Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
THÁI KIÊN TRUNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH NỮ TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHUYÊN THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
THÁI KIÊN TRUNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH NỮ TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHUYÊN THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHÙNG THỊ HẰNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2014
Tác giả
Thái Kiên Trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm và lòng chân thành của mình Em xin bày tỏ lòng biết ơn
các thầy cô Trường Đại Sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô giáo đã trực tiếp
giảng dạy chúng em trong cả khoá học. Các thầy cô đã dành nhiều công sức giảng
dạy, tận tình giúp đỡ Em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phùng Thị Hằng người đã
quan tâm và tận tình hướng dẫn Em trong suốt quá trình làm luận văn. Cô đã cho Em
thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như giúp Em rèn luyện kỹ
năng nghiên cứu khoa học. Một lần nữa, Em xin được trân trọng Cảm ơn Cô!
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Thái
Bình, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ giáo viên, phụ
huynh học sinh và học sinh Trường THPT Chuyên Thái Bình đã nhiệt tình cộng tác,
cung cấp số liệu, cho ý kiến.
Cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động
viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt
thời gian qua!
Mặc dù đã cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp
ý kiến chỉ đạo của quý các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người cùng
quan tâm tới những vấn đề được trình bày trong luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên 15/ 4 /2014
Tác giả luận văn
Thái Kiên Trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do nghiên cứu 1
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Phạm vi nghiên cứu 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Cấu trúc luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH NỮ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN 7
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước 9
1.2. Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1. Quản lý 12
1.2.2. 17
1.2.3. Đạo đức 17
1.2. 19
1.2 20
1.3. Một số vấn đề cơ bản về quản lý cho học sinh
nữ trường THPT Chuyên 20
1.3.1. Đặc điểm về cho học sinh nữ trường THPT Chuyên 20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
27
1.3.3. Nội dung của công tác quản lý hoạt động
nữ của Hiệu trưởng 29
sinh nữ trường THPT Chuyên 35
1.4.1. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh nữ trường THPT Chuyên 35
1.4.2. Vai trò của các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trong trường
THPT Chuyên 40
Kết luận chương 1 44
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỮ Ở TRƢỜNG THPT CHUYÊN THÁI BÌNH 45
Thành phố
Thái Bình và trường THPT Chuyên Thái Bình 45
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - Xã hội 45
46
50
51
51
2.2.2. Phương thức xử lí số liệu 51
2.3. K
51
51
Trường THPT Chuyên Thái Bình 57
giáo dục đạo đức
giáo dục đạo đức
Chuyên Thái Bình 62
2.4.1. Những thành tựu và hạn chế 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2.4.2.Những thuận lợi và khó khăn 64
69
71
Kết luận chƣơng 2 77
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH NỮ TRƢỜNG THPT CHUYÊN THÁI BÌNH 79
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho HS nữ 79
3.1.1. Nguyên tắc bảo đảm các chức năng quản lí 79
3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm các nguồn lực và cơ chế thực hiện 80
3.2. Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ ở
trường THPT Chuyên Thái Bình 81
3.2.1. Nâng cao nhận thức ch
giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường THPT
Chuyên Thái Bình 81
3.2.2. Thực hiệ ủ, phát huy t ủ
trách nhiệm của các tổ chức chính trị
ọc sinh nữ 84
3.2.3. Tăng cường trách nhiệm, năng lực của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớ
87
89
3.2.5. Nâng cao chất lượng các môn học có ưu thế trong hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh nữ 90
3.2.6. ữa nhà trườ ội trong
quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS nữ 93
giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường THPT Chuyên Thái Bình 96
3.3.1. Mục đích, qui mô, địa bàn và thành phần tham gia đánh giá 96
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3.3.2. Nội dung đánh giá 96
3.3.3. Phương pháp và kĩ thuật tiến hành 96
3.3.4. Kết quả đánh giá của chuyên gia 97
Kết luận chƣơng 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1. Kết luận 102
2. Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Cụm từ viết tắt
1.
