Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

Giáo trình thị trường tài chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.85 KB, 28 trang )


1
Chương III: Thị trường tài chính
.
I. Tổng quan về Thị trường tài chính.
1. Khái niệm.
Trong nền kinh tế, luôn phát sinh các nhu cầu về vốn của các chủ thể khác
nhau.Trong đó, có những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn
những ngưòi có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư hay không biết đầu tư
vào đâu. Từ đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu
tư. Cơ chế đó được thực hiện và điều chỉnh trong khuôn khổ một thị trường,
đó là Thị trường tài chính (TTTC). Thị trường tài chính đã gắn kết những
người đó với nhau bằng cách luân chuyển vốn từ những người có dư vốn tới
những người thiếu vốn. Những ngưòi thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát
hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu … còn những người có
vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào máy móc thiết bị và nhà xưởng để
sản xuất hàng hoá thì sẽ mua các công cụ tài chính được phát hành bởi người
huy động vốn.
Vậy TTTC có thể được hiểu là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi và
chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc và luật lệ đã được ấn
định.
2. Các chủ thể tham gia vào TTTC
Chính phủ: Tham gia chủ yếu với tư cách là ngưòi đi vay. Chính phủ phát
hành Tín phiểu kho bạc, Trái phiếu để bù đắp sự thiếu hụt của Ngân sách Nhà
nước. Ngoài ra, Chính phủ còn tham gia với tư cách là người cho vay mỗi khi
có tiền nhàn rỗi.
Các hãng kinh doanh: Vào những thời gian chưa đến kỳ sản xuất kinh
doanh, các hãng kinh doanh đang có một khoản tiền nhàn rỗi thì họ có thể
mua trái phiếu của các chủ thể khác. Tuy nhiên, các hãng kinh doanh này lại
tham gia TTTC chủ yếu với tư cách là người đi vay do họ luôn có nhu cầu
vốn cho việc sản xuất kinh doanh.


Dân cư (các gia đình): Tham gia TTTC chủ yếu với tư cách là ngưòi cho
vay do dân cư thường có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu ít hơn thu nhập. Tuy

2
nhiên, họ cũng tham gia với tư cách là người đi vay để tài trợ cho việc mua xe
hơi, đồ đạc, nhà cửa … của mình.
Người nước ngoài: Có thể là công dân, các hãng kinh doanh hay Chính
phủ nước ngoài. Chủ thể này tham gia TTTC với tư cách chủ yếu là người
cho vay. Khi có tiền nhàn rỗi, họ đều tìm cách làm sinh lời dưới dạng mua trái
phiếu hoặc gửi tiền vào Ngân hàng.
3. Chức năng của thị trường tài chính
TTTC thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những
chủ thể thừa vốn tới những chủ thể cần vốn. Sự chuyển dịch vốn này được
thực hiện theo sơ đồ sau:

Qua sơ đồ trên, ta thấy sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường: Tài chính trực tiếp và Tài chính gián tiếp.
Tài chính trực tiếp: Là con đường mà những người cần vốn sẽ huy
động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách phát hành và bán các công cụ
tài chính như cổ phiếu, tín phiếu …
Tài chính gián tiếp: Là con đường mà thông qua các trung gian tài
chính, vốn sẽ được dịch chuyển từ người dư vốn sang những người cần vốn.
Trung gian tài chính thực hiện điều này bằng cách vay vốn của người cho vay

3
sau đó cho người đi vay vay vốn. Các trung gian tài chính là các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, các tổ chức bảo hiểm …Ngoài việc tích tụ, tập trung và
phân phối vốn trong nền kinh tế, các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng
trong việc cấp vốn và hỗ trợ cho dòng tài chính trực tiếp: thông qua các hoạt
động như đại lý, bảo lãnh, thanh toán…

Các trung gian tài chính không những mang lại lợi ích cho người gửi
tiền mà còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người đi vay để họ có được các khoản
tiền để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể nói vắng bóng của
trung gian tài chính thì thị trường tài chính khó có thể đạt được lợi ích trọn
vẹn.
4. Vai trò của thị trường tài chính
Với chức năng dẫn vốn, TTTC đã thực hiện vai trò vô cùng quan trọng
trong việc thúc đẩy, phát triển và ổn định nền kinh tế. Cụ thể là:
- Góp phần tạo lập vốn để đầu tư phát triển kinh tế.
Thông thường, Ngân sách Nhà nước không đủ để đáp ứng toàn bộ các
nhu cầu xây dựng và chi tiêu bởi để có thể tiến hành xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương buộc phải đòi hỏi
nhu cầu về tiền vốn với quy mô rất lớn đồng thời phải huy động trong một
thời gian ngắn. TTTC sẽ góp phần giải quyết khó khăn này qua việc thúc đẩy
việc tích luỹ và tập trung vốn, tạo nên nguồn vốn cần thiết phục vụ cho việc
đầu tư của Chính phủ.
Ngoài ra dân chúng có thể vay mượn trên TTTC để đáp ứng nhu cầu
chi tiêu và vì vậy cũng làm nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hoá, kích thích
sản xuất phát triển.
- Tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, trên cơ sở đó
làm tăng năng suất và hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế, góp phần thoả mãn,
giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu vốn.
Những người có vốn nhàn rỗi: có thêm cơ hội đầu tư, giúp họ có thể
làm sinh lời trên đồng tiền của họ qua việc gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần.

4
Những người đi vay: giúp họ có ý thức sử dụng đồng vốn vay một cách
hợp lý và hiệu quả. Như vậy mới có thể hoàn trả khoản vay, trả lãi và tạo một
phần thu nhập cho bản thân.
- Là môi trường quan trọng để thực hiện các điều tiết vĩ mô của nền

kinh tế.
Chính phủ là cơ quan quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng cách sử dụng
chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế. Ngân hàng
Trung ương có thể căn cứ vào nhu cầu của từng thời kỳ để điều tiết hoạt động
thị trường mở để khống chế sự co dãn của cung - cầu tiền tệ, tiến tới khống
chế quy mô và hướng đầu tư tín dụng tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế
phát triển, kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền.
Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị
trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp Chính
phủ ổn định tỷ giá hối đoái.
- Hoạt động trên thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế đối ngoại
+ Thông qua TTTC, các công ty và Chính phủ có thể bán cổ phần, phát hành
trái phiếu ra nước ngoài, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
+ TTTC rất nhạy cảm với các hoạt động kinh tế, thị trường tài chính thúc đẩy
nền kinh tế phát triển đồng thời nhìn vào sự phát triển của TTTC của một
quốc gia có thể đo được hiệu quả các hoạt động kinh tế của quốc gia đó.
VD: giá trị cổ phiếu: Thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với mức lợi nhuận mà
công ty đạt được.
Chỉ số chung của Thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng
kinh tế của mỗi quốc gia.
- Cải thiện đời sống cho người tiêu dùng bằng cách giúp họ lựa chọn
thời điểm mua sắm tốt hơn.
II. Cấu trúc của Thị trường tài chính


