GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam
cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất
định. Xu thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt. Đặt hệ thống
ngân hàng Việt Nam trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải
đối mặt. Hoạt động của ngân hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho
nền kinh tế phát triển và ngược lại ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh
hưởng trầm trọng tới sự phát triển của cả nền kinh tế, thẩm chí cả nền kinh tế
thế giới. Xác định được tầm quan trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng
Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống
NHTM Việt Nam.
Hoà vào nhịp đổi mới toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, chi nhánh
BIDV Phú Tài cũng có sự đổi mới đáng khích lệ. Thấy được tầm quan trọng
của công tác tín dụng vì vậy mà để bắt kịp với sự đổi mới thì nâng cao chất
lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh BIDV Phú Tài là rất cần thiết để chi
nhánh phát triển vững chắc. Không những có vậy mà trong nền kinh tế hiện
nay, các doanh nghiệp đang ngày càng phát triển hòa nhập tốt vào nền kinh tế
thị trường mà số đông là các DNVVN, đặc biệt Phú Tài là một khu công
nghiệp trọng điểm của Bình Định nói riêng và các tỉnh duyên hải miền trung
nói chung lại tập trung chủ yếu là các DNVVN này.
Xuất phát từ hoàn cảnh phát triển nền kinh tế và thực trạng hoạt động tín
dụng của chi nhánh BIDV Phú Tài, em đã nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình
hoạt động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh BIDV Phú Tài với đề tài “Giải
pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN tại chi
nhánh BIDV Phú Tài”.
- Mục tiêu nghiên cứu: thực trạng tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN tại
BIDV Phú Tài.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng: tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN.
+ Phạm vi nghiên cứu: Tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ qua các năm tại BIDV Phú Tài.
- Số liệu qua các năm: 2008, 2009, 2010.
- Phương pháp nghiên cứu: Đây là đề tài thuộc lĩnh vực kinh tế – quản
lí, do đó quá trình nghiên cứu và thể hiện phải quán triệt phương pháp
luận phổ biến chung thông qua việc sử dụng tổng hợp các biện pháp
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 1 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
như: Phương pháp tổng hợp kết hợp với phân tích, phương pháp thống
kê, phương pháp so sánh, phương pháp duy vật biện chứng.
- Nội dung báo cáo: chia thành 2 chương:
ChươngI: Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngắn hạn đối với
DNVVN tại NHTM
ChươngII: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN tại
BIDV Phú Tài.
Do thời gian cũng như kiến thức cá nhân còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm
thực tiễn nên báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong
các giáo viên hướng dẫn khoa TCNH&QTKD và các anh chị cán bộ tín dụng
tại chi nhánh BIDV Phú Tài góp ý thêm.
Em xin chân thành cảm ơn Ths. Lê Việt An đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành bài viết này. Em cũng xin cảm ơn cán bộ công tác tín dụng tại BIDV
Phú Tài đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ trong thời gian em thực tập
và hoàn thành bài viết này.
Quy Nhơn, ngày….tháng…. năm 2010.
Sinh viên thực hiện.
Nguyễn Ngọc Phú
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 2 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG
NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm tín dụng ngắn hạn NHTM
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên
nguyên tắc hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một khoản thời gian nhất định. Như
vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, các
tổ chức tín dụng với bên kia là pháp nhân hoặc thể nhân trong nền kinh tế
quốc dân.
Có nhiều căn cứ phân loại tín dụng ngân hàng, trong đó có căn cứ về thời
hạn chia tín dụng làm 3 loại: tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn. Trong đó
tín dụng ngắn hạn là khoản tín dụng có thời hạn dưới 1 năm và được sử
dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp như
phục vụ cho thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán
ngoại thương hoặc có thể được vay cho những sinh hoạt cá nhân. Loại hình
này chủ yếu nhằm phục vụ cho các DNVVN do đó đây là loại hình tín dụng
chủ yếu tại các NHTM hiện nay.
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN.
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các DNVVN là
một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng
vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu
hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình. Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc
đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc
đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế
chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò của tín
dụng ngân hàng trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, ta xét một số
vai trò sau:
+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ được liên tục. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các
doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi
mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong
cạnh tranh. Trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ
100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn tín dụng của ngân hàng đã
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 3 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần thúc đẩy tạo
điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.
+ Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh
nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi
đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn
tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi
đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả,
tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi
suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho
vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc
doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
+ Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng
vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy
để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó
khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được
thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn
tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá
lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.
+ Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cạnh tranh là một quy luật
tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các
doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế
trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một
vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường
liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ
thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn
đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ
thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát
triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp ứng kịp thời, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng, có tín dụng ngân hàng mới có
thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát
triển sản xuất kinh doanh.
1.2 Các hình thức tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN tại NHTM
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 4 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
1.2.1 Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu
a. Khái niệm : là hình thức cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu bổ
sung vốn lưu động để thanh toán các chi phí trong nước phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nước hoặc có nhu cầu mở rộng quy mô hoạt
động nhưng nguồn vốn lưu động bị thiếu hụt.
b. Điều kiện cho vay:
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có khả năng tài chính bảo đảm khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Có phương án kinh doanh hiệu quả, khả thi.
c. Quy trình thực hiện:
Khách hàng lập và nộp hồ sơ vay vốn đến ngân hàng. Hồ sơ vay vốn
gồm các giấy tờ sau:
- Giấy đề nghị vay vốn (theo đúng mẫu quy định của ngân hàng).
- Giấy phép thành lập, giấy phép kinh doanh do cơ quan có đủ thẩm
quyền cấp. Các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả
kinh doanh, phân tích thu, chi tài chính … của kỳ gần nhất so với ngày xin
vay và được lập theo đúng pháp lệnh kế toán, thống kê của Nhà nước.
- Phương án sản xuất kinh doanh: Trong phương án phải tính toán được
hiệu quả kinh tế và xác định được nguồn để trả nợ ngân hàng. Đồng thời phải
có sự chấp thuận của cơ quan chủ quản (nếu có).
- Các tài liệu chứng minh tính hợp pháp và giá trị các tài sản đảm bảo nợ
vay: Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và
hợp pháp của các tài liệu gửi cho ngân hàng. Trường hợp ngân hàng cho vay
theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, khách hàng chỉ làm hồ sơ
vay vốn lần đầu, còn những lần vay sau, khách hàng phải gửi đến cho ngân
hàng các giấy tờ thanh toán, chứng từ hàng hóa, hợp đồng kinh tế.
Ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn và quyết định cho vay:Nhận được
hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi tới, ngân hàng tiến hành thẩm định
hồ sơ đó.
- Ngân hàng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm
bảo tính độc lập và phân định rõ trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới
giữa khâu thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án sản xuất kinh
doanh và khả năng hoàn trả nợ vay.
- Thẩm định hồ sơ vay vốn là quá trình xem xét, phân tích các thông tin,
số liệu đã thu thập trong hồ sơ của khách hàng. Mục đích của thẩm định trước
khi cho vay là xác định giới hạn an toàn của quan hệ tín dụng giữa ngân hàng
và khách hàng vay vốn. Người ta còn gọi là thẩm định phương án cho vay và
theo dõi xử lý nợ, các NHTM cần tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của Trung tâm
thông tin phòng ngừa rủi ro của toàn hệ thống ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 5 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Nội dung công việc thẩm định hồ sơ vay vốn, ngân hàng có thể phân
tích,đánh giá trên nhiều mặt, bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng chủ yếu là làm rõ các
mặt sau đây:
+ Năng lực sản xuất kinh doanh (quy mô hoạt động, khả năng công nghệ,
kỹ thuật sản xuất kinh doanh) của khách hàng trên thương trường và các quan
hệ bạn hàng của khách hàng.
+ Thực trạng tài chính của khách hàng như công nợ, kết quả kinh doanh
kỳ trước, mức tích lũy vốn, số thực có của vốn lưu động tự có của khách hàng
tham gia phương án sản xuất kinh doanh. Số liệu kế hoạch thu chi tài chính,
chỉ tiêu tổng doanh thu ghi trong phương án sản xuất kinh doanh của khách
hàng. Qua những chỉ tiêu này, ngân hàng đưa ra kết luận về số tiền có thể cho
vay hoặc mức dự nợ tối đa (hạn mức tín dụng), tiến độ giải ngân, thu nợ tiền
vay sao cho phù hợp với khả năng thực tế và chu kỳ sản xuất kinh doanh của
khách hàng.
+ Xem xét về đảm bảo tiền vay. Nếu khoản vay phải có tài sản đảm bảo
thì ngân hàng phải đánh giá về các điều kiện của tài sản thế chấp, cầm cố, tính
hợp pháp, sô slượng và xác định giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố theo đúng
Pháp luật của Nhà nước. các giấy tờ sở hữu tài sản thế chấp, cầm cố phải
được xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước và thẩm định kỹ để biết
được mức độ tin cậy của các giấy tờ đó. Trên cơ sở này ngân hàng mới phán
quyết cho vay được chính xác. Theo quy định, Ngân hàng nhận thế chấp cầm
cố không được quyền sơ hữu tài sản mà chỉ giữ các giấy tờ sở hữu tài sản
(bản gốc) hoặc là bảo quản những tài sản gọn nhẹ (kim loại quý, đá quý, hàng
hóa đặc chủng, giấy tờ có giá …)
Trong khoảng thời gian quy định, kể từ khi ngân hàng nhận được đầy đủ
hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của
ngân hàng, ngân hàng phải thẩm định xong hồ sơ vay vốn, quyết định và
thông báo việc cho vay hoặc không cho vay ngân hàng phải thông báo cho
khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
Trường hợp ngân hàng quyết định cho vay, giữa ngân hàng và khách
hàng vay thỏa thuận một số điều khoản về tài sản cầm cố, thế chấp như quyền
sử dụng, lưu giữ giấy tờ sở hữu, bảo quản, tổng giá trị, thời hạn thế chấp, cầm
cố … Đối với những tài sản cầm cố, thế chấp phức tạp, giá trị lớn ,thì giữa
khách hàng và ngân hàng phải ký hợp đồng cầm cố, thế chấp.
Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay và ký kết hợp đồng tín dụng
với khách hàng.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 6 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Khi ngân hàng quyết định cho vay và hợp đồng thế chấp, cầm cố đã được
ký kết giữa ngân hàng và khách hàng vay, ngân hàng tiến hành xác định các
chỉ tiêu cho vay:
- Mức cho vay là mức tiền ngân hàng có thể cho vay cao nhất đối với
phương pháp cho vay từng lần hoặc là mức dư nợ tối đa đối với phương pháp
cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Căn cứ để ngân hàng xác định mức cho vay là:
+ Nhu cầu vay vốn của khách hàng
+ Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay theo
quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng trung ương.
+ Khả năng nguồn vốn của ngân hàng
+ Khả năng trả nợ của khách hàng.
+ Giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với một khách hàng.
Trong đó:
- Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo. Tùy theo pháp
luật của mỗi nước và quy định của ngân hàng cho vay, nên tỷ lệ này có khác
nhau. Quy chế cho vay hiện hành ở Việt Nam quy định: Mức cho vay tối đa
không vượt quá 70% giá trị của tài sản thế chấp hay cầm cố.
- Thời hạn cho vay: Căn cứ vào kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay và
khả năng trả nợ của khách hàng, thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng.
- Lãi suất cho vay, đối với những nước mà NHTM có quyền quyết định
lãi suất kinh doanh, thì NHTM sẽ ấn định mức lãi suất cho vay của từng
khoản cho vay ngắn hạn. Ở Việt Nam hiện nay, các NHTM xác định lãi suất
cho vay không vượt quá lãi suất trần cho vay ngắn hạn của NHTW quy định
trong từng thời kỳ.
Sau khi xác định các chỉ tiêu trên, giữa ngân hàng và khách hàng vay cần
thỏa thuận thống nhất và ký kết hợp đồng tín dụng.
Mở tài khoản cho vay và phát tiền vay.
Sau khi đã duyệt cho vay, ngân hàng mở cho mỗi khách hàng vay một tài
khoản cho vay để hạch toán tiền cho vay và thu nợ (nếu khách hàng vay chưa
có tài khoản cho vay).
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và tiến độ thực hiện phương án sản xuất
kinh doanh của khách hàng (có phát sinh nhu cầu vốn thực tế) ngân hàng phát
triển tiền vay. Đối với khách hàng vay luân chuyển trong phạm vi hạn mức tín
dụng đã xác định, từng lần vay vốn khách hàng đi vay phải gửi đến cho ngân
hàng các chứng từ hàng hóa, các giấy tờ thanh toán hay hợp đồng kinh tế và
trên cơ sở đó ngân hàng cho vay đáp ứng các nhu cầu vay vốn của khách hàng
trong khả năng nguồn vốn cho phép.
