1
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Số: 193 /BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Buôn Ma Thuột, ngày 02 tháng 12 năm 2010
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG – AN NINH NĂM 2010
VÀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2011
(Báo cáo này thay cho Báo cáo số 163/BC-UBND ngày 02/11/2010 của UBND tỉnh)
Phần I
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2010
Năm 2010 là năm có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối thực hiện Nghị quyết
Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Nghị quyết số 22/2006/NQ-HĐND về kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010. Được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban Nhân
dân tỉnh triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/01/2010 của
Chính phủ, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010, Nghị quyết số 18/NQ-
CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ, về các giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô,
2
không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khỏang 6,5% trong năm 2010
và các văn bản chỉ đạo, điều hành khác của Chính phủ; sự lãnh đạo của Tỉnh ủy trong
năm 2010 với quyết tâm duy trì tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, đảm bảo an sinh xã
hội, giữ vững an ninh quốc phòng, phấn đấu thực hiện đạt và vượt các mục tiêu cơ bản
kế hoạch 5 năm đã đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XV, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đồng thời tạo tiền đề vững chắc
cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và toàn diện hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Trong quá trình thực hiện nghị quyết, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do tác
động tiêu cực của tình trạng suy giảm kinh tế; lũ lụt, hạn hán gây hại cho cây trồng;
dịch bệnh gia súc diễn ra trên diện rộng, … song được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, sự giám
sát chặt chẽ của HĐND và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã
chỉ đạo các ngành, các cấp, vận động cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân
thực hiện tốt các giải pháp của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã
hội năm 2010, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số
15/NQ-HĐND ngày 16/12/2009 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh - tế xã
hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng năm 2010.
Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2010 được đánh giá như sau:
A. Về Kinh tế
1- Giá trị tổng sản phẩm (giá so sánh năm 1994) ước đạt 12.813 tỷ đồng, tăng
12,2% so với năm 2009 (KH tăng 12-13%). Trong đó:
- Nông – lâm - ngư nghiệp ước đạt 6.367 tỷ đồng, tăng 5,1% so với năm 2009
(KH tăng 5-6%);
- Công nghiệp - xây dựng ước đạt 2.253 tỷ đồng, tăng 19% (KH tăng 28-30%);
Riêng ngành công nghiệp ước đạt 1.699 tỷ đồng, tăng 20%(KH 1.710 tỷ đồng,
3
tăng 22-23%).
- Dịch vụ đạt 4.193 tỷ đồng, tăng 20,8% (KH tăng 20-21%).
Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Nông-lâm-ngư nghiệp 53,2%; công nghiệp
- xây dựng 18,4%; dịch vụ 28.4%.
2- Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 9.050 tỷ đồng, bằng 36% so với GDP (KH
9.450 tỷ đồng).
3- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 26.400 tỷ đồng (KH 17.800 tỷ
đồng).
4- Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 620 triệu USD (KH 620 triệu USD);
Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16 triệu USD (KH 20 triệu USD).
5- Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 2.910 tỷ đồng (KH
2.500 tỷ đồng).
6- Phát triển hạ tầng: Thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho trên 70% diện tích
cây trồng có nhu cầu tưới (KH 70%); cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa 75,4%
các tuyến đường tỉnh (KH 100%), 100% đường đến trung tâm xã (KH 100%), 52% hệ
thống đường huyện (KH 50%), 25% đường xã và liên xã (KH 25%); 94% thôn, buôn
có điện (KH 95%), trong đó 95% số hộ được dùng điện (KH 95%).
B. Về Xã hội:
7- Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia đạt 16 %, (KH 22%). Có 84,3% thôn, buôn
có trường hoặc lớp mẫu giáo( KH 80-85% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo).
8- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở đạt 98%,
(KH 98%).
9- Mức giảm tỷ lệ sinh khoảng 0,8%o (KH tỉnh dưới 1%o). Tỷ lệ tăng dân số
1,36% (KH 1,3%). Quy mô dân số năm 2010 khoảng 1.758 ngàn người (KH 1.815
ngàn người).
4
10- Tạo việc làm mới cho 24.976 lao động (KH 36.200). Tỷ lệ lao động qua đào
tạo 37% (KH từ 37% trở lên).
11- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10% (KH <10%).
14- Có 40 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em (KH 50 xã).
15- Có 73% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (KH 75%). 100% buôn đồng
bào dân tộc thiểu số có nhà sinh hoạt cộng đồng (KH 100%).
16- Củng cố và nâng cao chất lượng phủ sóng phát thanh cho 100% số hộ; phủ
sóng truyền hình cho 99% số hộ (bằng 100% KH).
17- Có 90,2% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (KH 85%).
C. Về Môi trường:
18- Tỷ lệ dân cư đô thị được sử dụng nước sạch 60% (KH 85%).
19- Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 71,3%
(KH 75%).
20- Tỷ lệ che phủ rừng (tính cả cây cao su) 50% (KH 50%).
21- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn tại đô thị 62% (KH 60%).
D. Quốc phòng an ninh:
22- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với
thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu. Xây dựng lực
lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, chủ động nắm chắc tình hình và xử lý tốt các
tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Kết quả trên các lĩnh vực thể hiện cụ thể như sau:
I. Lĩnh vực Kinh tế
1. Sản xuất nông nghiệp
Vụ Đông Xuân 2009 – 2010: tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm
5
40.348/36.600 ha KH, đạt 110%, vượt 3.748 ha kế hoạch và tăng 3.007 ha so với vụ
Đông - Xuân năm trước
(1)
. Tuy thời tiết không thuận lợi
(2)
song năng suất bình quân và
sản lượng lương thực vẫn tăng so với vụ Đông - Xuân năm trước. Tổng sản lượng lương
thực có hạt đạt 204.276 tấn, tăng 21% so với kế hoạch đã đề ra.
Vụ Hè - Thu gieo trồng được 190.873/188.615 ha KH, đạt 101%
(3)
. Vụ Thu -
Đông đã gieo trồng được 60.965/71.480 ha KH, đạt 85,4%
(4)
.
Ước sản lượng lương thực cả năm 2010 đạt 1.000.027 tấn, tăng 3,11 % so với
cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi, thú y: Năm 2010 là năm khó khăn đối với ngành chăn nuôi của
tỉnh, từ đầu năm đến nay do liên tiếp xảy ra các bệnh dịch như: lở mồm long móng,
dịch heo tai xanh và một số bệnh khác. Tính đến nay, dịch bệnh đã hạn chế thiệt hại
cho ngành chăn nuôi của tỉnh, riêng dịch bệnh heo tai xanh ước thiệt hại trên 100 tỷ
1
Trong đó:
- Lúa nước: đã thực hiện 29.782 ha/25.850ha, đạt 115,2 % KH, tăng hơn cùng kỳ năm trước 1.567 ha
(lúa lai 3.915 ha, chiếm 13,14%, giảm so với vụ Đông xuân năm trước 189 ha). Năng suất bình quân đạt 63,87
tạ/ha, sản lượng 190.219 tấn, đạt 124,7% KH và tăng 37.689 tấn so KH;
- Cây Ngô: diện tích thực hiện 2.959 ha/3.000 ha, đạt 98,63% KH, năng suất 47,51 tạ/ha, sản lượng
14.057 tấn (so vụ Đông Xuân 2008 – 2009 diện tích tăng 109,5%, năng suất bằng 88% và sản lượng ngô giảm
gần 544 tấn), nguyên nhân do ảnh hưởng hạn làm thiệt hại 353ha tại huyện Krông Bông và M’Đrắk;
- Khoai lang, sắn và cây chất bột: 1.391 ha/1.400 ha KH đạt 99,35% KH, so với Đông Xuân trước giảm
53 ha (trong đó diện tích cây sắn tăng 93 ha, diện tích cây khoai lang giảm 252 ha, cây chất bột tăng 106 ha), sản
lượng 21.001 tấn;
- Rau các loại: 2.774 ha/2.395 ha KH đạt 99,07%KH, tăng 25 ha so với Đông Xuân trước, sản lượng 43.278 tấn;
- Đậu các loại: 1.625 ha/2.000 ha KH đạt 81,25%KH, giảm 297 ha so với Đông Xuân trước, sản lượng
755 tấn;
- Cây thuốc lá: 961 ha/300 ha KH tăng 3 lần so KH và tăng hơn vụ Đông Xuân trước 651 ha, sản lượng
1.888 tấn; cây bông vải: 3 ha.