BGH
Ban giám hiệu
2.
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
3.
CSVC
Cơ sơ vật chất
4.
ĐTN
Đoàn thanh niên
5.
GD
Giáo dục
6.
GDCD
Giáo dục công dân
7.
GV
Giáo viên
8.
GV
Giáo viên
9.
GVBM
Giáo viên bộ môn
10.
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
11.
HĐGDĐĐ
Hoạt động giáo dục đạo đức
12.
HĐND
Hội đồng nhân dân
13.
HS
Học sinh
14.
KHCN
Khoa học công nghệ
15.
LLGD
Lực lượng giáo dục
16.
QL
Quản lý
17.
QLGD
Quản lý giáo dục
18.
THCS
Trung học cơ sở
19.
THPT
Trung học phổ thông
20.
TNCS
Thanh niên cộng sản
21.
UBND
Uỷ ban nhân dân
22.
XH
Xã hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê xếp loại hạnh kiểm nữ Trường THPT Chuyên Thái Bình.
Trong 3 năm gần đây của HS 51
Bảng 2.2. Thống kê những biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh nữ và số học
sinh vi phạm trong năm học 2012 - 2013 52
53
56
Bảng 2.5. Kết quả xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
Trường THPT Chuyên Thái Bình 58
59
giáo dục đạo đức
60
động giáo dục đạo đức c áp dụng ở Trường
THPT Chuyên Thái Bình 61
71
97
Bảng 3.2. Tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
15
16
1.3: Mối quan hệ hữu cơ giữ ờng 40
Biểu đồ 2.1: Về xếp loại hạnh kiểm một số năm gần đây của HS nữ Trường
THPT Chuyên Thái Bình 52
Biểu đồ 3.1. So sánh Tính cấp thiết và Tính khả thi của các biện pháp 99
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
1.1. Về mặt lý luận
.
- Trong quá trình đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến
giáo dục và đào tạo. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Con người là
trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo
vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước
và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia
đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc
chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách
nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có
tinh thần quốc tế chân chính. Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng
với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và
đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo
nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc…”
- Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường GDĐĐ
cho HS, được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng:
-
.
- Đặc biệt là trong nghị quyết Trung ương XIII khóa XI, Luật giáo dục và các
văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: “ Mục tiêu của
giáo dục phổ thông là giúp cho HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã
hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân… (Điều 23-Luật giáo dục).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1.2.Về mặt thực tiễn
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đi vào chiều sâu và được triển khai trên quy
mô lớn, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ chế thị trường (CCTT), nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần đang phát huy tác dụng tích cực, tạo nên sự phát triển
năng động và thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta. Nhưng, kinh tế thị
trường (KTTT) cũng ngày càng bộc lộ những mặt trái, gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời
sống tinh thần, sự cảm thụ văn hóa - nghệ thuật cũng như trong tâm lý - đạo đức của
các tầng lớp dân cư trong xã hội, Nhữn
đến đại đa số thanh niên và HS như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão,
lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích.
Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm độc hại thông qua các phương tiện như phim
ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về lối sống, tình
bạn, tình yêu trong lứa tuổi học đường. Những ảnh hưởng tiêu cực đó tác động vào
mọi quan hệ xã hội, làm sai lệch các chuẩn mực giá trị, dẫn tới sự suy thoái về đạo
đức ở một số bộ phận HS.