Ngân hàng cho vay có thể phát tiền cho khách vay theo các cách:
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 7 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
- Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp vật tư, hàng hóa
hoặc dịch vụ cho khách hàng.
- Trường hợp khách hàng vay đã dùng nguồn vốn khác để trả cho người
cung cấp hoặc nếu người cung cấp không có tài khoản tai ngân hàng thì
chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng.
- Phát bằng ngân phiếu hoặc tiền mặt cho khách hàng.
Thu nợ:
Việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp đồng tín
dụng. Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải chủ động trả nợ ngân hàng
khi đến hạn. Khách hàng không trả được nợ đến hạn, ngân hàng có thể xử lý
theo bốn trường hợp sau:
- Một là, do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình
xin gia hạn, ngân hàng có thể xét cho gia hạn. Theo quy định quy chế cho vay
hiện hành thời hạn được gia hạn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất kinh doanh
của đối tượng cần gia hạn nợ. Riêng đối với trường hợp khó khăn do Nhà
nước thay đổi chủ trương chính sách hoặc nguyên nhân bất khả kháng thì thời
hạn tối đa không quá 12 tháng.
- Hai là, do nguyên nhân chủ quan, ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn
và phạt theo mức lãi suất nợ quá hạn. Theo quy định hiện hành, lãi suất nợ
quá hạn bằng 150% lãi suất trần cùng loại cho vay.
- Ba là, nếu không có các thỏa thuận trên thì ngân hàng có quyền bán
(phát mại) tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ. Việc chuyển nhượng, bán
tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi trong một thời hạn nhất định theo quy
định của pháp luật.
- Bốn là, nếu ba trường hợp trên hai bên không thỏa thuận để giải quyết
được, ngân hàng sẽ khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng.
Lãi tiền vay:
Việc tính lãi và thu lãi được tiến hành hàng tháng hoặc thu một lần cùng
với nợ gốc tùy theo kỳ hạn nợ thích hợp. Trường hợp cho vay theo hạn mức
thì việc tính lãi và thu lãi được thực hiện hàng tháng, vào ngày cuối tháng.
Nếu khách hàng vay chưa trả được lãi khi đến hạn thì ngân hàng tính và hạch
toán vào tài khoản ngoại bảng để thu dần, không nhập lãi vào nợ gốc. Trường
hợp khách hàng vay có khó khăn về tài chính do nguyên nhân khách quan thì
Tổng giám đốc (giám đốc) ngân hàng cho vay có thể quyết định cho giảm
hoặc miễn lãi đối với khách hàng vay. Việc giảm hoặc miễn lãi cho khách
hàng vay tùy thuộc vào khả năng tài chính của từng ngân hàng cho vay.
1.2.2 Nghiệp vụ thấu chi
a. Khái niệm:
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 8 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Nghiệp vụ thấu chi là việc các NHTM và tổ chức tín dụng chấp thuận bằng
văn bản cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của
mình và ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức sử dụng tiền trên tài
khoản vãng lai tại ngân hàng, với hạn mức thấu chi này, bạn có thể sử dụng số
tiền trong hạn mức này khi tài khoản của bạn không có số dư.
b. Điều kiện thấu chi:
- Khách hàng chi lương qua thẻ của NHTM.
- Khách hàng vip, lãnh đạo của các công ty .
- Khách hàng có tài sản thế chấp.
- Khách hàng thế chấp bằng sổ tiết kiệm.
- Thời hạn thấu chi tối đa là 12 tháng.
c. Quy trình:
+ Khách hàng và ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, trên hợp đồng này phải
thỏa thuận được hạn mức tín dụng, thời hạn vay, lãi suất vay, đảm bảo tiền
vay (nếu có), hướng sử dụng tiền vay …
+ Tài khoản sử dụng là tài khoản vãng lai. Tài khoản vãng lai là tài khoản
mà ngân hàng mở cho khách hàng để ghi chép nghiệp vụ gửi tiền và rút tiền
của khách hàng. Khi rút tiền lớn hơn gửi tiền (tức là tài khoản vãng lai dư nợ)
thể hiện nghiệp vụ thấu chi.
+ Ghi chép và hạch toán ngày xuất, nhập là ngày ghi chép các nghiệp vụ
phát sinh. Căn cứ vào ngày phát sinh nghiệp vụ để xác định “ngày giá trị” .
Căn cứ vào “ngày giá trị” tổng dư nợ và tổng dư có được xác định, đó là cơ sở
để tính lãi.
+ Lãi suất: hai loại số dư nợ và có được tính riêng sau đó bù trừ. Nếu dư
nợ và dư có áp dụng cùng một lãi suất gọi là “lãi suất qua lại”. Nếu lãi suất dư
có nhỏ hơn lãi suất dư nợ gọi là “lãi suất chênh lệch”. Nếu áp dụng lãi suất cố
định trong một thời gian dài gọi là “lãi suất bất biến”. Ngoài phần lãi phải trả,
khách hàng còn phải trả một số khoản phí như phí quản lý tài khoản, hoa
hồng phí, phí tất toán …
+ Thu nợ: Mỗi lần khách hàng có thu, hạch toán vào bên có tài khoản vãng
lai, coi như khách hàng trả nợ ngân hàng. Ngân hàng luôn kiểm tra số dư nợ
để không vượt quá hạn mức và thời gian sử dụng mà khách hàng đã ký trong
hợp đồng tín dụng. Trường hợp xuất hiện khả năng thanh toán yếu ở khách
hàng, ngân hàng sẽ hạn chế và có thể đình chỉ cho vay. Mọi trường hợp không
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 9 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
thanh toán được nợ đúng hạn, khách hàng đều bị xử lý như các trường hợp nợ
quá hạn khác.
1.2.3 Bảo lãnh ngân hàng
a. Khái niệm: “Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín
dụng, được thực hiện thông qua cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín
dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết bên bảo
lãnh”. Khách hàng nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được
trả thay. Ngân hàng bảo lãnh là các NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần,
ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. (trường hợp
đặc biệt, NHTW sẽ tham gia bảo lãnh khi được Chính phủ chỉ định). Trong
kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm giấy thông
hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này
không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh
cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.
Sơ đồ 1: Hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
b. Điều kiện bảo lãnh: để được ngân hàng bảo lãnh các bạn cần có các
điều kiện sau:
- Phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy
định của pháp luật.