2
Tình hình thiệt hại do ngập lụt: ngày 19 và 20/01/2010, mưa diện rộng đã gây ngập lụt tại một số vùng
trũng của các huyện Lăk, Krông Ana, làm thiệt hại khoảng 600 ha lúa vụ Đông Xuân mới gieo sạ. Trong đó,
huyện Lăk: 353 ha, Krông Ana: 247,2 ha. Trong những tháng tiếp theo, tình trạng nắng nóng kéo dài làm nước
các sông, suối, hồ đập tiếp tục giảm. Các huyện Krông Păk, Lăk, Ea Kar, M’Drăk, Krông Bông, EaHleo, Krông
Ana đã xảy ra tình trạng thiếu nước tưới cho một số diện tích cây trồngn, diện tích lúa nước bị khô hạn 2.116 ha
trong đó mất trắng 788 ha; diện tích ngô bị khô hạn 83 ha; diện tích cà phê bị hạn 2.540 ha.
3
Trong đó cây lương thực có hạt: 117.605/120.470 ha KH, đạt 97,6%; cây có củ và cây có bột 25.254/21.270
ha KH, đạt 118%; rau đậu các loại: 26.738/26.835 ha KH, đạt 99,6%; cây công nghiệp ngắn ngày: 20.417/18.115 ha
KH, đạt 112,7%; cây khác và cây thức ăn gia súc: 859/1.925 ha KH, đạt 44,6%.
4
Tính đến hết tháng 11/2010.
6
đồng
(5)
.
UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng khẩn trương triển khai các biện pháp
chống dịch nhằm ngăn chặn dịch bệnh, không để lây lan, kéo dài, hạn chế thiệt hại về
kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.
Về lâm nghiệp:
Công tác khai thác gỗ rừng tự nhiên: Kết thúc khai thác gỗ thuộc chỉ tiêu năm
2009 được 26.262/26.012 m
3
KH, đạt 101%. Thiết kế khai thác gỗ rừng tự nhiên kế
hoạch năm 2010 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT thẩm định tại Công văn
756/TCLN-SDR ngày 19/8/2010, UBND tỉnh đang xem xét phê duyệt theo quy định.
Về phát triển rừng: tỉnh đã tập trung chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị triển khai kế
hoạch trồng rừng năm 2010, tính đến tháng 11/2010 đã trồng được 5.984 ha rừng tập
trung
(6)
. Dự kiến đến cuối năm 2010, trồng được 7600 ha/7.075 ha KH, đạt 107,4%,
trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng trồng được 600 ha/670 ha KH, đạt 90%, rừng sản suất
7000 ha/6405 ha KH, đạt 109%.
Công tác quản lý bảo vệ rừng: mặc dù được các cấp, các ngành quan tâm triển
khai nhiều biện pháp quyết liệt và đã thu được những kết quả nhất định, song tình trạng
5
Luỹ kế từ đầu năm đến hết tháng 11/2010 đã xảy ra dịch heo tai xanh tại 146 xã, phường, thị trấn của
14 huyện (riêng huyện Lắk không xảy ra dịch) với số lợn mắc bệnh 105.615 con, số lợn chết và phải tiêu huỷ
48.766 con (tổng trọng lượng tiêu huỷ 1.997.136 kg)
Đến cuối tháng 11/2010, có 95/146 xã, phường, thị trấn đã qua 21 ngày không phát sinh thêm gia súc bị
ốm. Sơ bộ thống kê đàn gia súc gia cầm có: Đàn trâu 33.000 con, đàn bò 245 ngàn con, đàn heo 685 ngàn con,
đàn gia cầm 7,1 triệu con, đàn ong 180 ngàn đàn.
Dịch lở mồm long móng xảy ra tại 6 huyện M’Drăk, Ea Kar, Ea Sup, Buôn Hồ, Buôn Đôn, Krông Păk,
với số trâu bò mắc bệnh là 411 con (đã điều trị khỏi bệnh được 342 con).
6
Trong đó:
- Trồng rừng bằng nguồn vốn 661: 1.745 ha/2.520 ha KH, đạt 69%KH trong đó trồng rừng phòng hộ: 520
ha/670 ha KH, đạt 77,61%KH; hỗ trợ dân trồng rừng sản xuất: 1.225 ha/1.850 ha KH, đạt 66%KH.
- Trồng rừng sản xuất bằng các nguồn vốn khác: các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh đăng ký 4.550 ha và
đã trồng được: 4.239 ha.
7
vi phạm lâm luật trong quản lý bảo vệ rừng vẫn diễn biến phức tạp, rừng bị xâm hại vẫn
còn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong tỉnh
(7)
.
Chương trình phát triển cây cao su: Đến nay các Doanh nghiệp được thuê đất
trồng cao su đã lập thủ tục để triển khai dự án. Hiện nay có 11 Doanh nghiệp triển khai
trồng gần 3.000 ha cao su tại các huyện: Ea H’leo, Ea Súp, Buôn Đôn, Ea Kar, công
tác kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án được tăng cường kiểm soát chặt chẽ,
nhằm hạn chế được các sai sót phát sinh.
Kinh tế trang trại: Hiện nay, toàn tỉnh có 1.629 trang trại, trong đó: 1.165
trang trại trồng trọt, 230 trang trại chăn nuôi, 28 trang trại thuỷ sản, 34 trang trại lâm
nghiệp, 172 trang trại tổng hợp. Nhìn chung, mô hình kinh tế trang trại của tỉnh còn ở
dạng sản xuất nhỏ, đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, hiệu quả và tính
cạnh tranh chưa cao; phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
2. Tài nguyên, Môi trường
Công tác quản lý tài nguyên môi trường được tăng cường; đã tập trung chỉ đạo
mạnh về công tác quản lý đất đai
(8)
, hoàn thành công tác kiểm kê đất và xây dựng bản
đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của tỉnh, UBND tỉnh đã phê duyệt đề cương, dự
toán quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của 15 đơn vị hành chính cấp
huyện và đang tiến hành rà soát, quy hoạch sử dụng đất toàn tỉnh đến năm 2020 và kế
hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 theo chỉ đạo của Chính phủ.
