Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Tài Chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền
kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền
kinh tế hàng hoá, tiền tệ.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng
cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Quá trình hoạt động kinh doanh
từ góc độ tài chính cũng chính là quá trình phân phối để tạo lập, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của
hoạt động kinh doanh. Trong quá trình đó luôn diễn ra sự vận động và chuyển
hoá liên tục của các nguồn tài chính (các quỹ tiền tệ), tạo ra các luồng chuyển
dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vào hay đi ra khỏi chu
kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các
quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của
doanh nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau:
− Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước, được thể hiện qua
việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động (đối với các doanh
nghiệp có một chủ sở hữu là Nhà nước) và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa
vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế và lệ phí v v vào ngân sách nhà
nước.
− Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội
khác như quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay hoặc cho vay vốn, đầu tư
vốn, mua hay bán tài sản, vật tư, hàng hoá và các dịch vụ khác.
− Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh
nghiệp được thể hiện qua việc doanh nghiệp trả tiền công, thực hiện thưởng
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
1
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp v v
− Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh
nghiệp thông qua việc đầu tư, góp vốn liên doanh hay rút vốn của chủ sở hữu
đối với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp.
− Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đây là mối quan hệ thanh
toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong
việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
Như vậy xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong
quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của
doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế
dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ
của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt
tới mục tiêu của doanh nghiệp đề ra. Các hoạt động gắn liền với tạo lập, phân
phối, sử dụng và vận động chuyển hoá của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài
chính của doanh nghiệp.
1.1.2. Nội dung của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ yếu sau:
− Lựa chọn quyết định đầu tư
− Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu
cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
− Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
− Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập các sử dụng các quỹ của doanh
nghiệp
− Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
2
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
− Thực hiện kế hoạch hoá tài chính
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của
doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục:
Như đã nói ở trên, vốn là tiền đề cho hoạt động của doanh nghiệp. Trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn
ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như
hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt
động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được. Do vậy,
việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình
thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài
chính doanh nghiệp.
Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Việc đánh giá, lựa chọn đầu tư đứng trên góc độ tài chính có ảnh
hưởng lớn tới việc đưa ra quyết định đầu tư đứng đắn.
Việc huy động vốn kịp thời giúp doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh
doanh.
Việc lựa chọn phương thức huy động vốn thích hợp giúp giảm chi phí
và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Việc sử dụng đoàn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính giúp doanh
nghiệp nâng cao đáng kể tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Huy động vốn tối đa vào hoạt động kinh doanh giúp cho doanh nghiệp
tránh được tình trạng ứ đọng vốn.
Tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích để kiểm soát hình kinh doanh
của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động,
chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng
ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổng
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
3
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
quân các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện những mặt chưa
tốt, có biện pháp quản lý thích hợp. Có thể nói, hoạt động tài chính của doanh
nghiệp ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động khác của doanh nghiệp.
1.2. Sự cần thiết phải phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tập hợp các khái niệm, phương
pháp và công cụ cho phép thu nhập và xử lý các thông tin kế toán, các thông
tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực
của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài
chính, quyết định quản lý phù hợp.
1.2 Sự cần thiết phải phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế phát triển như hiện nay, ngày càng có nhiều mối
quan hệ kinh tế phát sinh và do đó ngày càng có nhiều đối tượng muốn sử
dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp. Những người sử dụng thông tin tài
chính của doanh nghiệp là các nhà quản trị, các cổ đông hiện tài hoặc người
đang muốn trở thành cổ đông của doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính,
những người tham gia vào các hoạt động của doanh nghiệp, nhà đầu tư,
những người cho doanh nghiệp vay tiền, Nhà nước, cơ quan thuế và các đối
tượng khác. Họ đều muốn biết rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp để có
thể ra các quyết định đúng như quyết định quản lý, quyết định đầu tư, quyết
định cho vay Và như vậy, không còn cách nào khác, họ phải tiến hành phân
tích tài chính doanh nghiệp hoặc sử dụng các thông tin từ các nhà phân tích
tài chính. Tuy nhiên, những người sử dụng thông tin này theo đuổi các mục
tiêu khác nhau nên việc phân tích tài chính cũng được tiến hành theo nhiều
cách khác nhau. Điều đó vừa tạo ra lợi ích, vừa tạo ra sự phức tạp của việc
phân tích tài chính.