5
1.Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
Dựa vào căn cứ: Doanh nghiệp sẽ tài trợ cho vốn của mình như thế nào
(phương thức huy động vốn của chủ thể phát hành)

- Tăng nợ phải trả: tham gia vào thị trường Nợ
- Tăng vốn của chủ: tham gia vào thị trường Vốn cổ phần
a.Thị trường Nợ.
Khái niệm: Là thị trường tại đó diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi các
công cụ nợ.
Công cụ nợ (debt instruments): Là các thoả thuận mang tính chất hợp đồng
giữa chủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Với sự thoả thuận về số lượng tiền
vay, lãi suất vay, phương thức, thời điểm thanh toán và thời hạn vay (kỳ hạn
nợ).
Căn cứ vào kỳ hạn nợ: công cụ nợ dưới 1 năm; công cụ nợ ngắn hạn.
Công cụ nợ trên 1 năm: công cụ nợ trung và dài hạn
Đặc trưng của thị trường Nợ:
- Thể hiện quan hệ tín dụng

6
- Hàng hoá trên thị trường này đã được biết trước về lãi suất (biết được
về thu nhập và lợi tức trong tương lai), biết về phương thức thanh toán, thời
điểm thanh toán.
- Hàng hoá có thời hạn, ghi rõ ngày đáo hạn
- Giá cả ít biến động, rủi ro thấp, an toàn nhưng kém hấp dẫn
b. Thị trường Vốn cổ phần
Khái niệm: Là thị trường mà tại đó diễn ra các hoạt động mua bán cổ
phiếu (có thể là những cổ phiếu phát hành lần đầu hoặc được bán lại)
Cổ phiếu (share certificate): là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của doanh nghiệp.
Đặc trưng thị trường Vốn cổ phần
- Thể hiện quan hệ sở hữu
- Hàng hoá trên thị trường này không được biết trước về lợi tức
- Hàng hoá này không có thời hạn, tồn tại cùng thơi gian với doanh
nghiệp

- Giá cả có sự biến động lớn, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, rủi ro
cao, lợi nhuận kỳ vọng cao.
2. Thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Căn cứ: Dựa vào thời hạn thanh toán của các công cụ tài chính.
a.Thị trường tiền tệ:
Khái niệm: Là thị trường tại đó diễn ra các hoạt động mua bán và trao
đổi các công cụ nợ ngắn hạn.
Các chủ thể tham gia:
- NHTW: Tham gia mua bán trên thị trường này nhằm mục tiêu:
+ Điều tiết nền kinh tế
+ Ổn định giá trị đồng tiền
- Các NHTM: các NHTM tham gia thị trường này với tư cách là người mua
và người bán với mục đích là lợi nhuận.
- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng: Các công ty tài chính, các
quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ bảo hiểm…

7
- Các doanh nghiệp: tham gia với tư cách người bán là chủ yếu nhằm mục
đích tài trợ vốn cho mình và tham gia với tư cách là người mua với mục đích
lợi nhuận.
- Dân cư: tham gia chủ yếu với tư cách là ngưòi mua (người cho vay) với mục
đích lợi tức.
Đặc trưng thị trường tiền tệ:
- Hàng hoá trên thị trường này tất cả đều là ngắn hạn.
- Hàng hoá có tính thanh khoản cao.
- Giá cả ít biến động, độ an toàn lớn
Thị trường tiền tệ gồm: Thị trường tín dụng, thị trường liên ngân hàng,
thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán ngắn hạn
Thị trường tiền tệ làm tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài
chính, hỗ trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp và tài trợ ngắn hạn cho NSNN,

cung cấp lãi suất tham chiếu cho thị trường vốn và tăng khả năng kiểm soát,
cung ứng tiền của NHTW
b. Thị trường vốn
Khái niệm: Là thị trường tài chính tại đó diễn ra việc mua bán các
công cụ nợ dài hạn và cổ phiếu của các công ty cổ phần.
Các chủ thể tham gia: So với thị trường tiền tệ thì có hạn chế hơn, một
số chủ thể không được tham gia vào việc mua bán một số háng hoá nhất định
trên thị trường này.
- NHTW
- Các NHTM: bị hạn chế một phần hàng hoá: không được nắm cổ phiếu của
các công ty cổ phần
- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng: Được tham gia mua bán
nhiều hàng hoá hơn các NHTM, được tham gia mua bán cổ phiếu nhưng với
một lượng hạn chế. (giá trị cổ phiếu mua vào không được quá 5% so với tổng
tài sản Có)
Đặc trưng thị trường Vốn:
- Hàng hoá mua bán trên thị trường này là trung, dài hạn

8
- Hàng hoá có tính thanh khoản thấp hơn so với hàng hoá trên thị
trường tiền tệ
- Giá cả biến động mạnh, rủi ro cao
Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các khoản đầu
tư dài hạn cho chính phủ, các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn,
nhất là thị trường chứng khoán phát triển còn được xem là “ hàn thử biểu “ đo
“sức khoẻ “ của nền kinh tế
3. Thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2
Căn cứ: vào quá trình phát hành và lưu thông
a.Thị trường cấp 1 (primary market)
Khái niệm: Là thị trường tài chính diễn ra sự phát hành lầu đầu của các

chứng khoán.
Đặc trưng:
- Phạm vi hoạt động hẹp, thông thường chỉ có 2 chủ thể tham gia
+ Chủ thể phát hành: gồm các cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ, kho
bạc nhà nước. Ngoài ra còn có các công ty chuyên nghiệp như các NHTM,
công ty chứng khoán có uy tín lớn.
+ Những người mua đầu tiên: các chủ thể kinh doanh và đầu tư
- Quy mô nhỏ
- Gắn với vốn chủ phát hành
Ý nghĩa :
- Thị trường cấp 1 tạo hàng hoá và tiền đề cho thị trường cấp 2
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cần huy động vốn mở rộng kinh
doanh, giúp chính phủ giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách và huy động vốn
đầpu tư kết cấu hạ tầng.
b. Thị trường cấp 2 (secondary market)
Khái niệm: Là thị trường tài chính diễn ra các hoạt động mua, bán,
trao đổi các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trường cấp 1
(gồm có thị trường hối đoái, thị trường tài chính kỳ hạn: futures
markets và thị trường chọn lựa: options)