Các hoạt động quản lý về môi trường được tăng cường; công tác kiểm tra về
7
Trong năm 2010, số vụ vi phạm tài nguyên rừng được phát hiện là 1.115 vụ, trong đó diện tích phá rừng
trái phép: 64,92 ha; gỗ tịch thu: 2.531,640 m3; động vật rừng: 414 kg; phương tiện tịch thu: 75 xe các loại (ô tô,
máy kéo, công nông: 51 chiếc; xe máy: 24 chiếc); máy móc các loại: 89 chiếc; công cụ thô sơ thông thường: 124
chiếc; tổng các khoản thu 15.247.442.000 đồng; nộp ngân sách 13.340.342.000 đồng; kiểm tra đóng búa kiểm lâm
49.968,533m
3
; theo dõi tiêu thụ lâm sản 4.333,038m
3
. Những vụ vi phạm nghiêm trọng đã được chuyển giao cho
chức năng điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
8
Trong năm 2010, đã lập hồ sơ thu hồi đất của 33 tổ chức, diện tích 3.590,54 ha; giao đất cho 49 tổ
chức, diện tích 41.941,3 ha; cho 64 tổ chức thuê đất, diện tích 10.460,85 ha; chuyển mục đích sử dung đất từ đất
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp cho 07 tổ chức, diện tích 79,38ha. Cấp 1.353 giấy chứng nhận quyền sử
8
bảo vệ môi trường đối với các cơ sở chế biến công nghiệp được quan tâm chỉ đạo;
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường được triển khai rộng
khắp và tổ chức tốt ngày môi trường thế giới.
4. Công nghiệp – Xây dựng
- Công nghiệp: Trong năm 2010, ngành công nghiệp gặp không ít khó khăn do
tình hình thiếu điện trong mùa khô ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các nhà
máy, nhưng UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành điện ưu tiên đảm bảo điện cho sản xuất, do vậy
sản xuất công nghiệp vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước; Công
nghiệp khai thác vật liệu xây dựng tăng do thời tiết thuận lợi và nhu cầu xây dựng phát
triển; Công nghiệp chế biến tinh bột sắn, đường, hạt điều nhân … sản xuất ổn định do
nguồn nguyên liệu đảm bảo nhu cầu; Các sản phẩm Bia, nước uống đóng chai, điện sản
xuất, nước sinh hoạt v.v… sản xuất ổn định và tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong năm
có 2 nhà máy thuỷ điện là Sêrêpốk 3 và Sêrêpốk 4 đã phát điện nên giá trị sản xuất công
nghiệp tăng hơn.
Ước tính, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 (theo giá cố định năm 1994) đạt
3.378 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2009.
- Xây dựng: Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với cùng kỳ do số lượng
và quy mô các dự án đầu tư xây dựng trong tỉnh tăng mạnh. Nhìn chung, giá trị sản
xuất xây lắp và tư vấn xây dựng toàn tỉnh so với cùng kỳ năm trước tăng đáng kể do
triển khai được nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn. Ước tính giá trị sản xuất
ngành xây dựng cả năm đạt 3.800 tỷ đồng.
5. Thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu
Hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh tiếp tục phát triển do sức mua trên thị
dụng đất cho 520 tổ chức, diện tích 458.985,82 ha. Ký hợp đồng thuê đất với 48 tổ chức, diện tích 4.912,24 ha.
9
trường tiếp tục tăng mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ cả năm
ước đạt 26.400 tỷ đồng, đạt 148% kế hoạch, tăng 67% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của
nhân dân; mạng lưới xe buýt tiếp tục duy trì hoạt động tới tất cả các huyện, thành phố,
thị xã trong tỉnh và 6/8 huyện, thị xã của tỉnh Đăk Nông. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có
68 doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hoá và hành khách, trong đó có 58 doanh
nghiệp kinh doanh vận tải khách với 286 tuyến liên tỉnh và 12 tuyến nội tỉnh. Vận tải
khách công cộng bằng xe buýt có 265 tuyến với 187 xe. Vận tải khách bằng taxi có 06
đơn vị hoạt động với 306 xe với năng lực hiện tại cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại
của nhân dân
Dịch vụ ngân hàng đã đáp ứng khá tốt nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh
doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn. Tổng nguồn vốn huy động tại chỗ đạt 10.394
tỷ đồng, tăng 24% so với đầu năm. Mặc dù các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã có
nhiều nỗ lực trong công tác huy động, nhiều sản phẩm và hình thức khuyến mãi mới
được áp dụng, nhưng huy động vốn đạt thấp hơn so với năm trước. Tuy nhiên, cơ cấu
nguồn vốn huy động đã có chuyển biến tích cực theo xu hướng tăng dần tỷ trọng tiền
gửi có thời hạn trên 12 tháng (tỷ lệ tăng 11%), giảm dần tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn
(9)
.
6. Thu - Chi cân đối ngân sách nhà nước
Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn vượt kế hoạch đề ra và đạt
mức cao nhất từ trước đến nay
(10)
. UBND tỉnh và các ngành, các cấp đã tập trung chỉ
Ban hành 27 Quyết định về đơn giá thuê đất phi nông nghiệp đối với 23 tổ chức.
9
. Doanh số cho vay đạt 28.588 tỷ đồng, bằng 77% so với cùng kỳ năm 2009. Doanh số thu nợ đạt
26.039 tỷ đồng, bằng 79% so với cùng kỳ năm 2009. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến tháng 9/2010 đạt
26.144 tỷ đồng, tăng 10,8% so với đầu năm.
10
Thu ngân sách ước đạt 2.910 tỷ đồng, tăng 23,67% so với năm trước.
10
đạo thường xuyên, quyết liệt công tác thu ngân sách, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc tại cơ sở; triển khai các biện pháp chống thất thu thuế, xử lý nợ đọng quyết liệt
nên thu ngân sách năm 2010 đạt kết quả cao. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ phát triển nhanh; ý thức thực hiện nghĩa vụ thuế của nhiều người dân,
doanh nghiệp ngày càng tốt hơn đã góp phần quan trọng vào việc tăng thu ngân sách
nhà nước.
Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 5.560 tỷ đồng, đáp ứng được các
nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh
của tỉnh.
7. Hoạt động xúc tiến đầu tư và kinh tế đối ngoại
Tình hình thu hút đầu tư của tỉnh có chuyển biến tích cực, các dự án khởi công
và hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm tăng, tạo bước chuyển biến tích cực trong
môi trường đầu tư của tỉnh. Các dự án đầu tư đi vào hoạt động góp phần giải quyết
việc làm cho người dân địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa. Mặc dù còn nhiều khó khăn song với sự nỗ lực của các cấp
chính quyền trong công tác xúc tiến đầu tư nên việc xúc tiến, kêu gọi đầu tư ngày càng
đạt hiệu quả cao. Luỹ kế từ năm 2006 đến nay đã thu hút 405 dự án với tổng vốn trên
60.000 tỷ đồng (Riêng trong năm 2010 đã thu hút được 34 dự án, với số vốn 1.808 tỷ
đồng trong đó: số dự án thuộc lĩnh vực Công nghiệp: có 05 dự án, 29 dự án còn lại
thuộc lĩnh vực thương mại – dịch vụ). Ngoài ra, tiếp và hướng dẫn thủ tục đầu tư cho
hơn 70 lượt nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào tỉnh.