- Mục đích đề nghị bảo lãnh là hợp pháp.
- Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, thanh toán với ngân hàng
- Phải có tài sản đảm bảo hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh. Quy định về
đảm bảo cho bảo lãnh nói rõ: “Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận áp dụng
hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm ký quỹ,
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 10 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
Ngân hàng
Người thụ hưởng
bảo lãnh
Người được bảo
lãnh
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các
biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật”.
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn
cam kết.
- Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh hoặc bên được bảo lãnh là tổ chức, cá
nhân nước ngoài, thì ngoài các điều kiện trên, khách hàng còn phải thực hiện
các quy định về quản lý vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước
ngoài, quy định về quản lý ngoại hối và các quy định có liên quan khác.
- Đối với trường hợp nhận bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải
đảm bảo các quy định của pháp luật về thương phiếu.
c. Quy trình hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
Khách hàng gửi hồ sơ xin bảo lãnh đến ngân hàng.
Hồ sơ xin bảo lãnh bao gồm các tài liệu sau đây:
- Đơn xin bảo lãnh vay vốn.
- Văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng và các tài liệu có liên quan đến bảo lãnh
vay vốn.
- Giấy phép xuất nhập khẩu (đối với trường hợp bảo lãnh có liên quan)
- Danh mục tài sản thế chấp, cầm cố.
Ngân hàng bảo lãnh thẩm định hồ sơ xin bảo lãnh.
Nhận được hồ sơ xin bảo lãnh của khách hàng, ngân hàng tiến hành thẩm
định hồ sơ đó, trên 2 mặt chủ yếu:
- Các điều kiện bảo lãnh của khách hàng đã hội tụ đầy đủ và thỏa mãn quy
chế về nghiệp vụ bảo lãnh chưa ?
- Tài sản thế chấp, cầm cố cho bảo lãnh đã đủ các tiêu chuẩn chưa ?
Việc thẩm định tài sản cầm cố, thế chấp giống như loại cho vay mục 1.1
Ngân hàng xác định hai chỉ tiêu chủ yếu là mức tiền bảo lãnh và thời
hạn bảo lãnh.
- Mức tiền bảo lãnh: Căn cứ để ngân hàng bảo lãnh xác định mức tiền bảo
lãnh là:
+ Nhu cầu bảo lãnh của khách hàng
+ Giá trị tài sản thế chấp cầm cố
+ Mức tiền bảo lãnh tối đa so với quỹ bảo lãnh.
Ở Việt Nam, quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh hiện hành quy định: Mức tiền
bảo lãnh tối đa không quá 20 lần số tiền của quỹ bảo lãnh.
- Thời hạn bảo lãnh được xác định căn cứ vào thời hạn thực hiện từng nghĩa
vụ đã được các bên tham gia thỏa thuận phải được bên bảo lãnh chấp thuận
bằng văn bản.
- Phí bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh thu phí bảo lãnh theo chế độ hiện hành. Ở
Việt Nam hiện nay, mức phí quy định tối đa là 1%/năm tính trên số tiền đang
còn được bảo lãnh.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 11 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Việc bảo lãnh vay vốn được thực hiện dưới hình thức thư bảo lãnh hay gọi
là văn bản chấp thuận bảo lãnh do bên bảo lãnh phát hành, để chuyển tới ngân
hàng cho vay.
Ngân hàng cho vay xét duyệt cho vay trên cơ sở văn bản chấp thuận
bảo lãnh của bên bảo lãnh.
Sau khi xem xét các điều kiện, ngân hàng cho vay xác định một mức tiền
cho vay và thời hạn cho vay phù hợp với nội dung ghi trog thư bảo lãnh.
Ngân hàng cho vay và khách hàng đi vay ký kết hợp đồng tín dụng, làm các
thủ tục cấp phát tiền vay.
Thu nợ, thu lãi:
- Khách hàng vay phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ (bao gồm gốc và lãi)
đã cam kết với ngân hàng cho vay. Khi khách hàng đã trả nợ xong, ngân hàng
bảo lãnh phải trao trả đầy đủ tài sản thế chấp, cầm cố cho khách hàng được
bảo lãnh.
- Trường hợp khách hàng vay không trả được nợ, bên bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay. Trường hợp này khách hàng được bảo lãnh phải chịu
phạt theo mức lãi suất nợ quá hạn. Sau đó bên bảo lãnh sẽ phát mại tài sản thế
chấp, cầm cố để thu hồi số tiền đã trả thay.
1.2.4 Cho vay chiết khấu chứng từ có giá
a. Khái niệm: Chứng từ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ
giá trị, do những đơn vị được phép phát hành hợp pháp như: Kỳ phiếu, trái
phiếu, tín phiếu, thương phiếu … Những chứng từ này được luật pháp thừa
nhận. Chúng được coi là tài sản của những người sở hữu. Khi chưa đến hạn
thanh toán, người sở hữu chúng có thể mang chúng đến bán tại NHTM. Việc
mua các chứng từ chưa đến hạn thanh toán của khách hàng được gọi là nghiệp
vụ chiết khấu.
Như vậy, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn
được thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho
ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức triết khấu.
b. Điều kiện chiết khấu:
- Chứng từ có giá phải do các đơn vị được phép phát hành hợp pháp.
- Chứng từ có giá còn thời hạn thanh toán phù hợp với thời hạn chiết khấu
ngân hàng quy định.
- Chứng từ có giá phải được phép chuyển nhượng mua bán.
c. Quy trình chiết khấu.
Thủ tục chiết khấu
- Khách hàng lập và nộp hồ sơ xin chiết khấu. Khi có nhu cầu chiết khấu
chứng từ có giá, khách hàng phải lập hồ sơ xin chiết khấu để gửi lên ngân
hàng. Hồ sơ xin chiết khấu bao gồm: Đơn xin chiết khấu, bản gốc chứng từ có
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 12 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
giá, bảng kê các chứng từ xin chiết khấu và cá tài liệu khác có liên quan đến
nghiệp vụ chiết khấu.
- Ngân hàng thẩm định hồ sơ xin chiết khấu. Ngân hàng tiến hành kiểm tra
các điều kiện chiết khấu. Ngân hàng trả lời ngay cho khách hàng biết những
chứng từ được chấp nhận chiết khấu.
- Mức chiết khấu: Mức chiết khấu bằng 80% - 120% mức sinh lời của
chứng từ chiết khấu, trong phạm vi thời hạn hiệu lực còn lại của chứng từ.