Phân tích tài chính đối với các nhà quản trị
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
4
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được coi là
phân tích tài chính nội bộ. Khác với phân tích tài chính bên ngoài do các nhà
phân tích tài chính doanh nghiệp tiến hành, các nhà phân tích tài chính trong
doanh nghiệp có nhiều lợi thế để phân tích tài chính tốt nhất do có thông tin
đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp. Đây là hoạt động cần thiết đối với các nhà
quản trị. Để tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh
doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp phải thông qua phân tích tài
chính. Phân tích tài chính giúp định hướng các quyết định của Ban giám đốc,
giám đốc tài chính : quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, phân chia lợi tức cổ
phần là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, dự trù ngân sách,
tiền mặt Phân tích tài chính còn là công cụ kiểm soát các hoạt động quản lý
Phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư
Các cổ đông của doanh nghiệp luôn quan tâm đến giá trị doanh nghiệp
vì họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro. Thu nhập của
cổ đông là tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai
yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp, vì vậy
các nhà đầu tư thường dựa vào phân tích tài chính để đánh giá khả năng sinh
lời của doanh nghiệp.
Những nhà đầu tư muốn đầu tư vào doanh nghiệp như mua cổ phiếu,
trái phiếu, góp vốn liên doanh, hợp tác làm ăn muốn nắm được tình hình sản
xuất kinh doanh nói chung và tình hình tài chính nói riêng phải tiến hành phân
tích tài chính. Từ đó họ mới đưa ra quyết định có bỏ vốn vào hay không
Phân tích tài chính đối với người cho vay
Các ngân hàng trước khi quyết định cho vay bao giờ cũng đánh giá khả
năng trả nợ của doanh nghiệp thông qua việc phân tích tài chính, tìm hiểu khả
năng tài chính của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khác cho vay, ứng
trước,bán chịu cho doanh nghiệp cũng luôn quan tâm đến khả năng thu hồi
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
5
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
vốn, vì vậy họ cũng sử dụng các thông tin từ việc phân tích tài chính. Phân
tích tài chính đối với các khoản nợ dài hạn khác với các khoản nợ ngắn hạn.
Với những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả
năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, tức là khả năng ứng phó nhanh của
doanh nghiệp đối với các khoản nợ đến hạn. Với những khoản nợ dài hạn
người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh
nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi suất tỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản vay,
nhưng dù cho đó là vay dài hạn hay vay ngắn hạn thì người cho vay đều quan
tâm đến cơ cấu nguồn vốn biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi
vay.
Từ những vấn đề đã nêu ở trên cho thấy: phân tích tài chính doanh
nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá
các mặt mạnh yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và
chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù
hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.3. Cơ sở, nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Cơ sở của phân tích tài chính doanh nghiệp
Cơ sở của phân tích tài chính là các thông tin bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp. Sự phát triển của một doanh nghiệp dựa vào nhiều yếu tố, có cả
các yếu tố bên ngoài như: sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ
thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế v v , có cả các yếu tố bên trong
như: cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, tính chất của sản phẩm, quy trình công
nghệ, khả năng tài trợ cho tăng trưởng, năng suất lao động v v Chính vì
vậy, phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các báo
cáo tài chính, mà phải mở rộng sang các lĩnh vực: thông tin chung về kinh tế,
thuế, tiền tệ, các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp và các
thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
6
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
− Các thông tin chung
Đó là những thông tin liên quan đến cơ hội kinh doanh, nghĩa là tình
hình chung về kinh tế tại một thời điểm cho trước. Sự suy thoái hay tăng
trưởng có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh. Khi cơ hội thuận lợi,
các hoạt động của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận của doanh nghiệp
cũng như giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đối với công ty cổ phần
cũng biến động cùng chiều với các hoạt động. Khi phân tích tài chính doanh
nghiệp, phải nhận thấy cơ hội mang tính chu kỳ, qua thời kỳ tăng trưởng thì
sẽ đến giai đoạn suy thoái và ngược lại.
− Các thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành là việc đặt sự phát triển của
doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh
doanh. Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan đến:
+ Tính chất của các sản phẩm
+ Quy trình kỹ thuật áp dụng
+ Cơ cấu sản xuất
+ Nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Chẳng hạn khi tiến hành phân tích một công ty sản xuất giầy dép, cần
phải biết bối cảnh thị trường da giầy quốc tế, các đặc điểm của ngành da giầy,
thuế đối với mặt hàng này,
− Các thông tin liên quan đến doanh nghiệp
Các nguồn thông tin liên quan đến doanh nghiệp rất đa dạng. Một số
thông tin là bắt buộc và công khai, một số khác chỉ trong nội bộ doanh nghiệp
biết, nhiều thông tin được các tổ chức tài chính hoặc các tờ báo kinh tế tài
chính công bố. Các thông tin bắt buộc là các báo cáo tài chính mà doanh
nghiệp phải công khai như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra còn
nhiều thông tin kế toán và tài chính bổ sung khác, đặc biệt là các thông tin của
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
7
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
kế toán quản trị, những thông tin này chỉ các nhà quản lý doanh nghiệp mới
biết. Nếu một doanh nghiệp được niêm yết trên Thị trường chứng khoán thì
còn có nhiều thông tin khác phải công khai với các cổ đông như những bản kế
hoạch sản xuất kinh doanh định kỳ, những định hướng chủ yếu của công ty,
các báo cáo của Hội đồng quản trị và các thông tin khác.
Như vậy, có rất nhiều nguồn thông tin khác nhau có thể giúp cho việc
phân tích tài chính, người sử dụng thông tin phải biết lựa chọn những thông
tin trung thực và thích hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình.
1.3.2. Nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.2.1. Đánh giá khái quát tình hình tái chính doanh nghiệp thông qua
các báo cáo tài chính (B01, B02)
a. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua
bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định ( cuối ngày, cuối quý, cuối năm). Do đó, các số liệu phản
ánh trên Bảng cân đối kế toán được sử dụng làm tài liệu chủ yếu khi phân tích
tổng tài sản, nguồn vốn và kết cấu tài sản, nguồn vốn.
Bảng cân đối kế toán có kết cấu theo dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán, với các chỉ tiêu được phân loại theo trình tự phù hợp với yêu
cầu quản lý. Kết cấu của Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần chính: phần tài sản
và phần nguồn vốn
Qua bảng cân đối kế toán, có thể đánh giá được một số nội dung chủ
yếu như:
− Hướng đầu tư vốn của doanh nghiệp đã hợp lý hay chưa thông qua việc
phân tích kết cấu của tài sản cố định và tài sản cố định trong mối liên hệ với
mục đích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
8
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
− Kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là từ vốn vay hay vốn chủ
sở hữu, rồi từ đó rút ra kết luận về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
b. Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, bao
gồm các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
và các hoạt động kc, và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi
nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn. Đây là một báo cáo tài chính được các nhà
lập kế hoạch rất quan tâm vì nó cung cấp các số liệu về hoạt động kinhd oanh
mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ. Nó còn được coi như một bản hướng
dẫn để dự báo xem doanh nghiệp sẽ hoạt động ra sao trong tương lai.