Việc vận động tài trợ ODA có nhiều khởi sắc, trong năm 2010 tỉnh đã vận động
thành công 04 dự án, gồm 01 dự án đầu tư xây dựng, 03 dự án hỗ trợ kỹ thuật với tổng
mức đầu tư 6,5 triệu USD, tiếp nhận 01 dự án do Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan
11
chủ quản. Nhìn chung các dự án triển khai đúng tiến độ đề ra, tỷ lệ giải ngân các dự án
ODA do tỉnh quản lý năm 2010 ước đạt 80% đối với vốn ODA và 90% đối với vốn đối
ứng.
Về tài trợ phi Chính phủ nước ngoài, tỉnh đã phê duyệt 03 dự án với tổng vốn
tài trợ gần 50.000 USD, các dự án thực hiện đúng tiến độ đề ra.
Trong năm đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 01 dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài gắn với thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Nhật Bản), tổng vốn đầu tư
65 triệu USD. Đã được Bộ Kế hoạch Đầu tư cấp CNĐT cho 01 Dự án đầu tư ra nước
ngoài (Công ty CP Cao su Krông Búk – Rattanakiri) với tổng vốn đầu tư 700 tỷ đồng.
8. Sắp xếp, đổi mới DNNN và phát triển doanh nghiệp
Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp được triển khai theo kế hoạch đề ra, đã
hoàn thành việc chuyển đổi 15 Công ty lâm nghiệp và 9 Công ty cà phê, cao su thành
Công ty TNHH 1 thành viên.
Số lượng doanh nghiệp dân doanh đăng ký hoạt động trên địa bàn tiếp tục tăng.
Trong năm 2010, có 630 doanh nghiệp dân doanh đăng ký thành lập mới với số vốn đăng
ký là 2.345 tỷ đồng. Ngoài ra, có 51 Chi nhánh, 15 Văn phòng đại diện của các Doanh
nghiệp đăng ký hoạt động mới
(11)
. Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn có 5.259 doanh
nghiệp, trong đó: 4.861 doanh nghiệp dân doanh, 335 hợp tác xã, 59 doanh nghiệp nhà
nước, 04 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; có 797 Chi nhánh, Văn phòng đại
diện và 47.200 hộ kinh doanh cá thể.
II. Lĩnh vực xã hội
11
Trong 630 Doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn, bao gồm: DNTN có 109 doanh nghiệp;
Công ty TNHH 2 thành viên 201 doanh nghiệp; Công ty TNHH 1 thành viên 251 doanh nghiệp; Công ty CP có
69 doanh nghiệp.
12
1. Giáo dục - Đào tạo
Giáo dục phổ thông: Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học
phổ thông năm học 2009-2010 được chuẩn bị chu đáo và tổ chức an toàn, nghiêm túc, kết
quả đậu tốt nghiệp THPT là 78,14% (tăng 9% so với năm học trước)
(12)
. Công tác tuyển
sinh vào các lớp đầu cấp (lớp 6, lớp 10) được triển khai đúng quy định.
Năm học 2010 - 2011, toàn tỉnh có 892 trường, 15.480 lớp, 468.500 học sinh từ
bậc học Mầm non đến Trung học phổ thông, tăng 8 trường, giảm 4.600 học sinh so với
đầu năm học trước, trong đó học sinh dân tộc thiểu số chiếm 33,6%. Số học sinh phổ
thông có chiều hướng giảm do chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình được thực
hiện tốt hơn, dân di cư tự do đến tỉnh ta vẫn còn nhưng giảm so với các năm trước.
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học chủ yếu là do lực học yếu, không theo
kịp chương trình
(13)
. Ngành giáo dục tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận động, các
phong trào thi đua trong nhà trường, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường giáo
dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, số lượng và chất lượng giáo dục từng bước
được nâng lên
(14)
.
Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học được quan tâm, đặc biệt chương
trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên thực hiện bằng nguồn vốn
trái phiếu Chính phủ, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA được các ngành,
địa phương tích cực triển khai thực hiện, nhưng do nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi
12
Khối trung học phổ thông có 21.935 thí sinh đăng ký dự thi, có 21.821 thí sinh dự thi, 114 thí sinh
bỏ thi chiếm 0,52%; có 3 thí sinh vi phạm quy chế thi: 01 bị đình chỉ thi, 02 bị cảnh cáo. Khối bổ túc trung học
phổ thông có 2.602 thí sinh đăng ký dự thi, có 2.532 thí sinh dự thi, 70 thí sinh bỏ thi chiếm 2,69%; có 2 thí sinh
vi phạm quy chế bị đình chỉ thi.
13
Năm học 2009 – 2010 học sinh bỏ học chiếm tỷ lệ 1,1%, giảm 0,29% (năm học trước là 1,39%).
14
Đến nay đã có 15/15 huyện, 178 xã, phường được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
cơ sở (đạt 96,7%, kế hoạch năm 2010 là 98%); 146/184 xã, phường hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi
(đạt 79,3%); 167/892 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 18,7%, kế hoạch năm 2010 là 22%); Tỷ lệ học sinh mẫu
giáo 5 tuổi ra lớp đạt 96,58% so với trẻ 5 tuổi, trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 84,65%. Có 30 học
sinh giỏi quốc gia.
13
khả năng nguồn vốn có hạn, đến nay mới có 62,7% phòng học được xây dựng kiên cố
(kế hoạch 70%), vẫn còn 35% số trường trung học phổ thông, 70% số trường trung
học cơ sở chưa có phòng thí nghiệm thực hành được xây dựng theo quy chuẩn.
Giáo dục thường xuyên từng bước được nâng cao chất lượng và đáp ứng về
điều kiện cơ sở vật chất, chuyên môn cho người học; Trung tâm giáo dục thường
xuyên tỉnh đã mở rộng hình thức liên kết đào tạo. Các Trung tâm giáo dục thường
xuyên cấp huyện đã có nhiều hình thức hướng dẫn, tư vấn nghề nghiệp kết hợp với học
văn hóa nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh.
Giáo dục chuyên nghiệp tiếp tục được củng cố, mở rộng cả về quy mô và ngành
nghề đào tạo. Các trường chuyên nghiệp đã thực hiện tốt kế hoạch tuyển sinh, đảm bảo
chất lượng đào tạo, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, mở rộng hình
thức liên kết đào tạo để đáp ứng nhu cầu của người học. Chương trình xây dựng nhà ở
cho sinh viên bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ được triển khai thực hiện, từng
bước góp phần giải quyết khó khăn, tạo điều kiện cho sinh viên yên tâm học tập.
Công tác dạy nghề ngày càng được quan tâm
(15)
, cùng với việc tổ chức dạy nghề
cho lao động nông thôn, cho phụ nữ theo các chính sách hỗ trợ của nhà nước
(16)
, hiện nay
các địa phương đang tích cực đẩy nhanh tiến độ thành lập trung tâm dạy nghề cấp huyện,
triển khai xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo các điều kiện để thực hiện tốt đề án Đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo chỉ đạo của Trung ương, trong năm đã
khởi công 9 Trung tâm dạy nghề của các huyện, thị xã
17
, các đơn vị còn lại đang chuẩn bị
dự án để triển khai tiếp theo kế hoạch.