Trường hợp chứng từ không ghi rõ lãi suất, thì ngân hàng lấy lãi suất của
chứng từ tại thời điểm xin chiết khấu để xác định mức sinh lời của chứng từ.
+ Nếu chứng từ có lãi suất được trả lãi trước:
Lãi chiết khấu = Mệnh giá chứng từ x
Thời hạn chiết
khấu
x
Lãi suất chiết
khấu
Lãi chiết khấu =
(Mệnh giá chứng từ
X lãi suất chứng từ)
x
Thời hạn chiết
khấu
x
Lãi suất chiết
khấu
Trong một số trường hợp, ngân hàng thực thi nghiệp vụ này còn thu hoa
hồng phí.
+ Hoa hồng phí là các chi phí cho nghiệp vụ chiết khấu mà khách hàng
phải trả cho ngân hàng. Nó cũng được xác định khác nhau tùy theo chứng từ
đó được trả lãi trước hay trả lãi sau hoặc được quy định cố định cho nghiệp vụ
chiết khấu.
Nếu chứng từ được trả lãi trước:
Hoa hồng phí = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng phí
Nếu chứng từ được trả lãi sau:
Hoa hồng
phí
=
(Mệnh giá chứng từ X lãi suất
chứng từ )
x
Thời hạn chiết
khấu
x
Tỷ lệ hoa
hồng phí
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 13 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Thời hạn chiết khấu được tính riêng cho từng loại chứng từ trong phạm vi
thời hạn hiệu lực còn lại, nhưng tối đa không quá 90 ngày.
Đối với những chứng từ có mệnh giá nhỏ, thời hạn chiết khấu ngắn, mức
chiết khấu ngân hàng được xác định quá thấp không đủ bù đắp các chi phí
chiết khấu của ngân hàng, thì khi chiết khấu ngân hàng có thể quy định thu
theo mức tối thiểu.
- Ngân hàng xác định số tiền cho vay. Sau khi đã xác định được mức chiết
khấu, ngân hàng sẽ xác định số tiền cho vay khi ngân hàng xin chiết khấu.
Nói chung, số tiền ngân hàng cho khách hàng vay (hay trả cho khách hàng) là:
Số tiền phải trả cho
khách hàng
=
Tổng số mệnh giá
chứng từ
-
Tổng số mức chiết
khấu
Ngân hàng phát tiền vay:
Số tiền cho vay là số tiền ngân hàng trả cho khách hàng chiết khấu. Số tiền
này được chuyển vào tài khoản tiền gửi cho khách hàng hoặc trả trực tiếp
bằng tiền mặt hay trả bằng ngân phiếu thanh toán. Khi phát tiền vay, ngân
hàng yêu cầu khách hàng chiết khấu phải ký chuyển nhượng vào chứng từ có
giá chiết khấu.
Thu nợ:
Hết thời hạn chiết khấu, ngân hàng trích tài khoản tiền gửi hoặc yêu cầu
khách hàng chiết khấu nộp tiền mặt bằng số tiền xin chiết khấu để trả nợ đồng
thời làm thủ tục trả lại chứng từ chiết khấu cho khách hàng. Trường hợp đến
hạn, khách hàng không có tiền để trả nợ thì ngân hàng xử lý như sau:
- Chứng từ có giá không chuyển nhượng được thì ngân hàng chuyển số nợ
trên sang nợ qua hạn và xử lý như trường hợp nợ cho vay quá hạn.
- Chứng từ chuyển nhượng được, ngân hàng sẽ làm thủ tục đưa đến đơn vị
phát hành để thanh toán và thu hồi nợ khi chứng từ đó đến hạn thanh toán.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng ngắn hạn của NHTM.
NHTM là một chủ thể trong nền kinh tế và có quan hệ mật thiết với sự
phát triển của nền kinh tế. NHTM có quan hệ rất rộng với nền kinh tế, do đó
để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thì chúng ta phải hiểu biết về
những nhân tố tác động đến nó. Những nhân tố tác động đến chất lượng tín
dụng ngân hàng bao gồm những nhân tố chủ quan và những nhân tố khách
quan. Các nhân tố này được chia thành 3 nhóm:
1.3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng.
Khả năng thẩm định cho vay:
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 14 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Thẩm định cho vay là khâu quan trọng trong hoạt động tín dụng và ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng. Thẩm định đó là khâu đánh giá, dự
đoán, thẩm tra về độ chính xác, an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín
dụng. Mặt dù không chính xác tuyệt đối nhưng làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề
cho việc thu hồi cả vốn và lãi đầy đủ khi khoản vay đến hạn thanh toán. trong
quá trình them định yêu cầu phải có trình độ chuyên môn và sự phán đoán
linh hoạt, tuy nhiên phải tuân thủ nghiêm ngặt về hồ sơ và an toàn thông tin.
Đặc biệt đối với những khoản vay ngắn hạn, do tính đặc thù của hoạt động
này là cho vay thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời vốn lưu động cho các
doanh nghiệp do đó them định phải nhanh chóng kịp thời nhưng phải chính
xác bảo đảm an toàn cho đồng vốn bỏ ra.
Chất lượng cán bộ tín dụng:
Để đảm bảo chất lượng tín dụng được nâng cao thì đòi hỏi nhiều yếu tố,
trong đó con người là nhân tố trung tâm, là yếu tố quyết định sự thành bại
trong quản lý vốn, tài sản của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh
tế thì hoạt động của ngân hàng cũng càng ngày càng tinh vi và phức tạp đòi
hỏi cán bộ ngân hàng có đủ phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn để lĩnh
hội và ứng dụng khoa học tiên tiến. Trình độ cán bộ quản lý điều hành và cán
bộ tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng. Khách hàng của
ngân hàng rất đa dạng do đó trình độ cán bộ tín dụng phải cao và hiểu biết
phong phú để đánh giá được một khoản cho vay.
Vấn đề thông tin tín dụng:
Trong nền kinh tế mở thì thông tin là một yếu tố rất quan trọng, là một kho
tàng quý báu cho những ai biết cập nhật và sử dụng hiệu quả thông tin.
NHTM hoạt động trong một lĩnh vực rất nhạy cảm đối với nền kinh tế và
đầy tính rủi ro do đó thông tin càng cực kỳ quan trọng. Đối với nghiệp vụ tín
dụng, ngân hang thường không đủ về thông tin về lợi tức tiềm ẩn và rủi ro
kèm theo với dự án mà người vay định tiến hành. Việc thiếu thông tin tạo ra
sự lựa chọn đối nghịch, đó là hiện tượng người vay tạo ra một kết cục không
mong muốn – rủi ro không trả được nợ. Do vậy nắm bắt không đầy đủ chính
xác về thông tin sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Kiểm soát nội bộ:
Các quy chế, thể lệ cho vay và các nguyên tắc cho vay nếu cán bộ ngân
hàng không nắm vững sẽ gây nên tổn thất, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Do đó, công tác kiểm soát nội bộ giúp cho cán bộ điều hành công việc theo
đúng cơ chế, đúng pháp luật, mặt khác nắm được sai sót lệch lạc trong hoạt
động tín dụng có biện pháp khắc phục kịp thời.
1.3.2. Các nhân tố thuộc về khách hàng.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 15 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Khách hàng người trực tiếp sử dụng khoản vay từ ngân hàng có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Việc có nhiều khách hàng đủ
điều kiện vay, sử dụng vốn vay hợp lý, hiệu quả, thanh toán nợ và lãi đúng
hạn sẽ làm cho chất lượng tín dụng được nâng cao. Những yếu tố từ ngân
hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là :
Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong sản xuất kinh doanh phải có mọi phương án và tính đến mọi yếu tố
có liên quan như vật liệu được cung cấp từ đâu, điều kiện giao thông vận tải
có thuận lợi không, cơ sở hạ tầng như thế nào, hàng làm ra có tiêu thụ và cạnh
tranh được không vv Những điều đó cán bộ kinh doanh không hiểu biết sẽ
ẫn tới làm ăn thua lỗ. Như vậy khi năng lực quản lý kinh doanh bị hạn chế thì
các phương án sản xuất kinh doanh là không phù hợp với thực tế do đó khả
năng trả nợ của doanh nghiệp kém ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng.
Khả năng điều kiện hiện tại của các doanh nghiệp:
Hiện nay hầu hết các khách hàng thiếu các điều kiện cần và đủ để thực
hiện các nguyên tắc và quy định cho vay thế chấp của ngân hàng. Theo pháp
lệnh thì khi khách hàng vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và
thực hiện đúng chế độ hạch toán kinh tế. Trên thực tế 80% các pháp nhân và
thể nhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và 100% tài sản của doanh nghiệp
nhà nước không có chứng nhận sở hữu. Mặt khác doanh nghiệp nhà nước vốn
tự có rất bé. Trong khi đó chức năng nhiệm vụ trong giấy phép kinh doanh là
rất lớn, yêu cầu vay vốn gấp 20-50 lần vốn tự có. Thực tế nhiều bộ phận
khách hàng khi vay không thực hiện đúng pháp lệnh về cho vay. Điều đó làm
cho không có một ràng buộc pháp lý nào giữa ngân hàng và khách hàng và
làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Tuy nhiên xem xét từ khía cạnh trả nợ của khách hàng thì hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới là quan trọng. Khả năng trả nợ của
ngân hàng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngắn hạn,
bởi vì đặc trưng của tín dụng ngắn hạn là thời gian khoản vay ngắn, do đó
việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng là rất quan trọng. Do đó để đảm
bảo chất lượng tín dụng, ngân hàng chỉ bỏ vốn vào những dự án khả thi, phù
hợp với tình hình tài chính, điều kiện thực tế của doanh nghiệp để có thể thu
được lợi nhuận.
Đạo đức của người vay:
Các ngân hàng sẽ quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thậnyếu tố
liên quan đến tính chân thật của người vay trong việc trả nợ. Tuy nhiên tính
chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi mon cho
vay đã được thực hiện. Rủi ro đạo đức xảy ra khi khách hàng sử dụng món
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 16 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
vay vào mục đích khác nhiều rủi ro hơn. Điều này ảnh hưởng tới chất lượng
tín dụng.
1.3.3. Các nhân tố thuộc về môi trường.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền kinh
tế. Từng giai đoạn và biến cố kinh tế đều có những tác động đến hoạt động
ngân hàng. Lạm phát, suy thoái hay tăng trưởng kinh tế, thuế đều ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Nền kinh tế nước
ta đang trong giai đoạn đổi mới và đạt được nhiều kết quả khích lệ.
Tuy nhiên còn một số những khó khăn doanh nghiệp chuyển hướng và
điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh không theo kịp hoặc không phù
hợp với sự thay đổi của chính sách, cơ chế vĩ mô. Do vậy doanh nghiệp gặp
những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hàng hoá tồn đọng, thua lỗ kéo
dài, mất khả năng thanh toán làm phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi điều này
ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng.
Cùng với sự thay đổi của môi trường kinh tế thì môi trường pháp lý thay
đổi cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng.
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn.
1.4.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu
tính toán được), vừa trìu tượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng,
tác động đến nền kinh tế ). Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân
tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp
vụ ) và khách quan (sự thay đổi của môi trường kinh tế, do chủ quan của
khách hàng ).
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
cạnh tranh của một ngân hàng trong môi trường hoạt động.
Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố như: Thu hút được
nhiều khách hàng tốt, cho vay được nhiều, thủ tục đơn giản, mức độ an toàn
của vốn tín dụng…
Chất lượng tín dụng không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp giữa các con người trong một tổ chức; giữa các tổ chức với nhau
vì một mục đích chung: An toàn, hiệu quả và khả năng cạnh tranh với các
khoản tín dụng.
Như vậy, chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là
ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Để tránh rủi ro và thu được lợi nhuận trong
hoạt động tín dụng, không có cách nào khác là ngân hàng phải nâng cao chất
lượng tín dụng của mình.
1.4.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 17 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
a. Chỉ tiêu định tính.
Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu có thể
lượng hoá được thì còn có rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được. Các
chỉ tiêu định tính được qua quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thoả mãn
của khách hàng đối với sản phẩm của khách hàng, độ tín nhiệm của khách
hàng đối với ngân hàng.
b. Các chỉ tiêu định lượng.
Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu nợ.
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho
nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu
kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình
độ cán bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này
càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín
dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu. Chỉ tiêu
tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của ngân hàng
đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín
dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân
hàng là cao hay thấp.
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân
tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho
vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ
khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào
là nhiều nhất.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn
hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho
ngân hàng đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của
ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối
quý, cuối năm.
Tỷ lệ nợ Nợ quá hạn
=
quá hạn Tổng dư nợ
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố
quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay
không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì
nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường.
Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 18 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại
càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng
thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín
dụng càng thấp. Tuy nhiên để có thể đánh giá chính xác hơn chúng ta có thể
chia nợ quá hạn thành 2 loại sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn có thể thu hồi được (nợ nhóm I, II, III).
- Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (nợ nhóm IV, V).
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm
để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng
trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Vòng quay vốn Doanh số thu nợ
=
tín dụng Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn
tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh,
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn
nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng
được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp
tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình
hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng.
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại
một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn
thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại
chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm
bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay.
Thu nhập từ Lãi từ hoạt động tín dụng
=
hoạt động tín dụng Tổng thu nhập
Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và
duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động
tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng
được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh
lời của ngân hàng.
Chỉ tiêu doanh số cho vay.
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng
đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 19 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua
các năm.
Ngoài các chỉ tiêu trên thì có thể kể đến một số các thong số như: hệ số an
toàn vốn tối thiểu (không quá 8%), giới hạn cho vay một khách hàng (không
quá 15%) hay dư nợ một khách hàng (không quá 10% vốn điều lệ và các
quỹ). Bên cạnh đó thì chúng ta có thể sử dụng thêm chỉ tiêu hiệu xuất sử dụng
vốn để chính xác hơn.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 20 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI BIDV VIỆT NAM CHI
NHÁNH PHÚ TÀI
2.1 Khái quát về BIDV Việt Nam chi nhánh Phú Tài
2.1.1 Giới thiệu chi nhánh.
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Phú Tài được thành lập ngày
17/7/ 2007. (Trước đó, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Phú tài là
chi nhánh cấp 2, trực thuộc Chi nhánh Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Bình
Định nhưng hạch toán độc lập).
Tên đầy đủ: Bank for Investment and Development of Vietnam, Phú Tài
Branch.
Tên viết tắt: BIDV Phu Tai Branch.
Địa chỉ: Km1230 QL1A, P.Trần Quang Diệu, TP.Quy Nhơn, Bình Định.
Số điện thoại: (056) 3741103.
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Phú tài là đại diện pháp nhân của Ngân
hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam, hạch toán nội bộ trong Ngân Hàng Đầu
Tư và Phát Triển, có con dấu riêng, có bảng tổng kết tài sản, trụ sở chính đặt
tại Km 1230, Quốc lộ 1A, KCN Phú tài, Phường Trần Quang Diệu, Tp Qui
nhơn, Tỉnh Bình Định.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức.
Là một NHTM lớn tại địa bàn nên số lượng cán bộ nhân viên tại BIDV
Phú Tài là không nhỏ. Về mặt tổ chức thì BIDV Phú Tài gồm có: 72 cán bộ
công nhân viên được bố trí vào 12 phòng, ban (không tính các phòng giao
dịch) sau theo như sơ đồ dưới đây ta có:
- Ban giám đốc gồm 4 người: 1 giám đốc và 3 phó giám đốc là những
nguời trực tiếp điều hành hoạt động của ngân hàng.
- Phòng tổ chức hành - chính gồm 4 người: 1 trưởng phòng và 3 nhân
viên chịu trách nhiệm về các vấn đề như: công tác tổ chức – nhân sự;
công tác hành chính; công tác quản trị, hậu cần và các nhiệm vụ khác
theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh.
- Phòng kế hoạch – tổng hợp gồm 5 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng
và 3 nhân viên chịu trách nhiệm về công tác kế hoạch – tổng hợp; công
tác nguồn vốn và 1 số các công tác khác như: công tác pháp chế - chế
độ, làm thư ký cho Ban giám đốc …
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 21 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
- Phòng quản trị tín dụng gồm 6 người: 1 trưởng phòng và 5 nhân viên
chịu trách nhiệm về việc thực hiện quản trị cho vay, bảo lãnh đối với
khách hàng theo quy định; thực hiện việc tính toán trích lập dự phòng
rủi ro; giám sát khách hàng tuân thủ đúng điều kiện hợp đồng và các
nhiệm vụ khác.
- Phòng quản lý rủi ro gồm 7 người: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng và 4
nhân viên chịu trách nhiệm về công tác quản lý tín dụng, công tác quản
lý rủi ro tín dụng, công tác quản lý rủi ro tác nghiệp và công tác phòng
chống rửa tiền.
- Phòng kế toán - tài chính gồm 9 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và
7 nhân viên chịu trách nhiệm:
+ Quản lý, thực hiện hạch toán, kế toán chi tiết và tổng hợp.
+ Thực hiện công tác hậu kiểm tra đối với hoạt động tài chính tại chi
nhánh.
+ Thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát tài chính.
+ Đề xuất tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về các vấn đề tài chính.
+ Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, trung thực,
hợp lý của số liệu kế toán, báo cáo kế toán, báo cáo tài chính…
- Phòng quan hệ khách hàng 1 gồm 6 người: 1 trưởng phòng, 1 phó
phòng và 4 nhân viên chịu trách nhiệm về công tác tiếp thị và phát triển
quan hệ khách hàng cùng với công tác tín dụng có liên quan đến các
khách hàng lớn và là đối tác quan trọng với ngân hàng.
- Phòng quan hệ khách hàng 2 gồm 7 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng
và 5 nhân viên chức năng là giống phòng quan hệ khách hàng 1 nhưng
là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phòng quan hệ khách hàng 3 gồm 6 người: 1 trưởng phòng, 1 phó phòng
và 4 nhân viên chịu trách nhiệm như các phòng quan hệ khách hàng
khác nhưng là với đối tượng cá nhân.
- Phòng thanh toán quốc tế gồm 4 người: 1 trưởng phòng và 3 nhân viên
chịu trách nhiệm về thực hiện các giao dịch tài trợ thương mại; phối hợp
với các phòng có liên quan để tiếp thị, phát triển khách hàng và giới
thiệu các sản phẩm.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 22 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
- Phòng dịch vụ khách hàng gồm 9 người: 1 trưởng phòng, 2 phó phòng
và 6 nhân viên chịu trách nhiệm về kiểm tra tính đầy đủ, đúng đắn của
các chứng từ giao dịch; thực hiện đúng các quy định, các quy trình
nghiệp vụ, thẩm quyền và các quy định về bảo mật trong mọi hoạt động
giao dịch với khách hàng.
- Tổ dịch vụ kho quỹ gồm 8 người: 1 tổ trưởng, 1 tổ phó và 6 nhân viên
với chức năng chính là trực tiếp thực hiện nghiệp vụ quản lý kho
xuất/nhập quỹ; chịu trách nhiệm đề xuất, tham mưu với Giám đốc chi
nhánh về các biện pháp đối với hoạt động kho quỹ.
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức BIDV Phú Tài
Quan hệ chức năng
Quan hệ phối hợp
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 23 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
P.GIÁM ĐỐC P.GIÁM ĐỐC P.GIÁM ĐỐC
Kế
hoạch
tổng
hợp
Quản
trị
tín
dụng
Quản
lý
rủi
ro
Kế
toán
tài
chính
Quan
hệ
khách
hàng 1
Quan
hệ
khách
hàng 2
Quan
hệ
khách
hàng 3
Tổ
chức
hành
chính
Thanh
toán
quốc
tế
Phòng
dịch
vụ
Tổ dịch
vụ kho
quỹ
Các
phòng
giao
dịch
GIÁM ĐỐC
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
2.1.3 Các sản phẩm dịch vụ.
Huy động vốn và thanh toán:
BIDV Phú Tài nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và Ngoại tệ dưới
nhiều hình thức:
- Nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn
- Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn đa dạng, phong phú.
- Huy động trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi với các loại kỳ hạn.
Dịch vụ thanh toán là một trong những thế mạnh của BIDV cũng như
của BIDV Phú Tài trên địa bàn.
- Mở tài khoản miễn phí, thủ tục nhanh gọn.
- Chuyển tiền thanh toán trong và ngoài nước nhanh chóng an toàn với
các kênh thanh toán hiện đại: trực tuyến trong toàn hệ thống, thanh toán
song biên với ngân hàng Công thương, Nông nghiệp…, chuyển tiền
thanh toán quốc tế (Swift)
- Cung cấp các dịch vụ hiện đại: Homebanking, Internetbanking, ATM,
POS, …và các dịch vụ thanh toán khác.
Nghiệp vụ tín dụng:
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng Việt Nam đồng và ngoại
tệ đối với các thành phần kinh tế trong phạm vi cho phép cụ thể:
- Cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh theo hạn
mức tín dụng thường xuyên hoặc theo món.
- Cho vay hỗ trợ vốn trong khi chờ thanh toán của chủ đầu tư.
- Cho vay phục vụ nhập khẩu nguyên liệu, vật tư sản xuất, thi công…
- Cho vay đối ứng bằng tiền mặt.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng, dự phòng để mở L/C.
- Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu (đặc biệt là ngành gỗ), chiết khấu bộ
chứng từ.
- Cho vay thiếu hụt tài chính tạm thời.
- Cho vay cầm cố bằng các giấy tờ có giá.
- Cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ kết hợp với quỹ hỗ trợ phát
triển.
- Cho vay đồng tài trợ cá dự án.
- Cho vay mua ôtô, xe tải, sửa nhà, mua nhà ở, du học…
Bảo lãnh ngân hàng:
Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh trong nước và quốc tế vớ thủ tục
nhanh gọn, mức phí hợp lý:
- Bảo lãng dự thầu, thực hiện hợp đồng.
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, mua thiết bị trả chậm, nộp thuế.
- Bảo lãnh vay vốn nước ngoài.
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 24 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.
GVHD: ThS. Lê Việt An Báo cáo thực tập tốt nghiệp.
- Bảo lãnh thanh toán.
- Bảo lãng đối ứng và cá loại bảo lãnh khác.
Thanh toán quốc tế:
BIDV Phú Tài là chi nhánh thanh toán liên Ngân hàng toàn cầu
(Swift), giao dịch bảo đảm nhanh chóng, an toàn và hiệu quả với hơn 6000
ngân hàng và tổ chức tài chính trên thế giới, thực hiện nghiệp vụ thanh toán
xuất nhập khẩu:
- Thanh toán tín dụng chứng từ L/C.
- Thanh toán nhờ thu đến D/A, D/P.
- Thanh toán nhờ thu đi
- Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế Western Union…
2.1.4 Tình hình hoạt động tại chi nhánh.
a. Tình hình huy động vốn.
Huy đông vốn là một nghiệp vụ quan trọng trong NHTM, nó làm làm cơ sở
cho các hoạt động tín dụng đầu tư và các loại hình dịch vụ khác tại ngân hàng.
Nó quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh, bởi lẽ nó ấn
định lãi suất cao hay thấp và nó tạo cho ngân hàng tính chủ động trong đầu tư
tín dụng. Do đó mà NHTM nào cũng coi trọng nghiệp vụ này.
Mặc khác, tình hình nguồn vốn để cho vay trong cả nước nói chung còn
gặp nhiều khó khăn, các ngân hàng cơ sở luôn bị khống chế mức sử dụng vốn
của NHTW. Nếu ngân hàng cơ sở không tăng trưởng được nguồn vốn huy
động thì công tác đầu tư vốn sẽ bị hạn chế, đôi lúc còn gây ra ách tắc, ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất phát từ ý nghĩa như vậy nên mặc dù trong những năm qua công tác
huy động vốn còn gặp nhiều khó khăn do bị cạnh tranh bởi các NHTM khác
trên địa bàn nhưng với những chính sách khuyến mãi đặc biệt của BIDV và
sự chỉ đạo linh hoạt của công tác huy động vốn tại BIDV Phú Tài mà nguồn
vốn huy động được không ngừng tăng trưởng qua các năm và đạt những kết
quả đáng khích lệ.
Qua bảng 1dưới đây có thể thấy được tình hình huy động vốn qua các năm
tại chi nhánh là rất khả quan, luôn vượt chỉ tiêu được đặt ra qua các năm, đạt
tốc độ tăng trưởng cao: năm 2008 đạt 961,240 triệu đồng; năm 2009 đạt
1,351,380 triệu đồng tăng 40.59% so với năm 2008; năm 2010 đạt 2,360,590
triệu đồng tăng 74.68% so với năm 2009. Nhìn vào công tác huy động vốn
của chi nhánh có thể thấy được sự quan tâm sát sao của lãnh đạo đến công tác
huy động vốn, nguồn vốn được huy động chủ yếu là từ các nguồn vốn ngắn
hạn và không kỳ hạn chiếm trên 99% tổng nguồn vốn huy động được tại chi
nhánh. Điều này là hợp lý vì trên địa bàn Phú Tài và các huyện tập trung
SVTH: Nguyễn Ngọc Phú 25 Chuyên ngành: Tài chính-Ngân
hàng.