Trong những năm gần đây dư luận xã hội rất bức xúc trước tình trạng HS vô lễ,
vi phạm kỷ luật, tình trạng bạo lực những hình ảnh phản cảm khi xem vidio quay
cảnh những nữ sinh của Thủ Đô, Hải phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, giật tóc, xé
quần áo, đánh bạn ngay trong lớp học và trên đường phố một cách ngang nhiên, hay
như tình trạng nhiều nữ sinh THCS, THPT đã mang thai, thậm chí sinh con ngay
trong lớp học (Nam Đàn- Nghệ An), bảo mẫu 19 tuổi hành hạ đến chết cháu bé 18
tháng tuổi (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương) thiếu nữ 19 tuổi ở Quảng Nam
truy sát đến cùng một nam thanh niên chỉ vì nghi người này lấy trộm điện thoại của
em gái và còn rất nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, vi phạm giao thông khác, ngày
càng gia tăng. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là do
công tác quản lý GDĐĐHS nói chung, GDĐĐHS nữ nói riêng, còn non kém, bất cập.
Một thực tế hiện nay trong việc giáo dục và đánh giá chất lượng ĐĐHS
thường mang tính chủ quan, đơn điệu. HS không vi phạm thì thường được coi là
ngoan và được xếp hạnh kiểm tốt nhưng chưa thể biết được ước mơ hoài bão của họ
ra sao, họ sẽ sống và cống hiến như thế nào cho đất nước? Như vậy kết quả giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
đó hoàn toàn phiếm diện không đạt được mục đích cuối cùng là đào tạo thế hệ con
người vừa “Hồng” lại vừa “Chuyên” để đáp ứng cho công cuộc xây dựng đất nước
hiện đại, văn minh.
cùng với việc nâ
, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý giới tính trong việc giáo
dục đạo đức
.
Trường THPT Chuyên Thái Bình trong những năm qua đã có nhiều thành tích
cao trong các mặt giáo dục như các chỉ tiêu về. HS đạt giải trong các kỳ thi học sinh
giỏi quốc gia, quốc tế. HS đỗ tốt nghiệp, đỗ Đại học, Cao đẳng, tuy nhiên bên cạnh
đó hiệu quả công tác việc giáo dục đạo đức cho HS đặc biệt là học sinh nữ còn nhiều
hạn chế và tồn tại :
giáo dục đạo đức cho HS nữ chưa được tiến hành thường xuyên,
thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, các cấp uỷ Đảng chính
quyền, các ngành hữu quan, các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân.
G lên lớp còn nặng dạy chữ, chưa chú trọng đến vấn đề dạy người, môn
giáo dục công dân nhiều GV và HS xem là “môn phụ’’, nặng lí luận thiếu sự đầu tư
nâng cao chất lượng giảng dạy của GV.
Có một số cán bộ GV còn né tránh, làm ngơ trước những hành vi vi phạm đạo
đức của HS. Đội ngũ GV chủ nhiệm lớp còn một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều
kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với HS, chưa có sự quan tâm đến công tác việc
giáo dục đạo đức cho HS nữ.
Vẫn tồn tại một bộ phận HS thường xuyên có biểu hiện vi phạm về đạo đức, có
lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật, xúc phạm tới
nhân cách nhà giáo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Để nâng cao chất lượng việc giáo dục đạo đức cho HS nữ của trường lên một
bước mới, góp phần tạo bước đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2010 - 2020. Đ áp ứng việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường THPT
Chuyên Thái Bình góp phần đào tạo ra những con người phát triển toàn diện đức, trí,
thể, mỹ - nguồn nhân lực chính thúc đẩy sự phát triển của địa phương và đất nước
trong giai đoạn CNH - HĐH.
các biện pháp quản lí
tốt nhất hoạt động việc giáo dục đạo đức cho HS, đặc biệt là đối với học sinh
nữ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Xuất phát từ
những lí do khách quan và chủ quan như đã nêu trên tôi lựa chọn đề:
"Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường Trung học phổ
thông chuyên Thái Bình" .
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường THPT Chuyên Thái Bình nhằm góp
phần nâng
, THPT Chuy .
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý việc giáo dục đạo đức cho HS nữ Trường
THPT Chuyên Thái Bình.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh nữ của trường
THPT Chuyên Thái Bình còn có những hạn chế nhất định,
.