15
Số học sinh tuyển mới là:14.200 người, trong đó đào tạo sơ cấp nghề miễn phí cho lao động nông
thôn là 2.293 người. Dân tộc thiểu số người). Số học sinh hiện đang theo học tại các cơ sở dạy nghề: 2.742
người, chia theo trình độ đào tạo như sau: Cao đẳng nghề: 890); hệ trung cấp nghề:2.742; hệ sơ cấp nghề: 3.632
Số học sinh tốt nghiệp: 13.286 người, trong đó: Hệ Cao đẳng nghề: 121, trung cấp nghề: 583 ; hệ sơ cấp nghề:
12.032
16
Đã tổ chức được 56 lớp dạy nghề cho 1.646 người nghèo, với kinh phí 4.800 triệu đồng;
14
2. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngành y tế đã tập trung mọi lực lượng tiếp tục triển khai các biện pháp kiểm
soát, phòng chống dịch bệnh, tăng cường công tác giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời
ổ dịch, thực hiện tốt qui trình xử lý ổ dịch, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh để
xử lý kịp thời, hạn chế tối đa các trường hợp tử vong có thể xảy ra (cho nên trong năm
2010 chỉ có 03 trường hợp sốt xuất huyết bị tử vong); phối hợp chặt chẽ với các ngành
liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, nhất là tập trung phòng chống
dịch sốt xuất huyết, sốt rét. Các cơ sở khám chữa bệnh chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc,
trang thiết bị cấp cứu, điều trị và giường bệnh để kịp thời tiếp nhận điều trị sớm bệnh
nhân; sẵn sàng hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở y tế tuyến dưới trong việc xử lý, cấp
cứu, điều trị, chăm sóc bệnh nhân
(18)
.
Hệ thống cơ sở vật chất, nhân lực ngành y tế được tăng cường, đảm bảo đáp ứng
nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Tỉnh đang đầu tư, nâng cấp và xây dựng 14
Bệnh viện đa khoa cấp huyện và khu vực; 2 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, 01
bệnh viện vùng; 11 Trung tâm y tế tuyến huyện, 22 trạm y tế xã; đến nay đã đưa vào
sử dụng 46.867 m
2
nhà của các bệnh viện, 5 Trung tâm y tế huyện, 20 trạm y tế xã
phục vụ cho công tác khám, điều trị bệnh cho nhân dân.
17
Gồm Trung tâm dạy nghề các huyện, thị xã: Buôn Hồ, Cư M’gar, Cư Kuin, Krông Năng, Krông
Búk, Ea Súp, Ea Kar, Krông Ana, Ea H’leo.
18
Về tình hình sốt rét trong thời gian qua tăng nhiều về số lượng bệnh nhân và chỉ số ký sinh trung sốt
rét so với cùng kỳ năm trước. Số bệnh nhân sốt rét tăng ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố; mặc dù không có
bệnh nhân tử vong do sốt rét và không bùng phát dịch nhưng quy mô tăng như số bệnh nhân mắc sốt rét/1.000
dân tăng 55%, số người mắc sốt rét tăng 1,5 lần, 14/15 huyện có số bệnh nhân mắc sốt rét tăng so với cùng kỳ
năm 2009; Tỉ lệ ký sinh trùng sốt rét tăng 171% v.v…
Ghi nhận tại 15/15 huyện, thị xã, thành phố có số lượng bệnh nhân sốt xuất huyết tăng cao trong tháng 8
và 9, tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ năm 2009 và có 03 trường hợp tử vong. Đã triển khai các biện pháp xử lý
bằng phun hóa chất nhưng chưa được duy trì thường xuyên và các hộ gia đình vẫn chưa tự giác thực hiện các
biện pháp vệ sinh môi trường, loại trừ bọ gậy xung quanh khu vực mình sinh sống. Hiện tại bệnh vẫn đang tiếp
tục gia tăng tại các huyện, thị xã, thành phố. Ban chỉ đạo phòng chống sốt xuất huyết đang tích cực chỉ đạo các
biện pháp phòng chống bệnh.
Có 32 trường hợp nhập viện nghi cúm A/H
1
N
1
nhưng không có trường hợp nặng và dương tính.
15
3. Lao động, thương binh và xã hội
Công tác giải quyết việc làm được chú trọng, các hoạt động xúc tiến, giới thiệu
việc làm được đẩy mạnh, các chính sách cho vay vốn để tạo việc làm được triển khai
tích cực trong năm 2010. Khai trương Sàn giao dịch việc làm và tiến hành 03 phiên
giao dịch việc làm lần thứ nhất tại Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh và 03 cơ sở vệ
tinh tại các huyện: Krông Búk, Krông Ana và Ea Kar.
Về thực hiện chính sách với người có công đã được các cấp, các ngành đặc biệt
quan tâm; công tác tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ chính sách đã được thực hiện
đúng quy trình và thời gian quy định
(19)
, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hồ sơ
hiệu quả hơn; làm tốt công tác tiếp nhận và an táng 09 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện
Việt Nam hy sinh tại Cămpuchia về nước; các chế độ chính sách cho người có công và
thân nhân được giải quyết kịp thời, chu đáo.
Công tác giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội được chú trọng thực hiện; đảm
bảo cho người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, ngoài ra còn có các chính
sách hỗ trợ đã thật sự trợ giúp cho người nghèo ổn định cuộc sống và vươn lên làm
kinh tế để thoát nghèo. Các chính sách cho đối tượng bảo trợ xã hội được quan tâm, số
đối tượng được hưởng trợ cấp tại cộng đồng ngày càng tăng. Công tác bảo vệ, chăm
sóc trẻ em đã được các cấp, các ngành quan tâm triển khai với nhiều hình thức như:
Xây dựng các mô hình điểm về phòng, chống tai nạn, thương tích tại xã, phường có tỷ
19
Trong năm 2010, đã tiếp nhận 2.024 hồ sơ đối tượng chính sách các loại, trong đó tiếp nhận từ tỉnh
khác chuyển đến 312 hồ sơ; qua kiểm tra, thẩm định chuyển trả 316 hồ sơ không đủ điều kiện để bổ sung, hoàn
chỉnh và đã giải quyết chế độ cho 1.396 hồ sơ đủ điều kiện. Trên cơ sở nguồn kinh phí được Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội giao trong năm 2010; Sở Lao động – Thương binh xã hội đã triển khai thực hiện với
kinh phí 2 tỷ đồng đối với các công trình: Nhà tưởng niệm xã Quảng Điền; Nhà bia xã Ea Na huyện Krông
Ana; Nhà bia xã Ea Pil và Nghĩa trang Liệt sỹ huyện M’Đrắc; Nhà bia xã Ea Rốc huyện Ea Súp; Đài tưởng niệm
xã Ea Quang huyện Krông Păk.
Tính đến nay, tổng số đối tượng chính sách và thụ hưởng chính sách trên địa bàn của tỉnh do ngành
quản lý có khoảng 53.000 hồ sơ đối tượng; trong đó có 12.075 đối tượng đang chi trả trợ cấp hàng tháng, với số
tiền chi trả gần 10 tỷ đồng/tháng.
16
lệ trẻ cao em bị tai nạn đuối nước; toạ đàm, nói chuyện chuyên đề về nạn xâm hại trẻ
em; các mô hình xã, phường phù hợp với trẻ em …. Công tác phòng chống tệ nạn xã
hội đã triển khai với nhiều giải pháp nhằm hạn chế tệ nạn xã hội phát sinh trên địa bàn.
