của ban giám đốc, sự tư lợi cá nhân
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
12
13
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.2KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.2.1 Mục tiêu kiểm toán khoản mục Tài sản cố định
Phù hợp với mục tiêu chung của kiểm toán BCTC là xác nhận về mức độ tin cậy
của BCTC được kiểm toán. Mục tiêu cụ thể của kiểm toán TSCĐ là thu thập đầy đủ
các bằng chứng thích hợp từ đó đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các
thông tin tài chính liên quan đến khoản mục TSCĐ. Đồng thời cung cấp những
thông tin, tài liệu có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các chu kỳ
khác. Hơn nữa mục tiêu kiểm toán còn là đánh giá về hệ thống KSNB, chỉ ra
những hạn chế yếu kém còn tồn tại và đề ra giải pháp khắc phục để hoàn thiện

HT KSNB.
Trên cơ sở mục đích kiểm toán TSCĐ như trên ta có thể xác định mục tiêu
kiểm toán cụ thể đối với kiểm toán khoản mục TSCĐ như sau:
-Đối với hệ thống KSNB: đánh giá tính phù hợp, đầy đủ trong thiết kế; tính
thường xuyên, liên tục và có hiệu quả trong vận hành qua đó thấy được những
hạn chế yếu kém trong kiểm soát nội bộ, đề ra giải pháp khắc phục hoàn thiện hệ
thống KSNB trong thư quản lý.
-Đối với nghiệp vụ về TSCĐ: Chi tiết bảng 1.1 (Phụ lục số 2)
-Đối với số dư TSCĐ: Chi tiết bảng 1.2 (Phụ lục số 3)
1.2.2 Căn cứ kiểm toán khoản mục Tài sản cố định
Để có thể tiến hành kiểm toán và có thể đưa ra nhận xét về các chỉ tiêu liên quan đến
TSCĐ trên BCTC, KTV phải dựa vào các thông tin và tài liệu sau:
- Các nội quy, quy chế nội bộ của đơn vị liên quan đến việc mua sắm, quản
lý, sử dụng, thanh lý nhượng bán TSCĐ;
- Các tài liệu là căn cứ pháp lý cho các nghiệp vụ tăng, giảm, mua bán, sửa
chữa TSCĐ như: hợp đồng mua bán, biên bản thanh lý hợp đồng, các quyết định
đầu tư…;
- Các chứng từ phát sinh liên quan đến TSCĐ như: Hóa đơn mua, các hóa
đơn liên quan đến việc vận chuyển, lắp đặt, sửa chữa TSCĐ, các chứng từ thanh
toán có liên quan như: Phiếu chi, giấy báo nợ, các biên bản thanh lý nhượng
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
13
14
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
bán ;
- Các Sổ kế toán tổng hợp và chi tiếtnhư: Sổ chi tiết TSCĐ
- Các Báo cáo kế toán tổng hợp và chi tiết như: Báo cáo tăng, giảm TSCĐ,
Báo cáo sửa chữa, Báo cáo thanh toán… Các báo cáo tài chính có liên quan;
- Thông tư 203/2009/TT-BTC về việc trích khấu hao TSCĐ
1.2.3 Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định

Kiểm toán khoản mục TSCĐ là một phần hành của một cuộc kiểm toán, vì vậy quy
trình kiểm toán TSCĐ cũng thống nhất với quy trình kiểm toán chung. Cụ thể, quy
trình kiểm toán khoản mục TSCĐ bao gồm ba giai đoạn chủ yếu:
- Lập kế hoạch kiểm toán
- Thực hiện kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán (Tổng hợp kết quả kiểm toán khoản mục TSCĐ)
1.2.3.1 Lập kế hoạch kiểm toán
1.2.3.1.1 Chuẩn bị cho kiểm toán tài sản cố định
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV cần đánh giá khả năng
chấp nhận thư mời kiểm toán dựa vào việc xem xét tính liêm chính của ban Giám
đốc (BGĐ) công ty khách hàng. Đối với khách hàng mới liên lạc với KTV tiền
nhiệm. Đối với khách hàng cũ, KTV phải cập nhật các thông tin về khách hàng và
đánh giá.
- Xem xét hệ thống KSNB: qua đó, KTV có thể đánh giá rủi ro của hệ thống
KSNB, tìm hiểu các sai sót trọng yếu có thể có trên BCTC.
- Nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng: KTV có thể phỏng vấn
trực tiếp BGĐ khách hàng (đối với khách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm
cuộc kiểm toán đã được thực hiện trước đó (đối với khách hàng cũ).
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán có chuyên môn nghiệp
vụ, độc lập và có hiểu biết hay kinh nghiệm về lĩnh vực kinh doanh của khách
hàng.
- Ký kết hợp đồng kiểm toán: nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
14
15
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.2.3.1.2 Lập kế hoạch kiểm toán
• Thu thập thông tin cơ sở
Do mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm về cách thức quản lý,
vận hành sản xuất kinh doanh riêng nên việc thu thập thông tin chung về kinh tế

và các đặc thù hoạt động kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
rằng KTV có đầy đủ những thông tin cần thiết về khách hàng để từ đó có thể
nhận biết những nghiệp vụ có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, xác định trọng
tâm kiểm toán cho toàn bộ cuộc kiểm toán nói chung và cho kiểm toán khoản
mục TSCĐ nói riêng.
Những thông tin mà KTV cần thu thập bao gồm:
- Thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán: xem đơn vị đó hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất, thương mại hay dịch vụ, thuộc khối ngành công nghiệp
nặng hay công nghiệp nhẹ….từ đó có cơ sở đánh giá tỷ trọng TSCĐ trên tổng giá
trị tài sản là cao hay thấp; cũng như đặc trưng cơ bản về TSCĐ của đơn vị.
- Thông tin về hệ thống kế toán TSCĐ và hệ thống KSNB về TSCĐ của đơn vị được
kiểm toán: chính sách kế toán về TSCĐ mà đơn vị áp dụng và thay đổi trong các
chính sách kế toán đó như chính sách khấu hao TSCĐ; ảnh hưởng của các chính
sách mới về kế toán, kiểm toán TSCĐ đối với đơn vị; Tổ chức hoạt động của hệ
thống kế toán và kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ đã hiệu quả hay chưa; …
Các kỹ thuật thu thập thông tin về khách hàng thường áp dụng:
- Tiến hành trao đổi với KTV tiền nhiệm hoặc tiến hành phỏng vấn Ban giám đốc
khách hàng để có thông tin về chính sách TSCĐ, sự biến động lớn (tăng, giảm)
TSCĐ trong năm.
- Xem xét lại kết quả cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung: các vấn đề
còn tồn tại trong hệ thống KSNB đối với TSCĐ, các gian lận sai sót liên quan đến
TSCĐ năm trước…
- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, máy móc, trang thiết bị của đơn vị nhằm đánh
giá công tác quản lý, bảo quản tài sản: Máy móc, dây chuyền sản xuất được bố trí,
sắp xếp và vận hành tại các phân xưởng, bộ máy sản xuất như thế nào, những
máy móc nào đã lỗi thời, lạc hậu không còn sử dụng.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
15
16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính

- Dự kiến sử dụng chuyên gia nếu thấy TSCĐ của đơn vị có các chủng loại khác
biệt cần ý kiến thẩm định của các chuyên gia.
Đây chỉ là các thông tin cơ sở và KTV không bắt buộc phải hiểu biết sâu sắc về nó
như những nhà quản lí doanh nghiệp.
• Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
- Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty.
- Các Báo cáo tài chính, Báo cáo kiểm toán, Biên bản thanh tra, kiểm tra của năm
hiện hành hoặc của vài năm trước.
- Biên bản của các cuộc họp Cổ đông, họp Hội đồng quản trị, Ban giám đốc của
công ty khách hàng liên quan đến TSCĐ như: kế hoạch mua sắm, thanh lý,
nhượng bán TSCĐ; quyết định tăng (giảm) TSCĐ…
- Sổ đăng ký khấu hao với cơ quan thuế, biên bản góp vốn, biên bản xét thầu, hợp
đồng xây dựng với đơn vị trúng thầu, biên bản đánh giá lại của Hội đồng đánh
giá khi nhận vốn góp hoặc khi đi góp vốn….
• Thực hiện các thủ tục phân tích
Quy trình phân tích áp dụng trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán được dựa
trên các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Thủ tục phân tích đối với
tài sản cố định được thực hiện với cả phân tích dọc và phân tích ngang.
- Phân tích ngang (Phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so
sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC. Đối với TSCĐ,
KTV có thể tính toán một số tỷ suất như tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tư
- Phân tích dọc (Phân tích tỷ suất): Đối với khoản mục TSCĐ, KTV có thể so
sánh số liệu năm trước với năm nay, qua đó thấy được những biến động bất
thường và phải xác định nguyên nhân. Đồng thời KTV có thể so sánh dữ liệu của
khách hàng với số liệu của ngành.
• Tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá RRKS
Hiểu biết rõ về hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là
bước công việc vô cùng quan trọng quyết định sự thành công của một cuộc kiểm
toán. Điều này cũng được quy định rất rõ trong CMKT Việt Nam số 400 Đánh giá
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02

16
17
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
rủi ro và KSNB: ”KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và KSNB của KH
để lên KHKT và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả”, và “trong khuôn
khổ kiểm toán BCTC, KTV chỉ quan tâm đến các chính sách và thủ tục liên quan
của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến các cơ sở dẫn liệu cho
việc lập BCTC”.
Việc nghiên cứu HTKSNB của khách hàng và đánh giá được rủi ro kiểm soát giúp
cho KTV thiết kế được những thủ tục Kiểm toán thích hợp cho khoản mục TSCĐ,
đánh giá được khối lượng và độ phức tạp của cuộc Kiểm toán, từ đó ước tính được
thời gian và xác định được trọng tâm cuộc Kiểm toán.
HTKSNB càng hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát càng nhỏ và ngược lại, rủi ro kiểm
soát càng cao khi HTKSNB yếu kém.
Trong giai đoạn này, KTV tìm hiểu nghiên cứu và đánh giá HTKSNB về khía cạnh
là hệ thống KSNB đối với TSCĐ được thiết kế như vậy có đầy đủ, phù hợp và đảm
bảo khả năng kiểm soát, phòng ngừa và phát hiện các rủi ro kiểm soát xảy ra đối
với khoản mục TSCĐ không.
Kỹ thuật chủ yếu KTV sử dụng để tìm hiểu, đánh giá về hệ thống KSNB đối với
TSCĐ là yêu cầu đơn vị cung cấp các tài liệu, các văn bản quy định về KSNB có
liên quan đến TSCĐ như : các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ
phận hay cá nhân sử dụng, thẩm quyền xét duyệt các nghiệp vụ liên quan đến
TSCĐ, trình tự và thủ tục tăng, giảm TSCĐ….
Sau khi tiến hành các công việc trên, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát và thiết kế các
thử nghiệm kiểm soát. Bước công việc này được thực hiện như sau:
+ Xác định loại gian lận và sai sót có thể xảy ra trong khoản mục TSCĐ.
+ Đánh giá tính hiện hữu của HTKSNB trong việc phát hiện và ngăn chặn
các gian lận và sai sót đó.
+ Nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá là không cao ở mức tối đa và
KTV xét thấy có khả năng giảm bớt được rủi ro kiểm soát đã đánh giá xuống một

mức thấp hơn, KTV sẽ xác định các thử nghiệm kiểm soát cần thiết. Ngược lại,
nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao và xét thấy không có khả
năng giảm được trong thực tế, KTV không cần thực hiện các thử nghiệm kiểm
soát mà phải tiến hành ngay các thử nghiệm cơ bản ở mức độ hợp lý.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
17
18
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
KSNB TSCĐ được coi là hữu hiệu được thể hiện qua việc bảo vệ và quản lý tốt
TSCĐ. Khi tìm hiểu hệ thống KSNB đối với TSCĐ, KTV cần quan tâm đến các vấn
đề sau đây:
- Đơn vị có lập kế hoạch, dự toán ngân sách cho việc mua sắm TSCĐ không?
- Đơn vị có đối chiếu thường xuyên giữa sổ chi tiết và sổ tổng hợp không?
- Có kiểm kê định kỳ và đối chiếu với sổ kế toán hay không?
- Các chênh lệch giữa giá dự toán và giá thực tế có được xét duyệt thường
xuyên và phê chuẩn hay không?
- Khi nhượng bán, thanh lý TSCĐ có lập Hội đồng thanh lý, nhượng bán bao gồm
các thành viên theo quy định hay không?
- Có chính sách phân biệt giữa chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu ghi tăng
nguyên giá TSCĐ và xác định thời gian sử dụng hữu ích hoặc tính vào chi phí
SXKD trong kỳ hay không?
- Chế độ kế toán đơn vị đang áp dụng, phương pháp khấu hao TSCĐ có phù hợp
không?
Bên cạnh đó KTV cũng xem xét đến công tác quản lý tốt TSCĐ cũng như việc xây
dựng các quy định, các nguyên tắc và thủ tục về bảo quản TSCĐ.
• Đánh giá rủi ro và mức độ trọng yếu ban đầu của KTV

• Đánh giá tính trọng yếu
Tính trọng yếu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, nó
là căn cứ để xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán.

Trong thực tế việc xét đoán tính trọng yếu là một vấn đề nhạy cảm phụ thuộc rất
nhiều vào bản thân mỗi KTV về tính chủ quan và khả năng xét đoán nghề nghiệp.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320, tính trọng yếu được xem xét qua
các bước theo sơ đồ 1.2 (Phụ lục số 4)
Ước lượng ban đầu về trọng yếu chính là tổng hợp các sai sót có thể chấp
nhận được trên BCTC. Trong thực tế khi lập kế hoạch kiểm toán KTV thường dự
kiến và ấn định mức trọng yếu ban đầu thấp hơn mức được sử dụng để đánh giá
kết quả kiểm toán nhằm tạo ra một khoảng lề an toàn cho KTV và cuộc kiểm
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
18
19
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
toán.
Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho khoản mục TSCĐ: mức
trọng yếu của khoản mục TSCĐ còn gọi là sai sót có thể bỏ qua. Việc phân bổ ước
lượng ban đầu về tính trọng yếu được tiến hành theo 2 trường hợp là sai sót trên
sổ lớn hơn thực tế và nhỏ hơn thực tế. Cơ sở phân bổ ước lượng ban đầu về tính
trọng yếu cho khoản mục TSCĐ là:
- Kinh nghiệm của KTV về sai sót của khoản mục TSCĐ
- Chi phí kiểm toán đối với khoản mục TSCĐ: chi phi kiểm toán cao thì phân bổ
mức trọng yếu sẽ nhiều.
Đánh giá rủi ro: Mục đích của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là để xác định mức
rủi ro phát hiện, từ đó làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán.
Việc đánh giá rủi ro Kiểm toán thông qua việc đánh giá ba bộ phận: Rủi ro tiềm
tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện căn cứ vào mối quan hệ được phản ánh
trong mô hình sau:
DR= AR/IR*CR
Trong đó:
AR : Rủi ro kiểm toán
IR : Rủi ro tiềm tàng

CR : Rủi ro kiểm soát
DR : Rủi ro phát hiện
Trọng yếu và rủi ro có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nếu mức sai sót chấp
nhận được (hay trọng yếu) được đánh giá cao lên thì rủi ro Kiểm toán sẽ phải
giảm xuống, và ngược lại rủi ro Kiểm toán sẽ tăng lên, việc thu thập bằng chứng
phải mở rộng. Trong cuộc Kiểm toán, KTV mong muốn AR càng nhỏ càng tốt vì nó
đảm bảo kết quả Kiểm toán tối ưu.
• Thiết kế chương trình kiểm toán TSCĐ
Sau khi thực hiện các công việc trên KTV phải xây dựng một chương trình
kiểm toán cụ thể cho cuộc kiểm toán.
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
19
20
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm
toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV
cũng như dự kiến về các tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập.
Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thiết thực
hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán.
Chương trình kiểm toán TSCĐ được thiết kế bao gồm:
- Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát.
- Thiết kế các thủ tục phân tích.
- Thiết kế các thủ tục kiểm tra chi tiết.
1.2.3.2 Thực hiện kiểm toán
1.2.3.2.1 Thực hiện khảo sát kiểm soát đối với TSCĐ
Thử nghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu HTKSNB được đánh
giá là có hiệu lực. Khi đó, các thử nghiệm kiểm soát được triển khai nhằm thu
thập các bằng chứng Kiểm toán về thiết kế, vận hành và về tình hình thực hiện
các nguyên tắc tổ chức hoạt động kiểm soátcủa HTKSNB. Sau những thủ nghiệm
kiểm soát KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát để từ đó xác định phạm vi kiểm toán,

thiết kế thủ nghiệm cơ bản phù hợp. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 quy
định: “Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra để
thu thập bằng chứng Kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu
của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Trong giai đoạn này, thử nghiệm kiểm soát thường được KTV tiến hành theo các
mục tiêu kiểm toán. Đối với kiểm toán phần hành TSCĐ, thử nghiệm kiểm soát
được thực hiện chi tiết theo bảng 1.3 (Phụ lục số 5)
1.2.3.2.2 Thực hiện các thử nghiệm cơ bản
• Thực hiện thủ tục phân tích
Kỹ thuật phân tích ngang:
+ So sánh nguyên giá của các loại TSCĐ hiện có của đơn vị với các kỳ trước;
+ So sánh giá trị hao mòn lũy kế, giá trị còn lại của các TSCĐ với kì trước;
+ So sánh tổng chi phí khấu hao TSCĐ (hoặc từng loại TSCĐ), tổng chiphí
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
20
21
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
sửa chữa lớn của TSCĐ với các kỳ trước;
+ Lập bảng kê tăng, giảm từng loại TSCĐ với các kỳ trước;
Kĩ thuật phân tích dọc
+ So sánh tỉ lệ khấu hao bình quân, hệ số hao mòn bình quân của từng loại
TSCĐ của kỳ này với các kỳ trước;
+ So sánh tỷ suất giữa tổng chi phí sửa chữa lớn TSCĐ với tổng nguyên giá
TSCĐ, giữa Tổng nguyên giá TSCĐ với Giá trị tổng sản lượng với các kỳ trước để
tìm kiếm các TSCĐ không sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc đã bị thanh lý,
nhượng bán nhưng chưa được ghi sổ;
+ So sánh tỷ lệ Tổng chi phí sửa chữa lớn với Tổng nguyên giá TSCĐ để tìm
kiếm các chi phí sản xuất kinh doanh bị vốn hoá hoặc các chi phí đầu tư xây dựng
cơ bản bị phản ánh sai lệch vào chi phí sản xuất kinh doanh.
• Kiểm tra chi tiết về số dư tài khoản TSCĐ

- Với số dư đầu kỳ: Việc xem xét số dư đầu kỳ của TSCĐ được tiến hành tùy
thuộc vào doanh nghiệp được tiến hành kiểm toán lần đầu hay lần thứ hai trở đi.
+ Nếu việc kiểm toán năm trước được thực hiện bởi chính công ty kiểm
toán đang thực hiện kiểm toán BCTC năm nay và số dư đầu kỳ đã được xác định
là đúng thì KTV không cần thiết phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung.
Nếu việc kiểm toán năm trước được thực hiện bởi công ty kiểm toán khác KTV
phải xem xét báo cáo kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán năm trước đặc
biệt là vấn đề liên quan đến TSCĐ. Nếu có thể tin cậy được KTV cũng có thể chấp
nhận kết quả kiểm toán năm trước mà không cần thực hiện các thủ tục kiểm
toán bổ sung. Trong các trường hợp này KTV chỉ cần kiểm tra đảm bảo số dư
cuối năm tài chính trước được kết chuyển chính xác và được phân loại một cách
phù hợp.
+ Nếu BCTC chưa được kiểm toán năm trước hoặc việc kiểm toán năm trước
được thực hiện bởi công ty kiểm toán khác mà KTV không tin tưởng vào kết quả
kiểm toán hoặc báo cáo kiểm toán không chấp nhận toàn phần đối với số dư TSCĐ
thì KTV phải xem xét đến các nguyên nhân không chấp nhận toàn phần của KTV
năm trước. Trong các trường hợp này KTV phải áp dụng thủ tục kiểm toán bổ sung:
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
21
22
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Kiểm tra các chứng từ chứng minh cho số dư đầu năm, chọn mẫu các TSCĐ để kiểm
tra sự tồn tại thực tế của các tài sản, xem xét kết quả kiểm kê TSCĐ của doanh
nghiệp, kiểm tra tình trạng thế chấp TSCĐ (đặc biệt là thế chấp bằng giấy tờ sở hữu
TSCĐ).
- Với số dư cuối kỳ : Được xác nhận trên cơ sở kết quả kiểm toán số dư đầu
kỳ và nghiệp vụ tăng giảm TSCĐ trong kỳ. KTV cũng cần căn cứ vào kết quả kiểm
kê cuối kỳ để chứng minh sự hiện hữu của chúng.
• Kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ
Việc kiểm tra chi tiết nghiệp vụ tăng giảm chính là việc kiểm tra số phát sinh

trong kỳ để từ đó kết hợp với kết quả kiểm tra số dư đầu kỳ đánh giá được tính
trung thực hợp lý, đúng đắn của số dư cuối kỳ.
Các thủ tục khảo sát nghiệp vụ tăng giảm TSCĐ được thực hiện theo từng mục
tiêu kiểm toán bao gồm :chi tiết bảng 1.4 (phụ lục số 6)
- Đảm bảo các nghiệp vụ tăng giảm TSCĐ được phê chuẩn đúng đắn;
- Đảm bảo các nghiệp vụ tăng giảm TSCĐ có căn cứ hợp lý;
- Đảm bảo sự đánh giá đúng đắn hợp lý các nghiệp vụ TSCĐ;
- Đảm bảo việc phân loại hạch toán đúng đắn các nghiệp vụ TSCĐ;
- Đảm bảo hạch toán đầy đủ đúng kỳ các nghiệp vụ TSCĐ;
- Đảm bảo cộng dồn đúng đắn các nghiệp vụ TSCĐ.
Việc kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ thường được kết hợp với
quá trình kiểm tra chi tiết số dư của các khoản TSCĐ. Quy mô các khảo sát nghiệp
vụ TSCĐ phụ thuộc vào tính trọng yếu, mức độ rủi ro kiểm soát của đơn vị mà
KTV đã đánh giá cũng như kinh nghiệm và kết quả kiểm toán các niên độ trước.
Khi kiểm toán chi tiết các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ KTV cũng cần lưu ý tới đặc
điểm của từng loại TSCĐ để có thể xác định được khả năng sai sót và thực hiện
các thủ tục kiểm tra một cách phù hợp.
• Kiểm toán chi phí khấu hao và giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ
• Kiểm toán chi phí khấu hao TSCĐ
Mục tiêu cơ bản của kiểm toán chi phí khấu hao TSCĐ là xem xét quá trình
tính toán đánh giá xác định và phân bổ mức khấu hao cho các đối tượng sử dụng
có hợp lý và đảm bảo tính nhất quán không. Mục tiêu này được cụ thể hóa như
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
22
23
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
sau:
- Phải đảm bảo chính sách khấu hao mà doanh nghiệp đang áp dụng là hợp lý và
nhất quán (nếu có sự thay đổi về chính sách khấu hao giữa các niên độ kế toán
thì phải được trình bày trên báo cáo tài chính theo yêu cầu của các chuẩn mực kế

toán). Chính sách khấu hao của doanh nghiệp bao gồm: phạm vi trích khấu hao
TSCĐ, phương pháp khấu hao TSCĐ, thời gian sử dụng ước tính và giá trị thanh
lý ước tính của TSCĐ, giá trị phải khấu của TSCĐ.
- Việc tính toán mức khấu hao TSCĐ được thực hiện chính xác.
- Việc phân bổ chi phí khấu hao cho các đối tượng được thực hiện một cách hợp
lý và nhất quán giữa các kỳ.
Để đạt được các mục tiêu kiểm toán trên, KTV có thể thực hiện các thủ tục kiểm
toán chủ yếu sau:
- Tiến hành phân tích sơ bộ chi phí khấu hao bao gồm :
+ So sánh tỷ lệ chi phí khấu hao bình quân kỳ này với các kỳ trước
+ So sánh tổng chi phí khấu hao kỳ này so với các kỳ trước
+ So sánh tỷ trọng chi phí khấu hao trong toàn bộ chi phí sản xuất hoặc trong giá
thành sản phẩm với các kỳ trước…
Khi so sánh nếu phát sinh các biến động bất thường, KTV cần phải tìm hiểu
nguyên nhân và giải thích được các biến động đó.
- Thu thập trao đổi để có hiểu biết về chính sách khấu hao mà doanh nghiệp áp
dụng. Tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá tính phù hợp nếu chính sách khấu hao
của doanh nghiệp có sự thay đổi so với kỳ trước. Việc xem xét và đánh giá chính
sách khấu hao của doanh nghiệp phải đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ các quy
định của công ty và chế độ kế toán; tuân thủ các quy định của pháp luật có liên
quan và phù hợp với tình hình sử dụng, hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong trường hợp cần thiết KTV có thể trao đổi trực tiếp với nhà
quản lí về tính phù hợp của các chính sách này.
- Kiểm tra việc tính khấu hao của doanh nghiệp:
+ KTV kiểm tra lại căn cứ tính khấu hao;
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
23
24
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
+ Chọn mẫu một số TSCĐ tiến hành tính toán lại mức khấu hao;

+ So sánh số liệu trên bảng tính khấu hao, Bảng đăng ký khấu hao TSCĐ,
Sổ chi tiết hao mòn TSCĐ, Sổ chi tiết chi phí, Sổ cái tài khoản hao mòn TSCĐ…
+ Kiểm tra trường hợp đã khấu hao hết mà doanh nghiệp vẫn đang sử
dụng;
+ Kiểm tra việc trích hoặc thôi trích khấu hao với các TSCĐ tăng, giảm
trong kỳ, các khoản chi phí nâng cấp cải tạo được hạch toán tăng nguyên giá
TSCĐ trong kỳ, các phần tháo dỡ làm giảm nguyên giá TSCĐ trong kỳ;
+ Kiểm tra việc hạch toán chi phí khấu hao trên sổ và tài khoản có liên quan .
- Kiểm tra việc phân bổ khấu hao cho các đối tượng:
+ Xem xét chính sách phân bổ chi phí khấu hao cho các đối tượng, đánh giá
tính hợp lý của các chính sách này;
+ Kiểm tra lại độ tin cậy của các tiêu chuẩn phân bổ chi phí khấu hao;
+ Tính toán lại các khoản phân bổ;
+ Kiểm tra lại việc hạch toán chi phí khấu hao phân bổ cho các đối tượng
trên các Sổ chi tiết chi phí và Sổ chi tiết tính giá thành có liên quan.
• Kiểm toán giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ
-Kiểm tra việc hạch toán chi phí khấu hao trong kỳ làm tăng giá trị hao mòn
của TSCĐ (Việc kiểm tra tiến hành cho toàn bộ cũng như từng loại TSCĐ);
-Kiểm tra việc ghi giảm giá trị hao mòn TSCĐ với các nghiệp vụ giảm TSCĐ
trong kỳ;
- Tính toán lại giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ;
- So sánh số liệu trên các sổ kế toán chi tiết và Sổ cái các tài khoản hao
mòn TSCĐ…
• Kiểm toán các khoản chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu của TSCĐ

Các khoản chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ bao gồm: các khoản chi
phí sửa chữa, nâng cấp, cải tạo…đối với TSCĐ. Mục tiêu kiểm toán quan trọng
nhất đối với khoản chi phí này là đảm bảo các khoản chi phí phát sinh thực tế,
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
24

25
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp; các khoản chi phí này phải được
hạch toán đầy đủ và đúng các trình tự phương pháp kế toán theo quy định của
các Chuẩn mực, chế độ kế toán liên quan. Các thủ tục mà KTV thường áp dụng là:
- Lập các bảng kê chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu liên quan đến TSCĐ
phát sinh trong kỳ;
- So sánh các khoản chi phí phát sinh với các kỳ trước để đánh giá biến động của
các khoản phí tổn phát sinh.
- Đánh giá sự hợp lý của các khoản phí tổn phát sinh trong kỳ với tình hình thực
tế của doanh nghiệp;
- Kiểm tra sự phát sinh thực tế của các khoản chi phí để loại bỏ khả năng hạch
toán khốngcác khoản chi phí sửa chữa nhằm hợp lý hóa các khoản chi phí khác.
Trong trường hợp các khoản phí tổn này phát sinh lớn và doanh nghiệp đã có kế
hoạch trước cần:
+ So sánh các phí tổn thực tế phát sinh với các kế hoạch và dự toán chi phí đã
được lập để xem xét sự biến động và các chênh lệch chi phí thực tế với dự toán và
tìm hiểu nguyên nhân của các chênh lệch này.
+ Nếu doanh nghiệp có trích trước chi phí cần kiểm tra cơ sở pháp lí của việc
trích trước; quá trình trích trước và hạch toán chi phí trích trước vào chi phí các
kỳ kinh doanh trước; việc xử lý chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí trích
trước.
+ Kiểm tra các tài liệu liên quan và quyết toán các khoản chi phí liên quan.
1.2.3.3 Tổng hợp kết quả kiểm toán khoản mục Tài sản cố định
Sau khi đã thực hiện các khảo sát kiểm soát và khảo sát liên quan đến số liệu
kế toán thuộc khoản mục TSCĐ, KTV phải tổng hợp kết quả kiểm toán. Công việc
này dựa trên kết quả các khảo sát đã thực hiện với những bằng chứng đã thu thập
được. Tổng hợp kết quả kiểm toán khoản mục TSCĐ thường được thể hiện dưới
hình thức một “bảng tổng hợp kết quả kiểm toán” hay “biên bản kiểm toán”.
Các nội dung chủ yếu được thể hiện trong tổng hợp kết quả kiểm toán

thường gồm :
SV: Hoàng Kiều Anh Lớp: CQ47/22.02
25

×