Nếu đề xuất thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp quản lý khoa học,
khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
, .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh nữ trường THPT Chuyên.
5.2. oạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh nữ trường THPT Chuyên Thái Bình.
5.3. đạo đức cho
.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường THPT Chuyên Thái Bình.
- Đề tài sử dụng số liệu nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm học 2010 -
2011, đến 2012-2013, đồng thời tiến hành khảo sát trên các khách thể ở cả ba khối
lớp: 10, 11 và 12, 39 Giáo viên chủ nhiệm, 100 học sinh, 39 học sinh,
12 cán bộ quản lý trường THPT chuyên Thái Bình.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận như:
+ các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo.
+ ài liệu kinh điển.
+ Các giáo trình, sách báo, các công trình sản phẩm liên quan để xây dựng
khung lý thuyết cho đề tài.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2. 1. Phương pháp
Tiế ạt độ ể thu thập thông tin thực
tiễn cho đề tài.
7.2.2. Phương pháp
Trò chuyện trực tiếp vớ , một số giáo viên và học sinh để
tìm hiểu thêm về những thuận lợi, khó khăn của họ
.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7.2. 3. Phương pháp
Phương pháp này được sử dụng để thu thập ý kiến của các đối tượng bằng các
An-két mở và đóng.
7.2. 4. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia về các kết luận khoa học và các biện pháp đề xuất.
7.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ
hống kê toán học xử lý số liệu đã thu được từ
các phương pháp khác; sử dụng bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ
.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh nữ THPT Chuyên
Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý HĐGDĐĐ cho HS nữ trƣờng
THPT Chuyên Thái Bình
Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ
trƣờng THPT Chuyên Thái Bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH NỮ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và
sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau
khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.
Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt
để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất
mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN) trong các tác phẩm:
“Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ.
Khái niệm “ Đạo đức” đã xuất hiện trong triết học Trung Quốc, Ấn độ và
Hy Lạp cổ đại với các nhà đạo đức học kinh điển. Khổng Tử (551-478 Tr.CN) đã
đưa ra học thuyết Đức trị và triết lý giáo dục nổi tiếng “Tiên học lễ, hậu học văn”.
Mạnh Tử (371-289 Tr.CN) đưa ra học thuyết Nhân chính, xem trọng việc xây dựng
một xã hội gồm toàn người tốt. Còn Socrate (469-399 Tr.CN) nhấn mạnh tính
thiện của đạo đức…
Đến thế kỷ XVII, J.A.Komenxky, nhà giáo dục học Tiệp Khắc lỗi lạc, trong
tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” của mình đã đề cập đến nhiều biện pháp GDĐĐ,
làm nền tảng cho việc xây dựng nền giáo dục hiện đại sau này.
Trong thế kỷ XX, các nhà sư phạm nổi tiếng của Xô Viết như N.K Crúpxkaia,
A.C. Macarenkô, V.A Xukhomlinxky cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về
GDĐĐ cho thế hệ trẻ.
Hiện nay, quản lí giáo dục đạo đức của Nhật Bản hướng vào trọng tâm là nền
tảng các giá trị gia đình và văn hoá truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với tất cả
các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông. Triết lí giáo dục đạo đức
của Nhật Bản được ghi trong chương trình khung quốc gia nhằm đào luyện con
người gồm 06 mục tiêu: Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quí cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá
nhân. Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ. Ý thức đóng góp cho sự
phát triển một thế giới hòa bình. Khả năng tự quyết định một cách độc lập. Ý thức
đạo đức (Kỉ luật, tự kiềm chế, tinh thần tập thể ).
Đặc trưng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào 03 trọng điểm: Lòng
tôn trọng cuộc sống. Quan hệ cá nhân và cộng đồng. Ý thức về trật tự dọc (Kỷ luật
xã hội). Ý thức về trật tự dọc là tôn ti xã hội nghiêm ngặt và là yếu tố quan trọng tạo
nên sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của quốc gia Nhật Bản. Đó là điểm tựa
cho công tác quản lí hoạt động này.