Thực hiện các chương trình, chính sách xã hội tiếp tục được các ngành, các
cấp quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả khả quan, góp phần ổn định đời sống
nhân dân trên địa bàn tỉnh (chi tiết như phụ lục kèm theo). Tuy nhiên, còn một số hạn
chế cần khắc phục trong thời gian tới, là: Năng lực làm chủ đầu tư của một số xã còn
hạn chế, lúng túng trong việc thực hiện các chính sách, chưa nắm chắc các quy định,
hướng dẫn thực hiện kế hoạch vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển hạ tầng nên
nhiều công trình hạ tầng chương trình 135 ở một số đơn vị triển khai chậm. Một số
đơn vị chưa làm tốt công tác tập huấn, đào tạo và đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc
thiểu số thuộc chương trình 135; Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách dân
tộc chưa thường xuyên, chưa tổ chức đồng bộ; Việc bình xét xã hoàn thành các mục
tiêu của Chương trình 135 theo Thông tư số 05/2007/TT-UBDT ngày 19/7/2007 của
Uỷ ban Dân tộc chưa được tổ chức kịp thời; Công tác tuyên truyền chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc ở một số địa phương chưa được chú
trọng hoặc có thực hiện nhưng chưa đầy đủ….
4. Công tác thông tin - truyền thông, phát thanh và truyền hình
Các hoạt động truyền thông đã tập trung phản ảnh các lĩnh vực phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, công tác vận động
quần chúng từ tỉnh đến cơ sở, nhất là tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong các tầng
lớp nhân dân. Hệ thống thông tin liên lạc được duy trì thông suốt, phục vụ tốt cho công
tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, lụt, bão và tìm
kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh.
17
Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh đã tăng thời lượng phát sóng chương trình
địa phương so với cùng kỳ năm trước, chất lượng phát sóng đảm bảo và nội dung các
chương trình ngày càng phong phú, bám sát định hướng chung, tuyên truyền ôn lại
truyền thống yêu nước, ý chí độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; khơi dậy
niềm tự hào trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Biểu dương gương người tốt, việc
tốt, các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh giỏi; những tấm gương tích cực học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Các tác phẩm báo nói, báo hình địa
phương đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích; chất lượng, nội dung các chương trình không
ngừng được cải tiến và nâng cao, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin, phục vụ tinh
thần giải trí của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
5. Hoạt động Văn hoá - Thể thao và Du lịch
Ngành văn hóa tập trung triển khai công tác tuyên truyền cổ động và tổ chức
nhiều hoạt động văn hoá, thể thao chào mừng các sự kiện trọng đại của tỉnh và đất
nước như: Đại hội Đảng cấp cơ sở, cấp huyện và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tiến
tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam; kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tổ chức thành
công các sự kiện lớn là: Lễ kỷ niệm 105 năm thành phố Buôn Ma Thuột hình thành và
phát triển, 35 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, Lễ công nhận Buôn Ma Thuột là đô
thị loại I trực thuộc tỉnh, đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh vào ngày 10/3/2010; Lễ
mít tinh kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Lễ kỷ niệm 80
Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể; Lễ kỷ niệm 65 năm các ngành đã có nhiều
hoạt động thiết thực về Quốc giỗ Hùng Vương, Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
v.v…
Các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án của tỉnh về bảo
18
tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc được thực hiện đạt hiệu quả cao. Đã hoàn
thành thống kê di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên toàn tỉnh, có tổng số
59 di tích lịch sử, địa danh, trong đó: có 11 di tích, địa danh được công nhận di tích
cấp quốc gia, 01 di tích cấp tỉnh và 47 di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc tiềm năng.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” triển khai rộng
khắp đến cơ sở và được đông đảo nhân dân ủng hộ. Qua đó, các họat động văn hoá ở
cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, nếp sống văn hoá tốt đẹp được giữ gìn và phát
huy; các phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, khuyến học ngày
càng được nhân rộng ở các địa phương.
Thể thao thành tích cao của tỉnh năm 2010 có tiến bộ rõ nét. Đến tháng
10/2010, các đội tuyển Thể thao Đắk Lắk đã tham dự 7 môn thi đấu trong chương trình
thi đấu Đại hội thể dục thể thao toàn quốc đạt 19 huy chương; trong đó có 4 huy
chương vàng, 4 huy chương bạc và 11 huy chương đồng
(20)
.
Ngành du lịch đạt được những kết quả tiến bộ
(21)
. Tỉnh đã xây dựng quy hoạch
tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2020 và định hướng đến
năm 2030; triển khai thực hiện các chương trình của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
và xây dựng kế hoạch phát triển Du lịch của tỉnh; Hướng dẫn các doanh nghiệp kinh
doanh du lịch tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc
20
Các môn thể thao đã tham gia Đại hội gồm: Môn Boxing (nam, nữ), Wushu, Võ cổ truyền, Đẩy gậy,
Bắn nỏ, Điền kinh (tham gia giải chinh phục đỉnh cao Bà Rá) và Võ Karatedo; trong đó, môn Võ cổ truyền và
đội tuyển Boxing nam hoàn thành kế hoạch, các môn thể thao còn lại chưa hoàn thành chỉ tiêu đề ra.
Thể thao tỉnh Đắk Lắk đã tham dự 36 giải thể thao khu vực, quốc gia và quốc tế; thành tích đạt được
100 huy chương (kể cả các giải và huy chương trong chương trình thi đấu Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần
thứ 6); trong đó có 21 huy chương vàng, 26 huy chương bạc, 53 huy chương đồng. Đội tuyển Kéo co tỉnh Đắk
Lắk đại diện quốc gia tham dự giải vô địch Kéo co châu Á và giải Kéo co châu Á mở rộng đạt 1 huy chương bạc,
2 huy chương đồng .
21
Tổng số khách đón tiếp ước đạt 200.000 lượt, đạt 57,14% kế hoạch, tăng 11,73% so với cùng kỳ năm
2009; trong đó khách quốc tế ước đạt 18.500 lượt, đạt 58,73 kế hoạch, tăng 20,92% so với cùng kỳ năm 2009;
khách trong nước ước đạt 181.570 lượt, đạt 56,99% kế hoạch, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm 2009; công suất
sử dụng buồng phòng ước đạt 60%, tăng 11,74% so với cùng kỳ năm 2009; tổng doanh thu ước đạt 143 tỷ đồng,
đạt 71,50% kế hoạch, tăng 16,73% so với cùng kỳ năm 2009.
19
trưng, xây dựng sản phẩm du lịch mới nhằm thu hút khách du lịch; phối hợp cung cấp
thông tin về du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng; thực hiện các ấn phẩm
giới thiệu hình ảnh, tiềm năng du lịch Đắk Lắk ở trong nước và quốc tế.
6. Về Khoa học và Công nghệ
Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ được quan tâm triển khai đồng bộ từ tỉnh đến
cơ sở, nhiều đề tài khoa học có giá trị thực tiễn cao được đưa dần vào áp dụng trong sản
xuất. Công tác ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ đã chủ động triển khai
theo kế hoạch đã đặt ra, đảm bảo được nội dung và tiến độ.
Công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường chất lượng được duy trì. Đến nay, đã
kiểm định được 8.987 phương tiện đo các loại, đạt 72% KH, trong đó có 278 phương
tiện đo không đạt tiêu chuẩn (chiếm 39%). Do nguồn nhân lực thiếu, nên công tác
kiểm định phương tiện đo, nhất là kiểm định lưu động tại các huyện chưa đáp ứng
được nhu cầu kiểm định phương tiện đo của nhân dân.
III. Lĩnh vực nội chính
1. Thanh tra, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thanh tra các cấp, các ngành đã chủ động triển khai thực hiện kế hoạch thanh
tra theo đúng quy định của Luật Thanh tra
(22)
. Qua thanh tra cho thấy, các cơ quan,
22
- Trong năm 2010, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 34 cuộc thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng
các cơ quan nhà nước về việc thực hiện nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng tại 64 đơn vị; đã kết thúc 30 cuộc tại 60 đơn vị. Trong đó: Thanh tra việc thực hiện pháp luật về khiếu nại,
tố cáo: Triển khai 20 cuộc, đã kết thúc 19 cuộc tại 39 đơn vị (Thanh tra tỉnh triển khai 5 cuộc, đã kết luận 04
cuộc, đang tiến hành 01 cuộc).
Tiến hành 72 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, trong đó thanh tra theo kế hoạch 59 cuộc, thanh tra đột
xuất 13 cuộc. Tổng số cuộc thanh tra đã kết thúc 66 cuộc, trong đó: 13 cuộc của năm 2009 chuyển qua và 53
cuộc của năm 2010. Tổng số đơn vị được thanh tra là 210, trong đó: phát hiện 150 đơn vị có sai phạm. Đã kiến nghị
xử lý trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, đất đai, hành chính v.v…. Nhìn chung, các kiến nghị liên quan đến sai phạm
của đơn vị được thanh tra và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, phần lớn đã được các cơ quan, đơn vị
thực hiện nghiêm túc.
Ngoài ra, Thanh tra các sở, ngành trong tỉnh đã tiến hành được 2.434 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với
2.462 lượt đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trên các lĩnh vực: Y tế, Văn hóa, Du lịch, Khoa học và Công
nghệ, Thông tin và Truyền thông, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và phát triển nông thôn v.v… Qua thanh tra,
20
đơn vị đã tổ chức thực hiện tốt các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Các sở, ngành và UBND cấp huyện đã bố trí phòng tiếp công dân tại nơi thuận
tiện, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực và nghiệp vụ làm công
tác tiếp công dân. Đã kết thúc 11/14 cuộc thanh tra việc thực hiện phòng, chống tham
nhũng tại 21 đơn vị. Nhìn chung, các cơ quan, đơn vị được thanh tra đã tổ chức thực
hiện tương đối tốt các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo thẩm
quyền.
Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo và xử lý các vụ tồn
đọng đã được các cấp, các ngành quan tâm. Ở cấp tỉnh, lãnh đạo HĐND, Đòan ĐBQH
và UBND tỉnh đã thực hiện tiếp dân định kỳ vào ngày 15 và ngày 28 hàng tháng và tổ
chức tiếp đột xuất khi cần thiết, đồng thời chỉ đạo Thanh tra tỉnh tổ chức tiếp công dân
hàng ngày tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh. Đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của công dân đều được các cấp, các ngành tiếp nhận, phân loại, xử lý kịp thời và
hướng dẫn, chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết; các vụ việc thuộc
thẩm quyền đã được xác minh, kết luận và ban hành quyết định, kết luận giải quyết kịp
thời, đúng pháp luật. Tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được xác minh xử lý là
4.027 đơn, gồm 3.710 vụ
(23)
, đã xác minh, giải quyết đạt 75%.
Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế như: Việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện kết
luận, kiến nghị và quyết định xử lý về thanh tra chưa được triệt để, nghiêm túc, nhất là
trong việc thực hiện xử lý thu hồi tài chính, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả công tác
thanh tra. Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn một số cơ quan, đơn vị giải quyết đơn
kiểm tra đã phát hiện 808 lượt đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có sai phạm. Quyết định xử phạt hành
chính với tổng số tiền 2.018 triệu đồng; đã thu nộp ngân sách 2.018 triệu động; đình chỉ thi công 129 công trình
xây dựng, đình chỉ kinh doanh đối với 02 đơn vị.
23
Trong đó: Số đơn thư không thuộc thẩm quyền giải quyết và không đủ điều kiện xem xét giải quyết
là 1.793 đơn, gồm 1.476 vụ;
21
kéo dài, vi phạm thời hạn giải quyết đơn; việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo nói
chung và nhất là báo cáo về công tác xét khiếu tố, công tác phòng, chống tham nhũng
còn một số đơn vị thực hiện không nghiêm túc, báo cáo chậm, số liệu không đầy đủ,
không rõ ràng, một số đơn vị thực hiện kê khai tài sản, thu nhập cá nhân còn chậm, chưa
xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác theo quy định đối với công chức không giữ
chức vụ lãnh đạo.
2. Tư pháp
Tổ chức bộ máy Ngành tư pháp từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện
toàn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ cho cán
bộ, công chức, viên chức và cán bộ cấp xã được chú trọng triển khai. Công tác xây
dựng, thẩm định, góp ý, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tăng cường
và nâng cao chất lượng văn bản. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp
pháp lý tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, thông tin kịp thời các quy định của pháp luật
đến với nhân dân
(24)
. Trong năm 2010, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành
chính, gắn với việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, nhằm giải
quyết kịp thời, thuận lợi các yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp.
3. Nội vụ
Công tác cán bộ, công chức, viên chức được thường xuyên kiện toàn; thực hiện
nâng lương, xếp chuyển ngạch lương, thuyên chuyển công tác cho cán bộ công chức
theo đúng quy trình, quy định. Tỉnh tiếp tục thực hiện phân cấp thẩm quyền tuyển
Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị - phản ảnh thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan quản
lý hành chính trong tỉnh là 2.234 đơn/2.234 vụ.
24
Triển khai Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2010, toàn tỉnh đã tổ chức 568 cuộc tuyên
truyền, phổ biến các luật mới ban hành và các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân
cho 73.294 lượt cán bộ chủ chốt cấp huyện, cấp xã, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và nhân dân ở cơ
sở; đồng thời, thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật trên hệ thống truyền thanh, truyền hình của huyện
và đài truyền thanh, trạm truyền thanh ở cơ sở, nhằm thông tin kịp thời các quy định của pháp luật đến cán bộ,
22
dụng viên chức sự nghiệp công lập cho các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã,
thành phố nhằm nâng cao tính chủ động và trách nhiệm cho các đơn vị.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức luôn được quan tâm,
chú trọng, đã tổ chức các lớp tập huấn và cử các cán bộ công chức tham gia nhằm
nâng cao năng lực, yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ.
Công tác cải cách hành chính tiếp tục được thực hiện đạt kết quả tốt. Tỉnh đã
hoàn thành việc rà soát thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ; công tác
kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ của
các đơn vị được duy trì. Việc tổng kết thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và
thực hiện, làm rõ những kết quả đạt được, rút ra những yếu kém, hạn chế để có định
hướng sát hơn, thực hiện hiệu quả hơn công tác này trong giai 2011 - 2020.
Công tác thi đua, khen thưởng được thực hiện kịp thời và theo đúng quy trình.
Tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước lần thứ 9, qua đó tuyên dương,
khen thưởng nhiều cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc ở các ngành, các địa
phương, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh, qua đó duy trì
được các phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn trong các cơ quan, đơn vị
và cộng đồng dân cư.
Công tác Tôn giáo thường xuyên được các cấp, các ngành rất quan tâm. Đã
hướng dẫn các tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật; các hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo của đồng bào có đạo được tạo điều kiện thuận lợi tổ chức trang trọng, an toàn, tốt
đẹp …
4. Phòng chống tham nhũng:
Công tác phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến
nhân dân ở từng địa phương.
23
tốt. Ban Chỉ đạo về phòng chống tham nhũng của tỉnh đã chủ động tăng cường kiểm
tra, đôn đốc các ngành, địa phương trong tỉnh thực hiện Luật Phòng chống tham
nhũng; Các cơ quan chức năng trong tỉnh đã bám sát và thực hiện tốt công tác phòng
chống tham nhũng: tăng cường công tác quản lý cán bộ, công chức, làm tốt công tác
chính trị tư tưởng kết hợp với các biện pháp phòng ngừa như: Công khai, minh bạch
trong việc tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, chuyển ngạch, luân chuyển, điều
động, thi đua khen thưởng; công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; triển khai mới
06 cuôc thanh ta kinh tế - xã hội, nộp ngân sách nhà nước 74 triệu đồng.
IV. Quốc phòng, An ninh và Trật tự an toàn xã hội
Công tác quốc phòng được thực hiện thường xuyên, nghiên túc ở tất cả các cấp,
các ngành. Tuyển quân năm 2010 được triển khai đúng quy định của pháp luật, đảm
bảo cả số lượng và chất lượng.
Trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Các đơn vị nghiệp vụ, Công an tỉnh và các
huyện, thị xã, thành phố đã chủ động xây dựng kế hoạch tập trung đấu tranh quyết liệt
đã kiềm chế và giảm hoạt động của tội phạm hình sự, không để hình thành băng nhóm
tội phạm, gây án nghiêm trọng … Do vậy, các tệ nạn xã hội đã hạn chế hơn
(25)
, việc
chấp hành pháp luật giao thông có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông giảm về số
25
Tính đến 30/9/2010:
Tội phạm kinh tế, môi trường xảy ra 115 vụ, 160 đối tượng, giảm 22 vụ, 42 đối tượng so với cùng kỳ
năm 2009, thiệt hại tài sản ước tính gần 15 tỷ đồng. Nổi lên vẫn là hành vi vi phạm các quy định về khai thác,
bảo vệ rừng và một số hành vi trốn thuế, tham nhũng, kinh doanh trái phép, khai thác khoáng sản trái phép v.v…
Xảy ra 13 vụ trộm cắp cáp viễn thông xảy ra tại địa bàn huyện Krông Pắk, Krông Búk, Krông Bông,
TX Buôn Hồ, thành phố Buôn Ma Thuột. Kẻ trộm đã cắt phá loại sợi Cable 200 x 2 x 0,5 với tổng chiều dài
2565m, gây thiệt hại cho doanh nghiệp 289.695.441đồng. Hiện Công an tỉnh và Công an các huyện, thành phố
liên quan đang phối hợp điều tra.
Tội phạm hình sự xảy ra 824 vụ, làm chết 32 người, bị thương 243 người, thiệt hại tài sản trị giá
khoảng 15,3 tỷ đồng, giảm 59 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đã điều tra làm rõ 586 vụ, bắt 746 đối tượng, thu
hồi tài sản trị giá trên hai tỷ đồng.
Tội phạm ma túy: Phát hiện và bắt giữ 45 vụ, 69 đối tượng, giảm 6 vụ, 25 đối tượng so với năm 2009.
Hoạt động của tội phạm ma túy trong thời gian qua thường là tàng trữ, vận chuyển, buôn bán với số lượng ít, chủ
yếu tại đại bàn thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, huyện Ea H’Leo, Krông Năng, Ea Kar.
24
người chết và người bị thương
(26)
. Tuy nhiên, thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm
ngày càng liều lĩnh, táo bạo và tính chất rất nghiêm trọng; tình trạng học sinh, thanh
thiếu niên vi phạm pháp luật còn nhiều.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Trong bối cảnh chung của cả nước và của địa phương còn nhiều khó khăn, kết
quả đạt được trên các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2010 là rất khả quan.
Kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì được tăng trưởng cao, thu ngân sách vượt kế hoạch,
đầu tư phát triển được đẩy mạnh, huy động và giải ngân vốn đầu tư có chuyển biến
tích cực. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển khá, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh
thu dịch vụ tiêu dùng và du lịch đều tăng. Sản xuất nông nghiệp tuy bị ảnh hưởng của
thiên tai, dịch bệnh, nhưng vẫn đạt kế hoạch (năm 2010, lần đầu tiên tỉnh Đắk Lắk
tham gia vào Câu lạc bộ 01 triệu tấn lương thực). Chất lượng giáo dục, y tế được nâng
lên; các hoạt động văn hoá, thể thao được tổ chức đa dạng, rộng khắp, đáp ứng được
yêu cầu của nhân dân. Các chính sách xã hội được thực hiện kịp thời, đầy đủ. Cải cách
hành chính, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước các cấp được nâng cao; An ninh quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của của tỉnh
vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: nền kinh tế của tỉnh đang tăng trưởng khá cao so
với mức tăng trưởng chung của cả nước, nhưng thiếu tính bền vững và quy mô nền kinh tế
quả nhỏ so với tiềm năng của tỉnh; tác động của suy thoái kinh tế thế giới còn rất nặng nề;
tình hình thời tiết bất lợi, dịch bệnh phát sinh diễn biến phức tạp gây hậu quả, thiệt hại
26
- Tai nạn giao thông: xảy ra 246 vụ, chết 253 người, bị thương 158 người, hư hỏng 332 phương tiện
các loại, so với cùng kỳ tăng 5 vụ, giảm 12 người chết, giảm 26 người bị thương.
25
nặng nề cho nền kinh tế của tỉnh; việc huy động vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, hạn chế; nhu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội đòi hỏi rất lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước;
tai, tệ nạn xã hội mặc dù đã được kiềm chế và giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao, phức tạp
và nghiêm trọng.
Phần II
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VÀ CÁC NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NĂM 2011
Năm 2011 có ý nghĩa đặc biệt đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và kế
hoạch 5 năm 2011-2015. Theo dự báo, năm 2011, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi
nhưng chưa vững chắc và còn nhiều khó khăn. Thị trường xuất khẩu chính của mặt
hàng cà phê của tỉnh như Hoa Kỳ, EU tăng trưởng chậm. Sự hội nhập kinh tế thế giới
của nước ta ngày một sâu hơn, đặc biệt là hội nhập Đông Á và việc thực hiện các Hiệp
định mậu dịch tự do ASEAN và ASEAN mở rộng ngày càng sâu rộng, tạo ra cơ hội
nhưng cũng đặt ra những thách thức rất lớn đối với nền kinh tế nước ta, tất yếu sẽ tác
động ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi khá nhanh và lấy lại đà tăng trưởng sau ảnh
hưởng của khủng hoảng; chính trị xã hội ổn định, môi trường kinh doanh tiếp tục được
cải thiện, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bắt đầu phát huy hiệu
quả, đây là những thuận lợi cơ bản. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố gây lạm phát cao
và bất ổn định kinh tế vĩ mô.
.