1.3.2.2. Đánh giá tình hình tạo lập và sử dụng vốn
a. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những
cơ sở và công cụ để các nhà quản trị thực hiện các hoạch định tài chính cho
kỳ tới bởi mục đích chính của nó là trả lời câu hỏi: vốn được hình thành từ
đâu và sử dụng vào việc gì? Thông tin mà bàng kê diễn biến nguồn vốn và sử
dụng vốn cho biết doanh nghiệp đang tiến triên hay gặp khó khăn. Để lập
được bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn phải dựa tổng hợp từ
những thay đổi của các khoản mục trên bảng cân đối kế toán giữa thời điểm
đầu kỳ và cuối kỳ. Mỗi một sự thay đổi của từng khoản mục trong BCĐKT
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
9
Sơ đồ 1.1. Tính toán diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Bảng cân đối kế toán
Diễn biến nguồn vốn
- Tăng nguồn vốn
- Giảm tài sản
Sử dụng vốn
- Tăng tài sản
- Giảm nguồn vốn
Bảng cân đối kế toán
Nguồn vốn
Tài sản
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
đều được xếp vào một cột diễn biến nguồn vốn, hoặc sử dụng vốn theo logic
sau:
+ Sử dụng vốn tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn.
+ Diễn biến nguồn vốn tương ứng với tăng nguồn vốn hay giảm tài sản.
Nguyên tắc lập bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn thể hiện ở
sơ đồ sau:
b. Đánh giá tình hình huy động, tạo lập vốn
Nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh được
chia thành nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay.Nguồn vốn chủ sở hữu
bao gồm các bộ phận chủ yếu như vốn góp ban đầu, lợi nhuận giứ lại tái đầu
tư, tăng vốn do phát hành cổ phiếu mơi.Các nguồn vốn vay bao gồm các
nguôn vốn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu…
Để đánh giá chính xác và có những kết luận đúng đắn về tình hình huy
động và tạo lập vốn của doanh nghiệp chúng ta cần đi sâu phân tích cơ cấu và
sự biến động của nguồn vốn thông qua số liệu phần nguồn vốn trên bảng cân
đối kế toán, so sánh từng nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu năm cả về số tương
đối lẫn số tuyệt đối, tỷ trọng từng loại vốn trong tổng thể để xác định chênh
lệch cả về số tiền, tỷ lệ và tỷ trọng giữa số đầu năm và số cuối kỳ.Bên cạnh đó
để đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính và mức độ tự chủ trong kinh
doanh chúng ta cần xem xét đến chỉ tiêu hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu.
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 - Hệ số nợ
Hệ số nợ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hình
thành từ nợ vay bên ngoài, đồng thời xác định nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp
đối với chủ nợ và ngược lại hệ số vốn chủ sở hữu lại cho thấy trong 1 đồng
vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng được đảm bảo từ nguồn vốn chủ sở hữu.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
10
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Hệ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay trong
nguồn vốn kinh doanh, tức là sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức độ cao, nếu
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nó sẽ giúp cho tỷ suất sinh lời của vốn chủ
được khuếch đại tăng. Nhưng việc sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu nguồn
vốn cũng làm cho rủi ro tài chính của doanh nghiệp tăng cao, tính tự chủ về
vốn bị hạn chế. Tuy nhiên để có đánh giá chính xác nhất về mức độ hợp lý về
chính sách tạo lập vốn của doanh nghiệp cần xem xét đến các yếu tố khác như
đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, các giai đoạn phát triển
khác nhau của doanh nghiệp.
c. Đánh giá tình hình phân bổ sử dụng vốn
Để đánh giá tình hình phân bổ sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý
hay không chúng ta cần xem xét việc phân bổ vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ
phân bổ ở từng khâu, từng loại vốn là bao nhiêu và việc tăng giảm vốn ở từng
loại vốn đã hợp lý chưa. Các bước phân tích như sau:
- Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại
tài sản qua việc so sánh số đầu năm và số cuối kỳ cả về số tuyệt đối và số
tương đối:
Sự biến động của tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh
hưởng đến khả năng thanh toán của các khoản nợ đến hạn
Sự biến động của hàng tồn kho thể hiện đặc điểm sản xuất kinh doanh
của từng doanh nghiệp, sự kinh hoạt và hiệu quả trong việc quản lý sản xuất,
chính sách bán hàng, tiêu thụ sản phẩm.
Sự biến động của các khoản phải thu đánh giá được chính sách tín dụng
của doanh nghiệp đối với khách hàng, điều này có ảnh hưởng lớn tới việc
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Sự biến động của tài sản cố định thể hiện quy mô đầu tư dài hạn cũng
như sự thay đổi trong năng lực sản xuất kinh doanh hiện tại và tương lai.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
11
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
- Thứ 2: Xem xét cơ cấu tài sản của doanh nghiệp thông qua tỷ trọng
của từng loại tài sản và so sánh tỷ trọng của từng loại tài sản giữa đầu năm với
cuối kỳ để đánh giá sự biến động của cơ cấu tài sản đã hợp lý hay chưa từ đó
đưa ra những kết luận và giải pháp trong tương lai. Các chỉ tiêu cần phân tích:
Tổng TSNH
Tỷ suất đầu tư vào TSNH =
Tổng tài sản
Tổng TSDH
Tỷ suất đầu tư vào TSDH =
Tổng tài sản
d. Đánh giá tình hình thanh toán và khả năng thanh toán
Việc đanh giá tình hình thanh toán và khả năng thanh toán là một nội
dung quan trọng khi đánh giá tình hình tạo lập và sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Thông qua nội dung này chúng ta có thể phần nào đánh giá được hiệu
quả trong chính sách phân bổ vốn của doanh nghiệp và ngược lại chính sách
phân bổ vốn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán như thế nào, thể hiện sự lành
mạnh về mặt tài chính của doanh nghiệp.
- Về tình hình thanh toán : Đánh giá tình hình thanh toán là đánh giá sự
biến động của các khoản phải thu và các khoản phải trả từ đó đánh giá được
tính hợp lý trong việc áp dụng các chính sách tín dụng thương mại đối với bạn
hàng và việc chấp hành kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp, chúng ta xem
xét tình hình thanh toán của doanh nghiệp thông qua 2 chỉ tiêu sau:
Tổng nợ phải thu
Tỉ lệ giữa khoản phải thu và VLĐ =
Tổng vốn lưu động
Các khoản phải thu thể hiện vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp, do
vậy chỉ tiêu này phản ánh quy mô vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp, thông
thường nếu chỉ tiêu này càng lớn thì doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
12
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
nhiều, đó là dấu hiệu không tốt, nhưng để đánh giá được tính hợp lý cảu nó
cần xem xét đến yếu tố đặc điểm sản xuất kinh doanh, chính sách tiêu thụ,
chính sách thu hồi nợ hay đặc thù của từng gia đoạn phát triển của doanh
nghiệp.
Tổng nợ phải trả
Tỉ lệ giữa khoản phải trả và VLĐ =
Tổng vốn lưu động
Các khoản phải trả phản ánh các khoản công nợ của doanh nghiệp, nếu
hệ số này càng cao thể hiện tính độc lập tự chủ về mặt tài chính của doanh
nghiệp giảm nhưng điều đó không thể đánh giá là tốt hay không mà nó còn
phụ thuộc vào chính sách tài chính của từng doanh nghiệp.
- Về khả năng thanh toán : Được thể hiện qua nhóm một số chỉ tiêu
+ Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng thanh toán nợ ngắn
hạn :
Tổng tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
Thông thường khi hệ số này thấp thể hiện khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp là yếu, hay doanh nghiệp đang gặp phải khó khăn về mặt tài
chính, rủi ro tài chính là cao. Ngược lại, nếu hệ số này cao chứng tỏ doanh
nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tính
hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề nào
mà tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và
ngược lại. Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì được coi an toàn, ngược lại thì doanh
nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
13
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Đây là hệ số phản ánh tốt nhất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nó cho ta biết doanh nghiệp có thể thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn
ngay khi các chủ nợ yêu cầu không ? Hệ số này được xác định như sau:
TSNH - HTK
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Đây là một tiêu chuẩn khắt khe hơn đối với khả năng thanh toán các
khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp.
Tiền và CKTĐT
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp
và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải của các chủ nợ. Nó cho ta
biết số vốn vay đã được sử dụng như thế nào, đem lại một khoản lợi nhuận
bao nhiêu và có đủ để bù đắp lãi vay phải trả hay không.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định mà doanh nghiệp có nghĩa
vụ phải trả đúng hạn cho chủ nợ. Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau
khi đã trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này
được các nhà cho vay quan tâm như chỉ tiêu về khả năng thanh toán vì nó
phản ánh khả năng trả lãi vay bằng kết quả hoạt động kinh doanh.
e. Đánh giá mức độ đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính trong chính
sách tài trợ của doanh nghiệp
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
14
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Ngoài những nội dung cơ bản trên, khi đánh giá việc tạo lập và sử dụng
vốn của doanh nghiệp cần xem xét đến sự cân đối giữa nguồn vốn và tài sản.
Bảng cân đối kế toán chỉ cho ta thấy sự cân đối giữa giá trị hình thành tài sản
và nguồn hình thành tài sản, do đó để xem xét đến sự cân đối trong thời gian
vận động của tài sản ( nghĩa là một tài sản được tài trợ trong 1 thời gian
không thấp hơn thời gian chuyển hóa tài sản ấy ) chúng ta cần tìm hiểu việc
thực hiên nguyên tắc cân bằng tài chính trong doanh nghiệp.
Nội dung phân tích là so sánh giữa tài sản dài hạn (TSCĐ và ĐTDH) và
nguồn vốn dài hạn trong doanh nghiệp. Trong đó, nguồn vốn dài hạn được
xác định bởi công thức:
Nguồn vốn dài
hạn
=
Vốn chủ sở
hữu
+ Nợ dài hạn
các trường hợp có thể xảy ra là:
- Nguồn vốn dài hạn < Tài sản dài hạn: Trong trường hợp này doanh
nghiệp đã dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn,
điều này làm cho tình hình tài chính của công ty có thể gặp rủi ro song nó
đem lại chi phí sử dụng vốn thấp.
- Nguồn vốn dài hạn > Tài sản dài hạn: trường hợp này nguồn vốn dài
hạn của doanh nghiệp đủ tài trợ cho tài sản dài hạn và doanh nghiệp đã dùng
một phần nguồn vốn dài để tài trợ cho tài sản ngắn, theo đó tình hình tài chính
của doanh nghiệp được đảm bảo an toàn, nhưng chi phí sử dụng vốn cao làm
giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.3.2.3. Đánh giá hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp là chỉ tiêu có tác dụng đo
lường năng lực quản lý và sử dụng vốn hiện có của doanh nghiệp, từ đó tìm ra
những thành công trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh cũng như các
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
15
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa năng lực sản xuất kinh doanh và
hiệu suất sử dụng vốn.
Việc phân tích nhóm chỉ tiêu về hiệu suất hoạt động giúp nhà phân tích
thấy được trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào để đạt được kết quả cao nhất
với chi phí thấp nhất. Để có cái nhìn tổng quát về hiệu suất sử dụng vốn
chúng ta cần đánh giá hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn cũng như từng loại vốn
cụ thể.
+ Hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn: Được thể hiện qua vòng quay toàn bộ
vốn( hay tài sản ). Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng toàn bộ
số vốn hiện có của doanh nghiệp và được xác định như sau:
Doanh thu thuần trong kỳ
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tổng vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của đặc điểm ngành nghề kinh doanh,
chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp, do
vậy khi phân tích cần dựa vào những đặc trưng này để đánh giá khả năng sử
dụng tài sản, khả phát huy triệt để năng lực sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác :
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
vốn dài hạn khác
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn cố định bình quân
Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp trong kỳ, nó cho biết mỗi đồng vốn cố định bình quân tham gia
vào sản xuất kinh doanh có thể mang lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nói
chung, hệ số này càng cao càng thể hiện được hiệu suất trong sử dụng vốn cố
định, tuy nhiên DTT và vốn cố định bình quân đều là những chỉ tiêu tổng quát
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
16
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
do vậy khi đánh giá cần kết hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp để có
những kết luận hợp lý.
+ Hiệu suất sử dụng vốn lưu động: được thể hiện thông qua 2 chỉ tiêu
sau :
- Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn lưu động bình quân
Vòng quay VLĐ thể hiện trong kỳ VLĐ quay được bao nhiêu vòng hay
nói cách khác cứ một đồng VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng vốn lưu
động cao vì hàng hóa tiêu thụ nhanh, vật tư tồn kho thấp,… làm tiết kiệm chi
phí, tăng doanh thu, lợi nhuận. Ngược lại, nếu hệ số này thấp chứng tỏ tiêu
thụ hàng hóa chậm, vật tư tồn kho nhiều, hoặc tiền mặt tồn quỹ, số lượng
khoản phải thu nhiều…
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Kỳ luân chuyển vốn lưu động =
360
Vòng quay vốn lưu động
Kỳ luân chuyển VLĐ thể hiện số ngày 1 vòng quay vốn lưu động, đây
là chỉ tiêu ngược của vòng quay VLĐ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn thấp và ngược lại.
+ Tình hình luân chuyển hàng tồn kho
- Số vòng quay HTK:
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
17
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Số vòng quay
HTK
=
Giá vốn hàng bán
Số HTK bình quân trong kỳ
Thông thường, số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp
trong ngành chỉ ra rằng : Việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp là
tốt, doanh nghiệp chỉ có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm được
lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Nếu hệ số này thấp thì chỉ có thể doanh
nghiệp dữ trữ quá mức, dẫn đến tình trạng bị ứ đọng hoặc việc tiêu thụ sản
phẩm chưa tốt. Từ đó có thể làm cho dòng tiền vào của doanh nghiệp giảm đi
và đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về mặt tài chính trong tương lai.
- Số ngày 1 vòng quay HTK:
Số ngày 1 vòng quay
HTK
=
360
Số vòng quay HTK
+ Tình hình luân chuyển các khoản nợ phải thu:
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay =
DTT( DTBH & CCDV)
Số dư bình quân các khoản phải thu
- Kỳ thu tiền trung bình:
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh độ
dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp bắt đầu kể từ lúc xuất hàng
cho đến khi thu được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp
chủ yếu phụ thuộc vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của
doanh nghiệp. Do vậy, khi xem xét kỳ thu tiền trung bình cần xem xét trong
mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
18
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Kỳ thu tiền trung bình = 360
DTBH bình quân 1 ngày trong kỳ
Kỳ thu tiền trung bình quá cao so với các doanh nghiệp trong ngành
chứng tỏ doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng nợ khó đòi,tuy nhiên ,
chỉ tiêu này cao hay thấp cũng còn phụ thuộc vào mục tiêu, chính sách của
doanh nghiệp.
1.3.2.4. Đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời luôn được các nhà quản trị tài chính
quan tâm. Nó là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và là luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định
tài chính trong tương lai. Hệ số sinh lời bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu:
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng:
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu
thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện khi thực hiện 1 đồng doanh thu
trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên doanh thu( Hệ số lãi ròng )
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
+ Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay
tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản ( ROA
E
).
Tỷ suất sinh lời kinh tế của
tài sản ( ROA
E
)
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
19
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của
vốn kinh doanh, đồng thời nó cho biết một đồng giá trị tài sản mà doanh
nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước
lãi vay và thuế.
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh
lời ròng của tài sản (ROA):
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên VKD ( ROA )
=
Lợi nhuận sau thuế
VKD hay tài sản bình quân trong kỳ
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): đo lường mức lợi
nhuận thu được trên 1 đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ:
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu (ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
+ Mối quan hệ giữa các hệ số tài chính ( phương pháp phân tích
DUPONT )
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là kết quả tổng hợp
của nhiều biện pháp và quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp. Để thấy
được mối quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
20
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp, gười ta xây dựng hệ thống chỉ tiêu
để phân tích sự tác động đó.
Những mối quan hệ được xem xét là:
- Mối quan hệ trong tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
kinh doanh với hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên VKD
=
Hệ số lãi ròng
x Vòng quay toàn bộ vốn
- Các mối quan hệ tương tác với tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Tổng số vốn kinh
doanh
Vốn chủ sở hữu
Tổng số vốn kinh
doanh
Vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x 1
Vốn chủ sở hữu
Tổng số vốn kinh
doanh
1 – Hệ số nợ
Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu
(ROE)
=
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên vốn kinh
doanh
x
Mức độ sử dụng
đòn bẩy tài chính
- Từ hai mối quan hệ trên có thể xác định tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu bằng công thức sau:
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
21
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
ROE =
Hệ số lãi
ròng
x
Vòng quay
toàn bộ vốn
x
Mức độ sử dụng
đòn bẩy tài chính
Từ công thức trên cho ta thấy các yếu tố tác động đến tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu là hệ số lãi ròng, vòng quay toàn bộ vốn và mức độ sử dụng
đòn bẩy tài chính. Qua đó, giúp cho các nhà quản lý xác định và tìm biện
pháp nhằm khai thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp.
1.3.3. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm một hệ thống
các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận và nghiên cứu các sự kiện, hiện
tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, các luồng
dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết
nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Sau đây là một số
phương pháp thường hay được sử dụng:
a. Phương pháp so sánh.
Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý những vấn đề sau:
Về điều kiện so sánh:
- Phải tồn tài ít nhất hai đại lượng (hai chi tiêu)
- Các đại lượng hoặc các chỉ tiêu phải đảm bảo tính chất có thể so
sánh được.
Xác định gốc để so sánh:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì
gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở một thời
điểm trước, một ký trước hoặc hàng loạt kỳ trước.
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc
so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
22
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
- Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định
là giá trị trung bình của ngành hoặc chỉ tiêu phân tích của đối thủ
cạnh trạnh.
b.Phương pháp hệ số
Hệ số tài chính được tính bằng cách đem so trực tiếp (chia) một chỉ tiêu
này cho một chỉ tiêu khác để thấy được mức độ ảnh hưởng và vai trò của các
yếu tố, chỉ tiêu này đối với yếu tố, chỉ tiêu khác.
c. Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính
( phương pháp phân tích DUPONT)
Để thấy được sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng
vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp, người ta
đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó qua mối quan hệ
tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh với hiệu suất sử
dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận, và các mối quan hệ tương tác với tỷ
suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Đây chính là phương pháp phân tích dupont.
1.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
1.4.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng và trình độ tổ chức, quản
lý kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa lợi
nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp.
Về mặt lượng, hiệu quả kinh doanh thể hiện ở mối tương quan giữa thu
và chi the hướng tăng thu, giảm chi. Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả
kinh tế là vấn đề sống còn đối với mọi doanh nghiệp, là mục tiêu của các
chiến lược kinh doanh ngắn hay dài hạn.
Xét trên phạm vi rộng hơn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của cả nền kinh tế, ảnh hưởng
tới cả những lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
23
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
rất cần thiết và là mục đích của mỗi doanh nghiệp, cá nhân, đặc biệt là trong
bối cảnh sự cạnh tranh của nền kinh tế đang ngày càng khốc liệt, các nguồn
lực đang đứng trước sự khan hiếm.
1.4.2. Một số giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
- Xác định quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động, sử dụng vốn hợp lý,
tiết kiệm, hiệu quả.
- Nâng cao chất lượng quản lý khoản phải thu và khoản phải trả.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vốn cố định.
- Tích cực thực hiện công tác tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu và lợi
nhuận cho công ty.
- Hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN GIẦY THỤY KHUÊ
2.1. Một số nét chủ yếu về công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy
Thụy Khuê
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Sv: Nguyễn Hữu Hùng Lớp: CQ45/11.03
24