Singapore lại tập trung vào việc tự đánh giá với hai nội dung
chính là các động lực và kết quả. Động lực giúp các trường nhận biết cách thức để đạt
được kết quả và kết quả cho thấy nhà trường đang đạt được những gì. Từ đó, các nhà
trường cần xem xét, thiết kế, cách thức hoạt động và sản phẩm đầu ra của giáo dục từ
phương diện quá trình và kết quả cuối cùng. Các động lực sẽ chỉ cho lãnh đạo nhà
trường biết được cách thức lãnh đạo nhân viên và quản lí hệ thống đạt được kết quả
mong muốn. Việc quản lí hoạt động giáo dục tập trung chủ yếu vào các mặt: Lãnh đạo.
Lập ké hoạch chiến lược. Quản lí người dạy. Nguồn lực. Các qui trình hướng vào
người học. Kết quả hoạt động quản lí. Kết quả của công tác đội ngũ. Đối tác và kết
quả về mặt xã hội: Kết quả hoạt động chính.
Trung Quốc tập trung chủ yếu vào các mặt: Giáo dục lí tưởng XHCN. Lòng tự
cường dân tộc. Tính kỉ luật trong lao động, học tập và hoạt động xã hội. Trung Quốc
coi trọng “giáo dục tố chất” nghĩa là tạo ra các điều kiện tiền đề để học sinh phát triển
cả về thể chất và tâm hồn. Khiến cho tất cả học sinh đều được phát triển hết tiềm
năng của mình từ đó thúc đẩy quá trình chuyển hóa ý thức xã hội bên trong phẩm
chất tâm lí của cá thể học sinh.
Đa số những nghiên cứu của Hoa Kì, Canada, Australia tập trung vào phát
triển những cách tiếp cận và khung giá trị của giáo dục đạo đức, làm cho, hệ thống
quản lí quốc gia tương đối mềm mại, tùy theo điều kiện cáp địa phương, về mặt quản
lí, họ đề cao việc giáo dục các giá trị sống, giáo dục tính cách, giáo dục kĩ năng sống,
dạy các kĩ năng xã hội và các giá trị văn hóa xuyên quốc gia, có tính chất quốc tế, tức
là các giá trị nhân văn. Theo tiếp cận chung của những quốc gia này, giáo dục đạo
đức được quản lí trong tổng thể các chiến lược giáo dục giá trị và giáo dục công dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Những tổ chức quốc tế chủ yếu như Unesco, Unicef, Ngân hàng Thế giới
(World Bank) v.v cũng đề cao giáo dục đạo đức và quan tâm nghiên cứu so sánh
quốc tế giữa các quốc gia và khu vực. Những nghiên cứu của họ nhấn mạnh kĩ năng
sống, giá trị sống, trách nhiệm công dân, phát triển bền vững trên cơ sở giáo dục cho
mọi người, phổ cập giáo dục, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, bạo lực trẻ em, lạm dụng
lao động và tình dục trẻ em, nạn trẻ em lang thang cơ nhỡ và thiệt thòi về mặt xã hội,
chính sách quốc gia bảo đảm công bằng cơ hội tiếp cận giáo dục
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”.
Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho trong các nhà trường như:
“Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có
bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”.
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn
đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Khắc Chương,
Trần Văn Chương, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ Huỳnh Ngọc Vân, Phạm
Trung Thanh và nhiều tác giả khác.
Trong tài liều bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho GV THPT:
“Đạo đức học”, các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương đã phân tích
quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại
đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận HS hư mà người
có lỗi lại chính là người lớn chúng ta. Trong chương VI đề cập một số vấn đề quan
tâm trong giảng dậy và GDĐĐ HS, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo
đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp.
Trong chương VII đề cập đến việc học tập, tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đặc biệt trong chương VIII các tác giả đề xuất một số phương pháp giảng dạy
và GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT bằng một số nhóm phương pháp cụ thể và
bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như mối quan hệ giữa các phương
pháp đó.
Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn
đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [54] trong phần đánh giá về thực trạng đã tỏ ra rất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và
mức độ nguy hại của một bộ phận HS. Tác giả kết luận HS đang trên đà
giảm sút và cho rằng việc giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội
đông thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về việc giáo dục
đạo đức .
Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá” [22] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh Hạc làm chủ
biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người
Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng
ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu
giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu của thời kỳ mới.
Trong cuốn: “Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá” [1] do Ban
tư tưởng - Văn hoá Trung ương biên soạn tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong
đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư
tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, HS, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định:
Trong HS, sinh viên có sự phân hoá khá rõ rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt,
chậm tiến, bình thường có sự chênh lệch khá lớn. Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư
tưởng chính trị, lối sống được đa số HS, sinh viên quan tâm vẫn là các giá trị đạo đức
cốt lõi của nhân cách con người Việt Nam; cũng có những giá trị mới do yêu cầu của
CNH, HĐH chưa được HS, sinh viên coi trọng. Tóm lại, những giá trị truyền thống
của dân tộc vẫn được số đông HS, sinh viên coi trọng tuy vẫn chưa thể hiện qua hành
vi hoạt động. Một bộ phận không nhỏ (khoảng 1/3 HS, SV) có sự giao động về nhận
thức có hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng như: Trung thực, thẳng
thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái. Tác giả nêu 4 nguyên nhân, có thể khái quát
lên là công tác việc giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúng mức, chưa đồng
bộ. trình giáo dục còn nặng về kết quả học tập văn hoá, coi nhẹ việc rèn luyện
đạo đức, hình thức giáo dục còn khô cứng, áp đặt, không phù hợp tâm lý lứa tuổi. Từ
thực trạng và nguyên nhân trên, tác giả đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao
chất lượng việc giáo dục đạo đức cho HS, sinh viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Trong công trình nghiên cứu về công tác việc giáo dục đạo đức cho HS, các tác
giả Lê Trung Trấn - Nguyễn Dục Quang đề nghị phải đổi mới hoạt động việc giáo dục
đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới và yêu cầu của xã hội, giáo
dục có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất phát từ HS.
Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù có những quan điểm chưa
thống nhất nhưng tựu chung các tác giả đều khẳng định: Đa số HS, sinh viên có phẩm
chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn
được bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động
còn nhiều chỗ chưa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay. Đặc biệt đáng lo ngại là
một bộ phận thanh niên, HS sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực
dụng, coi thường luân thường đạo lý, phai nhạt lý tưởng XHCN, vi phạm pháp luật và
sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi xa lạ với chuẩn mực đạo đức và truyền thống
văn hoá của dân tộc…có chiều hướng phức tạp và ngày càng gia tăng.
Các công trình nghiên cứu về việc giáo dục đạo đức cho HS khá nhiều nhưng
chưa cụ thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà trường ở các địa
phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay,
khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng
rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và sự tác động của hoàn cảnh
kinh tế - xã hội lên đời sống tâm lý của mỗi con người, nhất là lớp trẻ ngày càng tăng,
từ đó công tác GDĐĐ cho thanh, thiếu niên càng trở lên cấp thiết. Hiện nay khi
chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu của CNH - HĐH đất nước đặt ra vô cùng gay gắt, khi mà cạnh tranh
quốc tế ngày càng trở lên quyết liệt. Nguồn nhân lực mới đòi hỏi vừa phải có trình độ
Khoa học - Công nghệ và tay nghề cao , vừa phải có đạo đức trong sáng, kiên định lý
tưởng XHCN, yêu nước, có lòng nhân đạo cao cả, ân nghĩa, biết yêu thương con
người… Tóm lại nguồn nhân lực mới phải phát triển toàn diện cả “Đức và Tài”,
“Vừa hồng lại vừa chuyên”. Một điều khiến chúng ta trăn trở là: Tại sao trong những
năm gần đây, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt được về mặt kinh tế thì tiêu cực
và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về mặt đạo đức của một
bộ phận thanh niên HS ngày càng gia tăng? Nguyên nhân của tình trạng trên là ở đâu?