9
Đặc trưng:
- Phạm vi hoạt động rộng, có nhiều chủ thể tham gia vào thị trường
này.
- Quy mô lớn
- Không gắn với vốn chủ phát hành
Ý nghĩa:
- Tạo điều kiện cho thị trường cấp 1 phát triển
- Giá cả hàng hoá trên thị trường cấp 2 góp phần xác định giá cả trên
thị trường cấp 1

 Hai thị trường này có tác động tương hỗ lẫn nhau. Thị trường cấp 1 sản
xuất ra công cụ tài chính còn thị trường cấp 2 khẳng định tính thanh
khoản của các công cụ này.
Hàng hoá được mua bán, trao đổi trên thị trường cấp 2 thông qua sở giao
dịch và thị trường trao tay.
• Sở giao dịch (Stock Exchange): Hàng hoá được mua bán một
cách công khai, có tổ chức và có địa điểm cụ thể.
VD: Thị trường Giao dịch Chứng khoán Mỹ và New York
• Thị trường trao tay OTC (Over the Counter Market): Các nhà
buôn tại các địa điểm khác nhau có một danh mục chứng khoán
và họ sẵn sàng đứng ra mua và bán chứng khoán theo kiểu mua
bán thẳng cho ai đến và chấp nhận giá của họ. Thị trường này có
tính cạnh tranh cao và không khác nhiều so với Trung tâm giao
dịch có tổ chức nói trên.
4. Thị trường chính thức và không chính thức
Ngoài ra nếu căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước còn có:
a.Thị trường chính thức (Formal Market)
Là thị trường mà tuân thủ 100% quy định của Nhà nước. VD: các NHTM.
Thị trường này có quy mô lớn và khá an toàn
b. Thị trường không chính thức (Informal Market)
Là thị trường mà không tuân theo hoàn toàn các quy định của Nhà nước.

10
VD: Các hiệu cầm đồ.
Tuy nhiên trên thực tế, cả hai thị trường này cùng song song tồn tại vì
thị trường chính thức vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của các chủ thể trong
nền kinh tế, việc tiếp cận với thị trường chính thức còn gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy mà thị trường không chính thức tồn tại bên cạnh, gắn liền với thị
trường chính thức như một sự bổ xung. Tuy nhiên đây là một thị trường
không chịư sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ do đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Vì vậy phải kiểm soát sát sao thị trường này nhằm đảm bảo an toàn cho các
hoạt động diễn ra trên thị trường.
III. Các công cụ tài chính
Các công cụ tài chính được hiểu là những quyền đòi nợ tài chính và có
thể được phân loại thành các công cụ của từng thị trường.
Nếu căn cứ vào thời hạn:
1. Các công cụ trên thị trường tiền tệ.
a. Tín phiếu kho bạc (tín phiếu Chính phủ) (treasury bill )
Là công cụ vay nợ ngắn hạn, được phát hành với kỳ hạn thanh toán 3
tháng, 6 tháng hoặc dưới 1 năm, có tính lỏng cao, được trả với mức lãi suất
cố định và được hoàn trả vốn khi đến hạn thanh toán. Trên thực tế, chúng
được thanh toán lãi do việc bán lần đầu có chiết khấu, tức là với giá thấp
hơn so với khoản tiền đã định được thanh toán khi đáo hạn. Đây là công cụ
an toàn nhất do Chính phủ luôn đáp ứng được các món nợ bằng cách tăng
thuế hay phát hành thêm tiền. Tín phiếu kho bạc thường được NHTW
dùng làm công cụ điều tiết lượng tiền cung ứng và chủ yếu do các ngân
hàng nắm giữ để thu lợi tức và bảo đảm khả năng thanh khoản , phần còn
lại do các hộ gia đình, các công ty và các trung gian tài chính khác nắm
giữ.
b. Thương phiếu: (commercial paper) Chỉ xuất hiện trong thương mại.
Đây là giấy xác nhận một khoản nợ trong thương mại gồm các hoạt
động trong tín dụng thương mại và cung ứng dịch vụ. Đây là công cụ tài

11
chính ngắn hạn. Thương phiếu chủ yếu được giao dịch trên thị trường sơ
cấp
Thương phiếu gồm có 2 loại:
+ Hối phiếu: (bill of exchange) : là một giấy ghi nợ do người bán ký phát
trao cho ngưòi mua trong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất
định khi đến hạn cho người bán hoặc bất kỳ người nào thụ hưởng hối

phiếu.
+ Lệnh phiếu: (promissory note): là một giấy nợ do người mua ký phát
trao cho người bán, trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định
khi đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng lệnh phiếu.
c. Các loại chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn CD (certificate deposit)
Là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền. Nó thanh toán lãi
hàng năm theo một khoản đã định và khi đến kỳ hạn thanh toán thì hoàn
trả hết giá mua ban đầu. Chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi hầu hết các
NHTM và có thể được bán lại ở thị trường thứ cấp
d. Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement)
Thực tế đây là những món vay ngắn hạn. Khi các NHTM gặp khó khăn
về tiền mặt trong việc thanh toán, nhưng trong tay họ lại đang giữ một
lượng chứng khoán. Các NHTM có thể đem bán lượng chứng khoán này
với một thời hạn nhất định. Tại thời điểm bán có hai hợp động được ký kết
và giá bán được xác định ngay.
NHTM Mỹ còn có “Giấy tờ phụ” được dùng để vay nóng của dân
chúng khi quá kẹt tiền mặt. Đây là công cụ mang lại lãi suất cao nhưng
chứa đựng tiềm năng rủi ro cũng rất lớn.
e. Hối phiếu được Ngân hàng chấp nhận (Chấp phiếu )
Là một hối phiếu ngân hàng, do một công ty phát hành được thanh toán
trong thời hạn sắp tới và được ngân hàng bảo đảm với một khoản lệ phí
bằng cách ngân hàng đóng dấu: “đã chấp nhận” lên hối phiếu. Hối phiếu
của công ty sẽ được tăng thêm khả năng chấp nhận khi mua hàng hoá bởi
đã có sự bảo đảm về việc thanh toán, ngay cả khi công ty phá sản thì hối

12
phiếu vẫn được ngân hàng thanh toán đầy đủ. Chấp phiếu thường được bán
lại trên thị trường thứ cấp với giá thấp hơn, và như vậy có tác dụng tương
tự như tín phiếu kho bạc.
f. Các khoản vay ngắn hạn ở nước ngoài.

Là các khoản vay ngắn hạn có tính lỏng cao, có thể mang với tiền mặt.
2. Các công cụ trên thị trường vốn.
Các công cụ trên thị trường vốn có thời gian đáo hạn từ một năm trở lên.
Các công cụ này có mức độ biến động giá mạnh hơn và có tính thanh khoản
thấp hơn các công cụ trên thị trường tiền tệ do đó nó cũng có mức rủi ro cao
hơn và lợi tức cao hơn.
a. Cổ phiếu (stocks) : là một trái quyền xác nhận quyền sở hữu và lợi ích
hợp pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của một chủ thể nào đó trong
công ty cổ phần. Căn cứ vào nhiều tiêu thức người ta chia cổ phiếu thành
các dạng sau:
• Căn cứ vào tính ưu đãi
- Cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu thông thường
• Căn cứ vào phương thức góp vốn
- Cổ phiếu hiện kim: phát hành cho những người góp vốn bằng
tiền.
- Cổ phiếu hiện vật: phát hành cho những người góp vốn bằng tài
sản như máy móc thiết bị.
• Căn cứ vào số lần góp vốn:
- Cổ phiếu góp vốn 1 lần
- Cổ phiếu góp vốn nhiều lần
• Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng
- Cổ phiếu có khả năng chuyển nhượng
- Cổ phiếu không có khả năng chuyển nhượng
• Căn cứ vào việc ghi danh trên cổ phiếu
- Cổ phiếu ghi danh

13
- Cổ phiếu không ghi danh
b. Trái phiếu (bonds)

Là một giấy xác nhận một khoản nợ và người nắm giữ nó được hưởng
một trái quyền. Căn cứ vào nhiều tiêu thức người ta chia trái phiếu thành
nhiều loại.
• Căn cứ vào chủ thể phát hành
- Trái phiếu Chính phủ (government bond) là các trái phiếu do
Chính phủ phát hành như trái phiếu kho bạc, công trái quốc gia…
- Trái phiếu công ty (corporate bond) là các trái phiếu dài hạn do
các công ty phát hành với lãi suất cao, giúp công ty huy động
một khối lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn.
Khả năng bán của trái phiếu Chính phủ lớn hơn so với trái phiếu công
ty. Việc phát hành trái phiếu Chính phủ luôn chiếm một tỷ trọng lớn.
• Căn cứ vào tính chất kinh tế:
- Trái phiếu vay đơn: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được lấy
gốc và lãi vào cùng một ngày mãn hạn
- Trái phiếu hoàn trả cố định: là trái phiếu mà người mua sẽ được
trả lãi vào cuối mỗi kỳ.
- Trái phiếu giảm giá (trái phiếu chiết khấu)(discount bond) là trái
phiếu là để trả thu nhập cho người mua, người ta bán trái phiếu với
mệnh giá thấp hơn mệnh giá của nó.
- Trái phiếu Coupon: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được thanh
toán số lợi nhuận ở dạng tiền coupon cố định hàng năm và đến năm
cuối cùng của kỳ hạn sẽ nhận nốt số coupon cuối cùng và toàn bộ tiền
vốn.
Ngoài ra còn có trái phiếu Consol: đây là loại trái phiếu tồn tại vĩnh
viễn, nó không có ngày đáo hạn.
• Căn cứ vào khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu có thể chuyển đổi

14

• Căn cứ vào việc ghi danh trên trái phiếu
- Trái phiếu vô danh
- Trái phiếu ghi danh
c. Các loại chứng chỉ tiền gửi trung và dài hạn
d. Các món vay thế chấp (mortgage)
Đây là những món tiền cho các cá nhân hoặc các công ty kinh doanh
vay để đầu tư. Những công trình kiến trúc, nhà cửa, đất đai được dùng làm
vật thế chấp cho các món vay. Tại những công ty của các nước phát triển,
hình thức này chiếm một phần lớn trong các nguồn tài trợ.
Nếu căn cứ vào thu nhập công cụ tài chính chia làm 3 loại:
1)Công cụ tài chính mang lại thu nhập cố định
Căn cứ vào lãi suất ghi trên công cụ đó. Vd: công cụ nợ như trái phiếu,
tín phiếu, kì phiếu
Những loại này có mức an toàn cao nhưng lại không hấp dẫn. Tuy
nhiên nó đáp ứng nhu cầu cho những nhà đầu tư không thích rủi ro và thích
hợp với thời kì mà thị trường chứng khoán chưa phát triển
2)Công cụ tài chính mang lại thu nhập biến đổi
Đặc trưng là cổ phiếu. Gồm có:
- Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu mà thường được hưởng với một mức cổ
tức nhất định. Loạ cổ phiếu này chỉ được phát hành với một tỷ lệ nhất định
khi công ty mới thành lập và thị giá của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của lãi
suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty
Trên thực tế người sở hữu cổ phiếu ưu đãi sẽ có thu nhập không đổi trong
chừng mực của tỷ suất lợi nhuận ( P’)
Nếu P’≤ 10% thì thu nhập không đổi
P’> 10% thì thu nhập sẽ được điều chỉnh theo hướng:
Nếu P’ < - 10% thì trừ bớt thu nhập
P’ > 10% thì cộng thêm thu nhập
- Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu có thu nhập không ổn định, lợi
tức biến động theo sự thay đổi lợi nhuận công ty. Thị giá cổ phiếu thường rất


15
nhạy cảm với các nhân tố như sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự thay đổi lãi
suất…Thị giá cổ phiếu thông thường biến động theo chiều nghịch với biến
động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ vay nợ dài hạn lãi suất cố
định và lãi suất huy động tiền gửi ngân hàng
3) Các công cụ tài chính vừa mang lại thu nhập cố định vừa mang lại thu nhập
biến đổi
Điển hình cho loại công cụ này là:
* Phiếu nợ chuyển đổi: là loại trái phiếu mà người sở hữu nó có thể chuyển
đổi thành cổ phiếu thường bất kỳ lúc nào (convertible bond)
Phiếu nợ chuyển đổi được sử dụng như một giải pháp để thúc đẩy tiến trình
cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
* Hợp đồng nợ: Có quy mô rất lớn, có khả năng được chuyển đổi thành cổ
phiếu và khi được chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ có những quy định khác biệt:
chỉ được chuyển đổi trong thời gian nhất định và chỉ được chuyển đổi một
phần trong hợp đồng nợ. Hợp đồng nợ được sử dụng như một công cụ nợ, có
tính hấp dẫn mà vẫn tránh được việc mất đi quyền sở hữu công ty
IV. Điều hành thị trường tài chính
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành hoạt động của
thị trường tài chính
1. Ban hành các quy định buộc các công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin
cho các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính. Đảm bảo thông tin
minh bạch, chuẩn mực hoá hệ thống giám sát, kế toán, kiểm toán
- Chính phủ yêu cầu các công ty phát hành chứng khoán phải cung cấp
một số yêu cầu thông tin về doanh số, tài sản, tình hình kinh doanh lỗ,
lãi…cho các nhà đầu tư nhằm tránh các hoạt động gian lận gây rủi ro
- Thành lập các kênh cung cấp thông tin cho tất cả những ai có yêu cầu
- Thành lập các công ty kinh doanh thông tin
2. Đảm bảo sự lành mạnh của các tổ chức tài chính trung gian


16
Để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư và những người gửi tiền, chính phủ
ban hành các quy định bắt buộc đối với các tổ chức tài chính trung gian
như sau:
- Đưa ra các điều kiện về việc thành lập các tổ chức tài chính trung gian:
có những ràng buộc về mặt pháp lý, quy định tư cách của người đứng ra thành
lập các tổ chức trung gian tài chính.
VD: có những quy định tối thiểu về vốn
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát các hoạt động của các trung gian tài
chính thông qua việc yêu cầu các trung gian tài chính thường xuyên phải báo
cáo kết quả hoạt động của mình.
- Quy định quy mô và phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính:
khoanh vùng phạm vi tham gia, tránh những lĩnh vực hoạt động chứa nhiều
rủi ro…
- Có những quy định về việc thực hiện bảo hiểm cho những người gửi tiền
tại các trung gian tài chính.
3) Thực hiện tự do hoá tài chính và tự do hoá tài khoản vốn một cách thận
trọng, theo một trình tự thích hợp
Tự do hoá tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát
triển và chuyển đổi hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế nhưng tự do hoá
tài chính cũng tiềm chứa nhiều rủi ro có thể gây khủng hoảng. Vì vậy , các
nước đang phát triển và chuyển đổi cần phải sớm giải quyết những vấn đề nội
tại của hệ thống tài chính trong nước trước khi tự do hoá tài chính quốc tế.
Vấn đề tự do hoá tài chính quốc tế chỉ thành công khi các nước này xây dựng
một thị trường tài chính trong nước lành mạnh và hiệu quả. Tự do hoá không
theo một trình tự hợp lý có thể dẫn tới các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ và gây bất ổn kinh tế - xã hội
V. Quốc tế hoá thị trường tài chính
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay thì việc quốc tế hoá các thị trường

tài chính là một xu thế quan trọng. Để xây dựng một bức tranh về toàn cầu
hoá thị trường tài chính trên thế giới chúng ta sẽ nghiên cứu tới các thị trường

17
trỏi khoỏn quc t, th trng trỏi khoỏn Chõu u v th trng c phiu th
gii.
1. Th trng trỏi khoỏn quc t v Chõu u
a. Th trng trỏi khoỏn quc t: L th trng trỏi khoỏn m mt ch th
ca quc gia ny phỏt hnh trỏi khoỏn trờn mt nc khỏc v c gi tờn
theo ng tin ca nc ú
VD: M bỏn trỏi khoỏn nc ngoi Anh bng ng bng Anh
Trờn thc t, vo th k 19, mt t l % ln ca ng st M c xõy
dng v ti tr bng cỏch bỏn cỏc trỏi phiu nc ngoi ti Anh.
b. Th trng trỏi khoỏn Chõu u (Euro bond): L trỏi khoỏn c gi tờn
n v theo mt ng tin khỏc vi ng tin ti nc m nú c bỏn
VD: 1 trỏi khoỏn c gi tờn n v theo ng ụla M ($) li c bỏn
ti London
Hin nay th trng trỏi khoỏn Chõu u ang chim u th v cú mc tng
trng rt nhanh.
2. Th trng c phiu th gii
Trc õy, th trng c phiu M vn c coi l th trng c phiu
ln nht th gii nhng cho n thi gian ny, M khụng cũn l quc gia luụn
dn u v th trng c phiu na. Bt u t gia nhng nm 1980, giỏ tr
cỏc c phiu mua bỏn Nht ó vt nhiu ln giỏ tr c phiu c mua bỏn
M.
VI. Th trng ti chớnh Vit Nam
1. Tổng quan về thị trờng tài chính Việt Nam.
1.1. Thành tựu và bất cập trong phát triển thị trờng tài chính
Sau gần 20 năm đổi mới, hệ thống tài chính Việt Nam đã có bớc
chuyển biến từ cơ chế hành chính bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị

trờng, có nhiều cải cách về hệ thống thuế, đổi mới hệ thống Ngân hàng và
tiền tệ, phát triển thị trờng bảo hiểm, xây dựng thị trờng chứng khoán. Đến
nay, nớc ta đã có một cấu trúc thị trờng tài chính khá đầy đủ và hiệu quả.
Cụ thể đợc biểu hiện ở các khía cạnh sau.

18
Một là: Các cấu thành cơ bản của TTTC đã đợc hình thành. Nhiều
định chế trung gian mới nh công ty bảo hiểm nhân thọ, công ty chứng khoán,
công ty tài chính đợc thành lập và đi vào vận hành có hiệu quả góp phần
tạo ra những điều kiện và lợi thế mới để bổ sung, hoàn thiện các yếu tố thị
trờng phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nớc.
Hai là: Thị trờng tiền tệ từng bớc phát triển hoàn thiện theo xu hớng
năng động, tích cực, là cơ sở quan trọng để NHNN áp dụng một cách có hiệu
quả hơn các công cụ tiền tệ gián tiếp, thực thi linh hoạt chính sách tiền tệ, ổn
định nền kinh tế. Thị trờng chứng khoán đợc thành lập và ít nhiều cũng có
những đóng góp ban đầu trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn khác cho
nền kinh tế. Hệ thống Ngân hàng và tín dụng Ngân hàng đã và đang có những
thay đổi căn bản theo hớng tích cực, nâng cao năng lực cạnh tranh của các
NHTM và tiến tới tiếp cận với các hình thức kinh doanh của Ngân hàng hiện
đại, theo thông lệ quốc tế.
Ba là: TTTC đợc vận hành trong khung khổ pháp lý xác định, áp dụng
các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính minh
bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát
Bốn là: Năng lực quản lý của các cơ quan trực tiếp quản lý TTTC đợc
nâng cao. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý hệ thống tài chính và TTTC
cũng nh với các bộ, ngành liên quan trong xử lý các vấn đề tác nghiệp đã
chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì TTTC Việt Nam vẫn cha đáp ứng đợc
những đòi hỏi của đời sống kinh tế xã hội và yêu cầu phát triển kinh doanh.
Cụ thể là:

Một là: TTTC nói chung và các thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn nói
riêng còn ở trình độ tơng đối thấp so với nhiều nớc đang phát triển. Phần
lớn các hoạt động giao dịch chỉ diễn ra trên thị trờng sơ cấp, thị trờng thứ
cấp cha thực sự phát triển. Mối liên kết, tác động qua lại giữa các thị trờng
trong hệ thống còn thiếu chặt chẽ, năng lực giám sát và quản lý thị trờng
cha theo kịp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Khuôn khổ pháp lý cho thị trờng
và các giao dịch tài chính cha hoàn thiện.

19
Hai là: Các định chế tài chính và các công cụ tài chính hiện đại còn
cha nhiều. Đặc biệt là các công cụ tài chính phát sinh nh chứng quyền,
quyền mua trớc còn rất ít đợc sử dụng.
Ba là: Hệ thống tài chính, nhất là hệ thống các NHTM còn tiềm ẩn
nhiều rủi ro, tỷ lệ vốn cho vay trên vốn tự có cao, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay
trung, dài hạn quá mức an toàn cho phép. (60% trong khi mức an toàn là 25
30%), tỷ lệ nợ xấu vợt mức an toàn theo thông lệ quốc tế. Chúng ta sẽ đi sâu
nghiên cứu lần lợt các thị trờng trong TTTC Việt Nam.
1.2. Các thị trờng chủ yếu trong TTTC Việt Nam
a. Thị trờng tiền tệ:
Bao gồm: Thị trờng nội tệ liên ngân hàng, thị trờng ngoại tệ liên ngân
hàng, thị trờng tín phiếu kho bạc, nghiệp vụ thị trờng mở và thị trờng mua
bán các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
* Thị trờng nội tệ liên ngân hàng
Thị trờng nội tệ liên ngân hàng Việt Nam đợc thành lập năm 1993.
Đây là nơi thực hiện việc cho vay và đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng nhằm
mục đích bù đắp thiếu hụt nhu cầu vốn khả dụng và là nơi tạo điều kiện để các
NHTM tối đa hoá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của mình. NHNN tham gia vào
thị trờng này với t cách là thành viên và tác động lên thị trờng để thực thi
chính sách tiền tệ.
Trong giai đoạn đầu thành lập, các NHTM lớn thực hiện các giao dịch

tập trung 1 phiên/tuần thông qua tài khoản tại NHNN. NHNN vừa là ngời tổ
chức, vừa là thành viên của thị trờng. Tuy vậy, trong giai đoạn này vai trò
trung gian của NHNN cha phát huy hết tác dụng, nhất là NHNN đã không
thực hiện đợc một cách hiệu quả vai trò điều hành, can thiệp thị trờng.
Trong giai đoạn 1994 1998, hoạt động của thị trờng nội tệ liên ngân
hàng trở nên linh hoạt và tự do hơn. Các thành viên thực hiện giao dịch trực
tiếp với nhau vào tất cả các ngày làm việc trong tuần mà không phải thông qua
NHNN và trung tâm giao dịch.
Từ 1998 đến nay hoạt động của thị trờng từng bớc đợc cải thiện nhờ
có:

20
+ Khung khổ pháp lý hoàn thiện hơn: sự ra đời của luật các Tổ chức
tính dụng.
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ Ngân hàng đợc hiện đại
hoá.
+ Việc tự do hóa dần lãi suất đã hấp dẫn các tổ chức tín dụng tham gia
thị trờng.
+ Các công cụ mới nh nghiệp vụ thị trờng mở (từ 2000), vay thấu chi,
vay qua đêm và thanh toán bù trừ điện từ (2002) đợc đa vào áp dụng và sử
dụng linh hoạt hơn.
Thị trờng nội tệ liên Ngân hàng đã từng bớc hoàn thiện và có những
tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và
điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Doanh số giao dịch trên thị trờng nội tệ liên ngân hàng
1998 2002
(tỷ VND)
Loại hình tổ
chức TD


1998

1999

2000

2001

6 tháng 2002
NTTM Nhà
nớc
84.456

102.220

133.582

153.156

103.261

NHTM cổ
phần
3.404

15.
235

12.578


22.545

9.584

NH liên
doanh, chi
nhánh NH
nớc ngoài
52.879

44.379

44.562

45.215

17.893

Tổng số 140.739 161.834 190.722 220.916 130.737
Nguồn: NHNN

* Thị trờng ngoại tệ liên Ngân hàng.

21
Thị trờng ngoại tệ liên Ngân hàng ra đời ngày 20/10/1994 theo Quyết
định số 203/QĐ-NH. Kể từ khi chính thức đi vào hoạt động đến nay, thị
trờng ngoại tệ liên ngân hàng đã có những bớc phát triển trên nhiều mặt,
đóng vai trò là cầu nối cung cầu về ngoại tệ giữa các tổ chức tín dụng kinh
doanh ngoại tệ. Doanh số giao dịch trên thị trờng ngày càng tăng. Số lợng

thành viên tham gia thị trờng tăng từ 23 lên tới 59 thành viên vào năm 2003,
trong đó NHNN là ngời điều hành thị trờng và là ngời mua bán cuối cùng
can thiệp thị trờng khi cần thiết. Trong các giao dịch trên thị trờng ngoại tệ
liên Ngân hàng thì giao dịch giữa các NHTM và NHNN là chủ yếu, chiếm
khoảng 70% tổng giá trị giao dịch trên thị trờng. Tuy nhiên, những giao dịch
này thờng vẫn diễn ra theo 1 chiều. Trên thị trờng hình thành 2 nhóm Ngân
hàng là nhóm cung ứng ngoại tệ (chủ yếu là các NHTM nhà nớc) và nhóm
cần ngoại tệ( chủ yếu là các NHTM nhỏ). Bên cạnh thị trờng ngoại tệ liên
Ngân hàng, hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các tổ chức tín dụng và khách
hàng diễn ra khá sôi động, tuy nhiên các hình thức mua bán còn sơ khai, chủ
yếu là hoạt động mua, bán giao ngay. Năm 1998, nghiệp vụ kì hạn chính thức
đợc áp dụng, ngày 17/7/2001 nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ cũng bắt đầu đợc
thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn bằng VNĐ cho các ngân hàng.
* Thị trờng tín phiếu khoa bạc.
Thị trờng tín phiếu kho bạc Nhà nớc bắt đầu hoạt động từ năm 1995
và là kênh huy động vốn với chi phí thấp nhất cho NSNN. Đặc biệt, từ
T7/2000, thị trờng tín phiếu kho bạc cùng với tín phiếu NHNN đã trở thành
nguồn cung cấp hàng hoá chủ yếu cho nghiệp vụ thị trờng mở.
Tín phiếu kho bạc do Nhà nớc phát hành với lãi suất và thời hạn đợc
ấn định trớc, nhằm huy động vốn để bổ sung NSNN.
Hiện nay thị trờng có 44 thành viên, là các tổ chức tín dụng, công ty
bảo hiểm, quỹ đầu t. Mặc dù có tới 44 thành viên song số lợng thành viên
thực sự tham gia đấu thầu và thắng thầu rất ít (chỉ có 5 thành viên). Mỗi phiên
giao dịch chỉ có từ 1 đến 5 thành viên, chủ yếu là những thành viên có vốn lớn
nh các NHTM nhà nớc. Năm 2002, khối lợng trúng thầu của NHTM nhà

22
nớc là 98%. Các NHTM cổ phần, các tổ chức tài chính có vốn nhỏ và lãi suất
huy động cao thờng khó có khả năng tiếp cận với loại đầu t này.
Kì hạn của tín phiếu kho bạc nhà nớc ta cha thực sự đa dạng, thông

thờng với các kì hạn là 365 ngày, 364 ngày, 237 ngày và 182 ngày. Kì hạn
nh vậy tuy giúp Bộ tài chính đợc thuận tiện trong việc quản lý song lại kém
hấp dẫn đối với các NHTM. Lý do mà các NHTM đầu t vào tín phiếu kho
bạc nh là một loại chứng khoán ngắn hạn, vừa đảm bảo tính khả dụng vừa tối
đa đợc hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các NHTM nớc ta thì kì hạn 1 năm là
tơng đối dài, đặc biệt là trong điều kiện mà thị trờng thứ cấp cho tín phiếu
kho bạc lại cha phát triển.
* Nghiệp vụ thị trờng mở (OMO) (Open Market Operation)
Nghiệp vụ thị trờng mở bắt đầu đợc thực hiện từ T7/2000 và kể từ lúc
đó đến nay (2003), thị trờng mở đã có 22 thành viên tham gia, bao gồm 4
NHTM Nhà nớc, 10 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng liên doanh, 5 chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài, 1 Công ty tài chính và Quỹ tín dụng Nhân dân Trung
Ương. Tuy nhiên trong số 22 thành viên chỉ có 5 thành viên thực sự tham gia
giao dịch và thờng chỉ có 2 đến 3 thành viên tham gia mỗi phiên giao dịch.
Số phiên giao dịch ngày càng tăng, từ 10 ngày/ lần lên 1 tuần/lần rồi 2 lần/
tuần và thanh toán trong ngày.
Hàng hoá đợc mua bán trên thị trờng mở chủ yếu là tín phiếu kho bạc
Nhà nớc. Hình thức đấu thầu là đấu thầu lãi suất và đấu thầu khối lợng.
Tuy nhiên, doanh số hoạt động của thị trờng mở vẫn cha lớn, cha
vợt quá 3% tổng phơng diện thanh toán và nhỏ hơn nhiều lần so với doanh
số hoạt động của thị trờng nội tệ liên ngân hàng.
Thị trờng mua bán có giấy tờ có giá trị ngắn hạn khác.
Đây là thị trờng thực hiện việc mua bán lại các giấy tờ có giá trị ngắn
hạn khác giữa các định chế tài chính với nhau và giữa các định chế tài chính
với khách hàng. Thị trờng này còn rất mờ nhạt ở Việt Nam, hàng hoá giao
dịch trên thị trờng còn quá ít. Thơng phiếu hầu nh cha đợc sử dụng do
cho đến nay khung pháp lý cho công cụ này vẫn cha hoàn tất. Các hợp đồng
mua lại mới chỉ đợc thực hiện giữa NHNN với các tổ chức tín dụng mà cha

23

có văn bản nào cho việc giao dịch giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng.
Công cụ phát sinh, quyền chọn bắt đầu đợc thực hiện từ năm 2003. Một số
Ngân hàng có phát hình kì phiếu để huy động ngắn hạn nhng chủ yếu là phát
hành kì phiếu ghi danh nên không trao đổi đợc.
b. Thị trờng vốn:
* Thị trờng cổ phiếu:
Thị trờng cổ phiếu tập trung, trung tâm giao dịch chứng khoán(
TTGDCK) thành phố HCM đợc khai trơng ngày 20/7/2000. Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội đợc khai trơng vào ngày 1/3/2005.
TT GDCK thành phố Hồ Chí Minh đợc đa vào hoạt động với công
suất thực hiện 300.000 kênh trong 1 phiên giao dịch, mở cửa 3 ngày/ tuần và
thực hiện ghép lệnh 2 lần/ phiên. Trải qua 4 năm hoạt động, từ một thị trờng
ban đầu chỉ có 4 công ty niêm yết với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 387 tỷ
VND, TTGDCK đã thu hút đợc 24 công ty (đến đầu năm 2004) và tổng giá
trị cổ phiếu niêm yết là 1086 tỷ VNĐ, tăng gần gấp 3 lần số vốn cổ phần ban
đầu.
Chính phủ bắt đầu tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp từ năm
1992, cho tới năm 2004 có 2.100 công ty đợc cổ phần hoá. Nhiều công ty cổ
phần có đủ điều kiện niêm yết song không muốn niêm yết trên thị trờng cổ
phiếu tập trung. Hầu hết các công ty niêm yết trên thị trờng có quy mô nhỏ,
nhiều công ty còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý và cha sẵn lòng công bố
thông tin.
Các công ty niêm yết cha sử dụng thị trờng chứng khoán nh là một
kênh quan trọng để huy động vốn cho đầu t dài hạn. Các nhà đầu t có tổ
chức tham gia vào các giao dịch cổ phiếu trên thị trờng này là rất hạn chế,
phần lớn là các nhà đầu t cá nhân. Đến ngày 30/6/2003 mới có khoảng
14.500 tài khoản giao dịch, trong đó có 91 nhà đầu t trong nớc có tổ chức
và 35 nhà đầu t nớc ngoài có tổ chức. Sự tham gia của các nhà đầu t có tổ
chức nh công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu t còn rất ít. Thị trờng
chứng khoán Việt Nam còn đang ở giai đoạn rất sơ khai và non trẻ.

* Thị trờng trái phiếu:

24
Trái phiếu đợc phát hành tại Việt Nam bao gồm 3 loại: Trái phiếu
chính phủ, trái phiếu đầu t (công trình) và trái phiếu công ty. Bên cạnh hình
thức đầu t truyền thông nh đầu t từ NSNN, từ vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA), từ vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), các kênh huy động vốn
đã phong phú và đa dạng hơn, đa tổng lợng vốn hoạt động qua thị trờng
đạt tới 230.000 tỷ đồng, chiếm 35% GDP. Một trong những hình thức đóng
vai trò quan trọng là trái phiếu chính phủ với lợng huy động đạt trên 24.000
tỷ đồng cho các dự án, giao thông thuỷ lợi lớn. Các loại trái phiếu đợc chính
phủ phát hành bao gồm trái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu t.
- Trái phiếu kho bạc:
Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu kho bạc theo các phơng
thức:
Bán lẻ qua hệ thống kho bạc Nhà nớc, đấu thầu qua NHNN, đấu thầu
qua thị trờng giao dịch chứng khoán tập trung, bảo lãnh phát hành và đại lý
phát hành.
- Trái phiếu đầu t:
Đợc phát hành để huy động vốn sử dụng vào các công trình đầu t của
chính phủ hoặc của các tỉnh và thành phố. Trái phiếu công trình chủ yếu đợc
bán lẻ qua hệ thống kho bạc Nhà nớc.
- Trái phiếu công ty: Cho đến nay, trái phiếu công ty đợc phát hành
còn rất ít. Một số tổ chức tài chính đã phát hành trái phiếu ra công chúng nh
Công ty Tài chính quốc tế Việt Nam (VILC) phát hành 20 tỷ VNĐ trái phiếu
thông qua Ngân hàng Công thơng Việt Nam làm đại lý phát hành, thời hạn 2
năm (2000). Tuy nhiên kỹ thuật phát hành còn hạn chế nên các trái phiếu này
không đợc chuẩn hoá, chỉ giống nh kỳ phiếu có thời hạn và không đợc
giao dịch trên TTCK. Các DNNN mặc dù có nhiều cầu lớn về vốn song ít phát
hành trái phiếu để huy động vốn dài hạn. Tơng tự nh các DNNN, các Công

ty thành lập theo Luật doanh nghiệp còn ít chú trọng đến việc phát hành trái
phiếu. Đối với trái phiếu quốc tế thì cho đến nay vẫn cha có NHTM nhà nớc
và DNNN nào phát hành.

25
Các loại trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu công ty đợc niêm yết
tại thị trờng giao dịch chứng khoán còn ít. (Cuối năm 2003 có 100 loại trái
phiếu chính phủ, 2 loại trái phiếu Công ty và 1 loại trái phiếu địa phơng đợc
giao dịch và niên yết). Trong số các trái phiếu kho bạc đang lu hành, chỉ có
trái phiếu kho bạc thời hạn 5 năm đợc niêm yết tại TTGDCK. Cha có trái
phiếu công trình nào đợc niêm yết và giao dịch tại thị trờng giao dịch tập
trung. Trên TTGDCK, trái phiếu ít đợc giao dịch hơn cổ phiếu. Các giao dịch
trái phiếu chỉ chiếm khoảng trên dới 10% tổng số các giao dịch trên thị
trờng này. Phần lớn các loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty đợc
giao dịch trên thị trờng phi chính thức. Hiện tại, Việt Nam còn thiếu nhiều
điều kiện để phát triển thị trờng trái phiếu công ty (ngay ở nhiều nớc
ASEAN thị trờng này cũng còn nhỏ bé và còn nhiều khiếm khuyết).
2. Các điều kiện và giải pháp phát triển hoàn thiện từng thị trờng.
Phát triển và hoàn thiện TTTC là một quá trình liên tục, lâu dài và đòi
hỏi phải thực thi rất nhiều giải pháp đồng bộ. Để thị trờng tài chính phát triển
đồng bộ, lành mạnh cần phải bảo đảm các điều kiện thiết yếu nh:
* Các điều kiện để phát triển TTTC:
- Các công cụ tài chính và các định chế tài chính phải đa dạng, phong
phú, trong đó có sự tham gia của nhiều định chế tài chính lớn, có uy tín, có vai
trò đặc biệt quan trọng.
- Phải có một cơ chế lãi suất và tỷ giá đủ linh hoạt, phản ánh đúng quan
hệ thị trờng.
- Xây dựng và phát triển mạng lới thông tin, đảm bảo hệ thống thông
tin minh bạch, đầy đủ và kịp thời.
- Hệ thống pháp luật hành chính, có hiệu lực, bảo vệ đợc quyền lợi của

các nhà đầu t.
- Môi trờng kinh tế xã hội phải ổn định, qua đó tạo niềm tin cho các
nhà đầu t trong và ngoài nớc.
* Những giải pháp để phát triển TTTC là:

×