Trách nhiệm của các nhà trường, đặc biệt là các trường THPT đến đâu nhằm hạn chế
tình trạng trên và nâng cao chất lượng việc giáo dục đạo đức cho HS, một lực lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần đào tạo
nguồn nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã
hội trong giai đoạn mới.
Những phân tích trên cho thấy, việc giáo dục đạo đức
việc giáo dục đạo đức
giáo dục đạo đức giáo dục đạo
đức cho
ng giáo dục đạo đức giáo dục đạo đức
: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trường Trung học phổ
thông chuyên Thái Bình” đồng thời có ý nghĩa thiết thực góp phần tháo
gỡ những bất cập trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS THPT
nói chung, học sinh nữ THPT Chuyên Thái Bình nói riêng.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong quá trình
hoạt yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu
cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại. Có nhiều quan điểm
khác nhau về quản lý.
Theo quan điểm của l thuyết hệ thống, quản lý là phương thức tác động có
chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về
hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý
của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu.
Theo quan động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế
hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo
khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế
hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động Như vậy
quản lý tất điểm của điều khiển học, quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức,
với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật ) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy
trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ
vận hành và phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Frederik Winslon Taylo (1856 - 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của
thuyết quản l khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng" trong
quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là mỗi loại công việc dù
nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ. Ông cho rằng quản
lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng
phương pháp tốt nhất, rẻ nhất. Theo K. Marx, bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng
trực tiếp nào được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực
nhất định đến sự quản lý. Quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và
hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận
riêng rẽ của nó. Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao
động. Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì
hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều
quan niệm về quản lý dưới các góc độ khác nhau:
Các nhà nghiên cứu lý luận liên bang Nga cho rằng: Quản lý một hệ thống xã
hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lý) vào hệ thống, chủ yếu là
vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định; hoặc: Quản
lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ bởi kết quả tối ưu về kinh tế - xã hội. [Dẫn theo 29]
Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản lý
rất cụ thể như:“Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp
và kiểm tra” [Dẫn theo 29]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau
về quản lý: theo Từ điển tiếng Việt (1992) thì “Quản lý là hoạt động của con
người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực
hiện mục tiêu chung”.
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có
tổ chức nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát
triển tới mục đích đã định” [Dẫn theo 29]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý một hệ thống là quá trình
tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [44; tr 225]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Theo nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo: “ Quản lý
là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
nhằm đat được mục tiêu đề ra” [Dẫn theo 29]
Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau nhưng
đều bao hàm một nghĩa chung, đó là:
- Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân,
đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu
chung của tập thể.
- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản l
lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao
nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát
triển, đạt được những mục tiêu đã định.
- Quản lý bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các tác động
tương ứng phù hợp nhằm hướng dẫn điều khiển những đối tượng quản lý để đạt tới
những mục tiêu định sẵn.
- Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các thành phần.
+ Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu dẫn dắt điều
khiển các đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu đã định sẵn.
+ Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) con người (được tổ chức thành một
tập thể, một xã hội…); thế giới vô sinh (các trang thiết bị kĩ thuật), thế giới hữu sinh
(vật nuôi, cây trồng…).
- Cơ chế quản lý: Những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lý được thực
hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành
điều chỉnh.
- Mục tiêu chung: Cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý là căn cứ để
chủ thể quản lý tạo ra các hoạt động quản lý.
Từ những vấn đề trên có thể khái quát như sau:
Quản lý là một quá trình tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội
của hệ thống tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện cụ thể .
Có thể hình dung chu trình quản lí qua sơ đồ sau đây: