Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (367.85 KB, 37 trang )

Đề án môn học
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1

 !"#$%
&"'(!)*+,-./"0
12%/3!"#04%*567"8""%9:;<
#:5<5 5=-6=<">"35?!<*35?#
5<2==#@A7"8"B5<B%!" CDEFGEHIJ*
">"!<KL*$*MN>.***56:
OPPF*Q2%KQ#DR"11;JR$6=S7"8"KL*#
ST/95=U(#V<WX2$B+*W
(#V956.
7"*,Y=&#*Z=#*["%2\]^_W `<
7"a56^%;">"7"8"K5<""*$"%@
a#=bb7"8" =b"_["#<5.#*59Z
YZB#=5.Z5<;9*.`$=bb!
/!*/["7"8"c%!"*=&/d2"4d#%7%7#*#
/97"8"56e!5 cU7-"%;"f%!"&"/
["50 B*_8*=*/!"g;956"%@!.`
7"R564%*=><#.`!/!5#=be;"
"8*@e;""8e;""8.`*=8BW+"%
#+,3&T2d56*,-;
Z!*a2hiZ@&=8=H
(!"YZ/#0j*"7"8"5%k/__+
56@1!7"8"563h>":5/!!["
7"a:5!*9;b="l1!2C#<Z
!7";Y=Zm">"nB#^6=ST!@
["%!37"8":5Y!%!"dm"n56=T`Z!*
m"n9@3"/!_/`#["oR7"p_d6=S
56Th>":<#=5"d:#;2&2/#a^6=


S* !pq6=S7"8"*ceB#
#f7"8"H
Orr(j["7"8"#:OPPH
W"*pW7"8"se!@dt=+#>":<*"%
;;p#C=b+,c!BW*@Zd
b?<*2(5.(u3#=_;["&_
d_"504=_9B5.2h_7"8"*;["T"
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
Đề án môn học
"&"%@e;"b7"8"/W5?sB_e!=b@"
+PO"Dbo2v"&P"b4w("P"Jx"%!
U&_2W;!6=#7&%Z#Sa56#3
=5.x"%!UZe!="ah5?2&*!p"+
#=@#8%#;xe!=b8%"ahQ=""%@
b"_x5"T#=T6=S##
PPOyOPW5629"x$3Z/##!<s29"
::OPO
(?["*["T35?7"8"c"/$=Q9["#">"
d7"8"*2@7%56"*/#
""S6B5<K_d=56=&/jle;"7"
8"29ZZ*29=#=&56k5
&"i#3B9*@7%56>"*/#le;"f$%*>9
=#=:,Or
rr
1z(VN{rr
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
Đề án môn học
LỜI NÓI ĐẦU
Lúa gạo luôn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh truyền thống của Việt
Nam. Từ chỗ đảm bảo lương thực còn là mối lo, Việt Nam vươn lên xếp thứ

hai trong dự đoán 10 quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới vào năm 2003.
Giá trị xuất khẩu đạt giá trị hơn 1 tỷ USD vào năm 2005. Sản lượng gạo của
Việt Nam hàng năm tăng, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch theo
hướng phát huy lợi thế so sánh các sản phẩm ở từng vùng, từng địa phương
trong cả nước. Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên đều đặn, thị trường
được mở rộng liên tục. Hiện nay, lúa gạo của Việt Nam đã có mặt ở hơn 80
quốc gia trên thế giới. Việc xuất khẩu gạo góp phần quan trọng đưa đất nước
vượt qua thời kỳ khó khăn, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội, tạo tiền đề
bước vào giai đoạn phát triển mới công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Bên cạnh những thành công đã đạt được trong suốt thời gian qua, xuất
khẩu gạo của Việt Nam cũng gặp những khó khăn nhất định: giá gạo xuất
khẩu Việt Nam luôn thấp hơn so với các nước khác, chất lượng và thương
hiệu của hạt gạo Việt Nam hầu như chưa được biết đến trên thị trường thế
giới, xuất khẩu gạo qua trung gian tới một số nước châu Phi còn tốn kém về
chi phí Nếu những vấn đề trên được giải quyết một cách hợp lý thì xuất
khẩu gạo Việt Nam sẽ có bước phát triển cao hơn trong thời gian tới.
Từ thực trạng trên, em xin chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay ”. Nội dung của đề án gồm 3 chương:
Chương I: Vài nét về hoạt động sản xuất lúa gạo của Việt Nam
Chương II: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian qua
Chương III: Một số giải pháp cơ bản thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt
Nam trong thời gian tới
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
1
Đề án môn học
CHƯƠNG I
VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÚA GẠO
CỦA VIỆT NAM
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai đồng
bằng châu thổ rộng lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu long,

số dân cư tập trung ở nông thôn cao ( hơn 70% dân số ) do đó Việt Nam có
những điều kiện thuận lợi để phát triển lúa nước.
Từ sau đổi mới sản xuất lúa gạo của nước ta không ngừng phát triển cả
về diện tích, năng suất, sản lượng. Từ chỗ thiếu đói triền miên và phải nhập
khẩu lương thực bình quân hàng năm trên nửa triệu tấn gạo nhưng nhờ đường
lối đổi mới và quyết sách trong nông nghiệp từ năm 1989 trở đi Việt Nam
chẳng những đã sản xuất đủ lúa gạo cho nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn
dành một khối lượng lớn cho xuất khẩu.
Bảng 1 : Sản xuất lúa nói chung của cả nước 2000-2009
Năm Diện tích(1000ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2000 7666.4 42.4 32,529,500
2001 7492.5 42.9 32,108,400
2002 7503.3 45.9 34,447,200
2003 7459.3 46.3 34,518,600
2004 7051.55 48.5 34,200,000
2005 6835.9 51.2 35,000,000
2006 6498.2 54.7 35,545,000
2007 6287. 2 57.1 35,900,000
2008 6442.5 60.2 38,784,000
2009 6244.0 62.3 38,900,000
Tổng 69,480.85 351,932,700
Nguồn: Tổng cục thống kê 1-2009 và Bộ NN & PTNT, Vụ Kế hoạch
và quy hoạch 2009
1.1. Diện tích sản xuất lúa gạo
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
2
Đề án môn học
Nhìn chung, diện tích sản xuất lúa gạo ngày càng giảm nhanh chóng, từ
7.6664 triệu ha năm 2000 xuống còn 6.244 triệu ha năm 2009, tương ứng với
mức giảm 18.55% sau 10 năm. Điều này được giải thích là do diện tích đất

nông nghiệp đã và đang phải nhường chỗ cho những dự án phát triển đô thị,
xây dựng những khu công nghiệp mới của Chính phủ. Theo tính toán, năm
2020 dân số cả nước sẽ xấp xỉ 100 triệu người, năm 2030 sẽ có khoảng 110
triệu người. Tổng nhu cầu lúa cho năm 2015 là 32.1 triệu tấn, năm 2020 là
35.2 triệu tấn và năm 2030 là 37.3 triệu tấn. Tuy nhiên, tình trạng ồ ạt chuyển
đổi đất nông nghiệp đã khiến sản lượng lúa suy giảm khá lớn qua mỗi năm,
trung bình giảm từ 400,000 – 500,000 tấn/năm. Cục Trồng trọt báo động, với
tốc độ đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì sẽ không còn lúa gạo để xuất
khẩu vào năm 2020.
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
3
Đề án môn học
1.2. Về năng suất
Năng suất sản xuất lúa gạo tăng mạnh trong giai đoạn 2000 đến 2009,
từ 42.4 tạ/ha lên 62.3 tạ/ha sau 10 năm, tăng 46.93 % . Trong năm 2009,
năng suất lúa của Việt Nam vào loại cao nhất Đông Nam Á, đạt 62.3 tạ/ha.
Đây là thành quả của việc nghiên cứu và áp dụng những giống lúa mới có
năng suất cao hơn, chất lượng lúa tốt hơn với khả năng chịu sâu bệnh và yếu
tố thời tiết. Cùng với đó là những chính sách khuyến khích sản xuất nông
nghiệp của Nhà nước, nâng cao trình độ sản xuất, tay nghề của người nông
dân, thay thế công cụ sản xuất xưa cũ bằng máy móc hiện đại giúp người
nông dân nâng cao khả năng sản xuất của mình.
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
4
Đề án môn học
1.3. Sản lượng lúa gạo
Trong 10 năm, sản lượng lúa khá ổn định, tuy có những năm sản lượng
gạo giảm, năm 2001 giảm 421,000 tấn so với năm 2000, nhưng ngay sau đó,
sản lượng lúa gạo năm 2002 tăng nhanh 2,338,800 tấn. Tương tự, năm 2004
sản lượng giảm 318.600 tấn so với năm 2003 song năm 2005 sản lượng lại

tăng 800.000 tấn so với năm 2004. Kể từ năm 2005 sản lượng lúa gạo tăng
đều qua các năm, đặc biệt có bước nhảy vọt năm 2008, sản lượng gạo tăng từ
35,900,000 năm 2007 lên 38,784,000, tăng 2,884,000 tấn.
Tuy diện tích đất sản xuất lúa gạo giảm qua các năm, song sản lượng
vẫn tăng đều, có những năm đạt được bước nhảy vọt như năm 2002 và năm
2008. Do chúng ta đã giữ được mức tăng năng suất ấn tượng 46,93% trong 10
năm, những giống lúa mới, những tiến bộ về khoa học kĩ thuật ngày càng
được đưa vào sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng.
1.4. Thực trạng chế biến lúa gạo của Việt Nam
Những năm gần đây công nghệ sau thu hoạch của nước ta đã có những
tiến bộ đáng kể.
Tổn thất sau thu hoạch giảm xuống: là tổn thất xảy ra ở tất cả các khâu
của hệ thống sau thu hoạch từ khi thu hoạch, sơ chế , bảo quản, chế biến đưa
nông sản ra thị trường cho đến khi tiêu dùng.
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
5
Đề án môn học
Theo số liệu thống kê và số liệu điều tra những năm trước đây (1998-
1999) của viện công nghệ sau thu hoạch và tổng cục thống kê thì tổn thất sau
thu hoạch lúa ở Việt Nam từ 13%-16% trên tổng sản lượng lúa thu hoạch ,
tương đương 1-2% GDP hàng năm.
Theo điều tra của viện công nghệ sau thu hoạch, trong gần 10 năm
(2000-2009), nhờ áp dụng công nghệ sau thu hoạch, tổn thất sau thu hoạch
của lúa giảm xuống 10-12%. Như vậy trung bình đã giảm được 3- 4% tương
đương 1 triệu tấn lúa. Các nhà kinh tế đã tính toán rằng cứ 1% tổn thất tương
đương 7 triệu USD hay 100 tỷ đồng .
Việc giảm tỷ lệ tổn thất xuống còn 3- 4% tương ứng việc tăng thêm 1-
28 triệu USD hay 300- 400 tỷ VND cho đất nước.
Hiện nay các cơ sở xay xát đã đủ sức xay xát hết số thóc cho tiêu dùng
và xuất khẩu, trung bình mỗi năm khoảng 13.5 triệu tấn tronmg đó Đồng bằng

sông Hồng là 4 triệu tấn, sông Cửu Long là 9 triệu tấn. Các cơ sở xay xát
quốc doanh thực hiện một quy trình xay xát khép kín từ khử trấu, xát trắng
đánh bóng, tạo màu, phân loại, đóng bao. Các cơ sở tư nhân chỉ tiến hành 1
hay 2 công đoạn của quá trình xay xát gạo nhưng chiếm 75% lượng gạo xay
xát của cả nước.
Bảng 2: Hệ thống máy xay xát lúa gạo ở Việt Nam
Số máy Tổng công suất (tấn/ha)
1.Khối cơ sở quốc doanh
Miền Bắc
Miền Nam
950
278
348
3600
2756
5844
2.Khối cơ sở tự nhiên 3890 17,400
3.Các cơ sở khác 160 10,000
Tổng số 5,000 26,000
Nguồn : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn –2009
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
6
Đề án môn học
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Đặc điểm mặt hàng và đặc điểm hoạt động xuất khẩu gạo của
Việt Nam
2.1.1 Đặc điểm mặt hàng
- Tính thời vụ trong sản xuất lúa gạo: Sản xuất lúa gạo mang đặc điểm

cố hữu của sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ do vậy cũng hình thành tính
thời vụ trong xuất khẩu sản phẩm trên thị trường. Số lượng lúa gạo cung cấp
cho thị trường là không đều vào các thời điểm trong năm, điều này phụ thuộc
vào thời gian gieo trồng ( mỗi năm có 4 vụ )
- Ảnh hưởng của yếu tố điều kiện tự nhiên: sản lượng, năng suất và chất
lượng của lúa gạo phụ thuộc một phần vào yếu tố đất đai, khí hậu, hay sâu
bệnh… Vì thế mà gián tiếp ảnh hưởng tới sản lượng gạo xuất khẩu.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
2.1.2.1 Buôn bán giữa các chính phủ là chủ yếu vì thế xuất khẩu sản
phẩm lúa gạo ổn định hơn so với hàng công nghiệp
Nguyên nhân thứ nhất là do yếu tố chính trị quốc gia. Mỗi nước đều
phải đảm bảo an ninh lương thực nếu lương thực không được đảm bảo sẽ dẫn
tới những ảnh hưởng rất lớn tới chính trị của quốc gia đó. Vì thế buốn bán chủ
yếu được ký kết giữa các chính phủ với nhau thông qua các hiệp định và các
hợp đồng có tính nguyên tắc dài hạn và cụ thể hàng năm vào đầu các niên vụ.
Nguyên nhân thứ hai là một số nước dùng xuất khẩu gạo để thực hiện
các ý đồ chính trị thông qua viện trợ, cho không, bán chịu dài hạn… điều này
được thực hiện giữa các chính phủ là chủ yếu.
2.1.2.2 Chỉ có một số nước nhất định đóng vai trò chi phối thị trường
xuất khẩu gạo trên thế giới
Trên thế giới chỉ có một vài nước là xuất khẩu với một lượng gạo lớn
và uy tín: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc… Nếu lượng gạo xuất
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
7
Đề án môn học
khẩu của các nước này có sự biến động sẽ gây ra những ảnh hưởng nhất định
tới cung- cầu gạo trên thị trường gạo xuất khẩu từ đấy tác động tới giá của sản
phẩm này
Trên thị trường xuất khẩu gạo thế giới có rất nhiều loại gạo khác nhau
do các nước xuất khẩu cung cấp cho thị trường. Vì vậy khi nói giá gạo xuất

khẩu thường nói rõ cấp loại nào ( 5% tấm, 10% tấm …) và điều kiện giao
hàng nào ( FOB, CIF…) Tương ứng với mỗi loại gạo, tùy thuộc chất lượng,
phẩm cấp khác nhau, lại hình thành một mức giá cụ thể phụ thuộc vào các
tiêu chuẩn đã đưa ra từ trước về chọn giá quốc tế, trong nhiều thập kỉ qua giá
gạo xuất khẩu Thái Lan là giá gạo quốc tế.
Tuy đã có giá gạo quốc tế nhưng giá gạo của một cấp gạo cụ thể giữa
các nước xuất khẩu là không đồng nhất: giá gạo Việt Nam thường thấp hơn
giá gạo Thái Lan hoặc một số nước khác dù cùng cấp độ. Điều này là do uy
tín, chất lượng sản phẩm, do điều kiện tự nhiên và giống tạo ra sản phẩm lúa
gạo đó ở Việt Nam thực tế chưa bằng Thái Lan !
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Việt Nam
2.2.1. Các nhân tố khách quan
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nước ta như đã biết có 2 vựa lúa gạo lớn nhất đó là Vựa lúa gạo Đồng
bằng Sông Cửu Long và vựa lúa gạo Đồng bằng Sông Hồng. Đồng bằng Sông
Hồng vốn nổi tiếng về nền văn minh lúa nước, sản xuất tại đây chủ yếu là đáp
ứng lương thực tại chỗ . Khác với vùng đồng bằng sông Hồng, ĐBSCL _ nơi
xuất khẩu gạo chủ lực của cả nước_ mang nặng tính chất sản xuất hàng hóa
hơn. Hàng năm cung cấp khoảng 50% sản lượng lúa, đóng góp 90% sản
lượng gạo xuất khẩu cho cả nước. Với khí hậu trái đất đang dần biến đổi,
cùng với điều kiện địa lý Việt Nam, mấy năm gần đây, hạn hán , mưa bất
thường. Vùng ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ : nước mặn xâm nhập sâu
vào vùng nước ngọt, hạn hán kéo dài. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
8
Đề án môn học
tới tổng sản lượng gạo nước ta, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới sản lượng gạo
xuất khẩu ra thị trường thế giới.
2.2.1.2 Tình hình thị trường lúa gạo thế giới và đối thủ cạnh tranh
trực tiếp

Việt Nam được biết đến là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế
giới,sau Thái Lan ( là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, hàng năm bán từ 7
triệu đến 8 triệu tấn trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn. Đây là quê
hương của gạo thơm Jasmina ). Bên cạnh đó còn có: Mỹ, Pakistan, Ấn Độ. Gần
đây có thêm Myanma là đối thủ cạnh tranh đáng kể tới của Việt Nam.
Thị trường gạo thế giới hiện đang có biến động mạnh, với tình hình
thiên tai hạn hán, bão lụt đã ảnh hưởng đến sản lượng các quốc gia xuất khẩu
và cả những quốc gia tiêu thụ gạo chính trong thời gian qua bao gồm:
Pakistan, Trung Quốc, Philippines và Thái Lan. Dẫn tới tình trạng, cung
không đáp ứng đủ cầu.
Thêm nữa, xu thế tiêu thụ của thế giới là gạo chất lượng cao (CLC)
đang tăng nhanh ở các nước nhập khẩu, do đó nếu không nâng cao chất lượng
hạt gạo thì khó lòng đứng vững ở thị trường xuất khẩu. Như Malaysia,
Philippines trước đây mua gạo loại 15-25% tấm, nhưng hiện cần loại 5-15%
tấm. Các nước nhập khẩu gạo dù thiếu ăn nhưng vẫn lấy rào cản về an toàn vệ
sinh thực phẩm để cản chân, hạ giá mua gạo Việt Nam, dù Việt Nam chiếm
đến 15% thị trường gạo toàn cầu, trong đó 90% sản lượng từ vựa lúa ĐBSCL.
Pakistan và Myanmar đang nổi lên trở thành đối thủ cạnh tranh lớn của Việt
Nam tại thị trường gạo phẩm cấp thấp 25% tấm ở châu Phi.
2.2.2. Các nhân tố chủ quan
2.2.2.1. Nhân tố về cơ sở vất chất – kỹ thuật và công nghệ của sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
9
Đề án môn học
- Các nhân tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật đó là hệ thống vận chuyển,
kho tàng, bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này bảo đảm việc
lưu thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo cung cấp nguồn hàng một cách
nhanh nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí lưu thông.
- Các nhân tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan

trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ gạo. Hệ
thống chế biến với công nghệ dây truyền hiện đại sẽ gạp phần tăng chất lượng
và giá trị của gạo.
2.2.2.2. Nhân tố về chính sách vĩ mô
Nhóm nhân tố này thể hiện sự tác động của nhà nước tới hoạt động
xuất khẩu gạo. Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới
tham gia thị trường xuất khẩu rất cần tới sự quan tâm hướng dẫn của nhà
nước. Đặc biệt hiện nay khả năng marketinh tiếp cận thị trường, sự am hiểu
luất kinh doanh, khả năng quản lý của doanh nghiệp còn hạn chế, vì thế việc
đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác tiêu thụ là rất quan trọng. Hơn
nữa hiện nay xuất khẩu gạo gọp phần rất lớn vào phát triển nền kinh tế nhưng
đời sống của người nông dân còn gặp nhiều khó khăn yêu cầu nhà nước cần
có sự điều tiết lợi ích giữa nhà nước – doanh nghiệp – người nông dân sao
cho thoả đáng và hợp lý nhất.
2.3. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua
2.3.1. Số lượng và kim ngạch xuất khẩu
Nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật, điện khí hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa
nông nghiệp, đưa nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng từng
bước được cải biến rõ rệt,phát triển với tốc độ nhanh, kỹ thuật và công nghệ
ngày càng hiện đại. Mức lương thực bình quân nói chung và lúa gạo nói riêng
liên tiếp được cải thiện, Việt Nam không những tự túc được lương thực trong
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
10
Đề án môn học
nước ( năm 1988 chúng ta vẫn phải nhập 15 vạn tấn gạo ), mà còn dư thừa
lương thực để xuất khẩu. Trong giai đoạn 2000-2009, nước ta vươn lên là
nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới, sau Thái Lan, với 6 triệu
tấn gạo xuất khẩu năm 2009, thu lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế quốc
dân, cải thiện rõ rệt cán cân thanh toán quốc tế.
Bảng3: Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam

Năm Số lượng (nghìn tấn) Giá trị(triệu USD)
Số lượng Thay đổi
tương đối
Giá trị Thay đổi
tương đối
2000 3476 672
2001 3729 +7.28 % 619 -7.90%
2002 3240 -13.11 % 726 +17.29%
2003 3890 +20.06 % 734 +1.01%
2004 4200 +7.97% 870 +18.53%
2005 4900 +16.67% 1300 +49.43%
2006 4570 -6.73% 1276 -1.85%
2007 4540 -0.64% 1.470 +15.2%
2008 4700 +3,24% 2.600 +76.87%
2009 6000 +27.66% 2.600 ~ 0%
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê-2009
Trong suốt 10 năm từ 2000-2009 hầu như xuất khẩu gạo Việt Nam đều
tăng cả về số lượng lẫn kim ngạch, tăng từ 3476 nghìn tấn lên 6000 nghìn tấn,
tương đương 72.61% . Đặc biệt có 2 mốc khá quan trọng chúng ta cần quan
tâm là năm 2005 và 2008 :
Năm 2005, sản lượng gạo và kim ngạch tăng lần lượt là 16.67% và
49.43% , mức tăng chưa từng có trong xuất khẩu gạo ở Việt Nam. Xuất được
gần 5 tỷ tấn gạo, phá kỷ lục năm 1999 là 4.5 triệu tấn gạo. Một trong những
nguyên nhân thắng lợi lớn về xuất khẩu gạo năm 2005 là công tác xúc tiến
thương mại được tăng cường nên số lượng khách hàng mua gạo của Việt Nam
ngày càng ngày nhiều (có tới 281 khách hàng lớn nhỏ). Nếu như khách hàng
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
11
Đề án môn học
mua gạo số lượng nhiều nhất các năm trước khoảng 100,000 tấn thì năm 2005

đã có 10 khách hàng mua từ 100,000 đến hơn 300,000 tấn.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực giao dịch mở rộng
thị trường xuất khẩu gạo sang Nhật Bản, thị trường yêu cầu rất chặt chẽ về
kiểm tra chất lượng; khôi phục lại thị trường Iran, từ chỗ xuất khẩu chỉ có
58,000 tấn năm 2004, tăng lên 284,000 tấn năm 2005; đẩy mạnh xuất khẩu
sang thị trường Châu Phi, với khối lượng chiếm khoảng 1/3 trong tổng lượng
gạo xuất khẩu.
Năm 2008, sản lượng gạo tăng chỉ 3.24% song kim ngạch lại tăng tới
76.87% so với năm 2007. Nếu nói về năm 2005 là năm tăng về sản lượng thì
năm 2008 là sự đột phá về kim ngạch xuất khẩu gạo.
Nguyên nhân của sự chênh lệch giữa mức tăng về sản lượng và kim
ngạch quá lớn như vậy có thể giải thích như sau: Trong năm 2008, mức độ
cảnh báo an ninh lương thực của thế giới đưa lên rất cao, do hạn hán, thiên tai
mất mùa nên tình trạng thiếu đói xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,
chính phủ đã có những chủ trương bảo đảm an ninh lương thực, hạn chế xuất
khẩu gạo. Nhưng đến những tháng cuối năm, Việt Nam rơi vào tình trạng
thừa gạo trong nước mà giá cả gạo thế giới tăng quá mạnh do các nước có nhu
cầu lớn về nhập khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực. Điều này là một bước
đi sai lầm của Việt Nam khi có quyết định hạn chế xuất khẩu trong năm 2008.
Năm 2008 xuất khẩu gạo đạt 4,7 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,9 tỉ đô la
Mỹ (tính ra, giá bán bình quân 617,02 đô la Mỹ/tấn). Năm 2009 xuất khẩu đạt 6
triệu tấn, kim ngạch đạt 2.6 tỉ đô la Mỹ (giá bán bình quân 433,33 đô la Mỹ/
tấn).
Như vậy, mặc dù năm 2009 xuất khẩu nhiều hơn năm 2008 đến 1,3 triệu
tấn gạo, nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 300,000 đô la Mỹ, giá bán giảm
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
12
Đề án môn học
183,69 đô la Mỹ/tấn. Các con số này thể hiện hai thái cực trong việc kinh doanh
xuất khẩu gạo giữa doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông dân sản xuất lúa.

Với việc giá bán gạo giảm 183,69 đô la Mỹ/tấn so với năm 2008, tính
ra số tiền bị mất đi lên đến 1,10 tỉ đô la Mỹ (183,69 đô la Mỹ x 6 triệu tấn
gạo). Điều này là do ảnh hưởng khách quan của thị trường thế giới, giá gạo
xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh, chất lượng gạo của Việt Nam cho tới
năm 2009 chưa có nhiều khác biệt so với những năm trước, vì vậy giá thành
rẻ hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác.
2.3.2. Thị trường và giá cả xuất khẩu
2.3.2.1. Thị trường
Thị trường chính của hạt gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn là các nước
châu Á. Và Philippines là quốc gia nhập khẩu nhiều gạo nhất của Việt Nam
kể từ năm 1995. Cho đến trước năm 2005, Việt Nam bán gạo cho quốc gia
này chủ yếu bằng con đường ngoại giao, thông qua đàm phán cấp Chính phủ.
Số liệu từ tổng cục hải quan năm 2009
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
13
Đề án môn học
Trong năm 2009, đứng đầu về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam
vẫn là Philippine, với 1,7 triệu tấn, trị giá hơn 912 triệu USD , tăng 6.25% về
lượng và tăng tới 35.11% về trị giá so với năm 2008. Tiếp theo phải kể đến
Singapore, từ vị trí thứ ba trong năm 2008, đã vươn lên đứng thứ hai với thị
phần 7.6%, tương đương với lượng gạo nhập khẩu hơn 611 nghìn tấn, trị giá
khoảng 271 triệu USD. Xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là gạo 25%
tấm. Các quốc gia thuộc châu Á nằm trong top 10 thị trường nhập khẩu gạo
lớn nhất của Việt Nam năm 2009 còn có: Malaysia (đạt 329 nghìn tấn, kim
ngạch thu về là 134 triệu USD), Đông Timo (242 nghìn tấn, trị giá 97 triệu
USD), Đài Loan (203 nghìn tấn thu về 81 triệu USD) và Iraq (168 nghìn tấn
mang lại 68 triệu USD).
Xuất khẩu sang Indonesia năm 2009 tăng khá mạnh, đạt 1,169 triệu tấn
gạo với trị giá 378,980 triệu USD, tăng tới 344,1% về lượng và tăng 362,3%
về trị giá so với năm 2008; còn so với năm 2007 tăng 1029,39% về lượng và

tăng 1220,74% về trị giá. Thị trường này chủ yếu nhập khẩu gạo 15% tấm và
gạo nếp 10% tấm.
Gạo Việt Nam đã xuất khẩu vào thị trường châu Phi với số lượng ngày
càng tăng, trong tổng số 6,2 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm 2009 thì có đến
1,8 đến 2 triệu tấn được xuất khẩu vào châu Phi. Tuy có nhu cầu lớn về gạo
song người tiêu dùng châu lục này vẫn thích mua gạo loại tốt và họ rất cẩn
trọng trong việc chọn mua gạo không những có chất lượng tốt mà giá cả cạnh
tranh và bao bì mẫu mã đẹp.
2.3.2.2. Giá cả xuất khẩu
Bảng 4 : Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Giá BQ
(USD/tấn)
192 165 224 187 233 251 259 295 614 404
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
14
Đề án môn học
Nguồn : Tổng hợp từ niên giám thống kê và thời báo kinh tế
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam trong 10 năm qua có thể chia làm 2 giai đoạn:
_ Giai đoạn thứ nhất : từ 2000-2005, giá gạo xuất khẩu tăng giảm
không đều, năm 2001 giảm 27USD/ tấn so với năm 2000. Nhưng năm 2002,
lại tăng 59 USD/tấn với năm 2001 và tăng 32 USD/tấn so với năm 2000. Tới
năm 2003, giá gạo xuất khẩu lại giảm 37 USD/ tấn, và cũng như năm 2002,
năm 2004 giá lại tăng tới 46 USD/ tấn so với năm 2003 và tăng 9USD/ tấn so
với năm 2002. Từ năm 2000 đến năm 2004, giá lúa gạo của Việt Nam trên thị
trường thế giới tăng do chất lượng ngày càng được nâng cao, góp phần thu
hẹp dần khoảng cách về giá gạo xuất khẩu của Việt Nam với các nước khác.
Trước đây, bình quân giá gạo xuất khẩu của Việt Nam so với loại gạo tương
đương của Thái Lan thường thấp hơn từ 20-30 USD/tấn thì thời điểm cuối
năm 2003, giá gạo Việt Nam xuất khẩu từ 185-190 USD/tấn, chỉ thấp hơn giá

gạo của Thái Lan từ 5-10 USD/tấn. Đặc biệt năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu
gạo đạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho đất nước hơn 1,34 tỉ USD, giá gạo bình
quân đạt 267 USD/tấn. Đây là mức cao nhất đạt được trên cả 3 chỉ tiêu số
lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị
trường gạo thế giới. So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn
(25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD (45%) và giá cả tăng 48 USD/tấn
(15%). Đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 đạt
lượng gạo xuất khẩu trên 4 triệu tấn, năm thứ 2 đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD; và
giữ vững vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (vượt qua Ấn Độ).
_ Giai đoạn thứ hai: từ 2006-2009, giá gạo xuất khẩu liên tục tăng,năm
2006 là 259 USD/tấn, năm 2009 là 404 USD/tấn, trung bình giá tăng 29.28%/
năm. Đặc biệt năm 2008, tăng rất mạnh, từ 295 USD/tấn năm 2007 lên 614
USD/tấn, tăng 319 USD/tấn, tương đương 108.13% . Nguyên nhân là do năm
2008, xảy ra tình trạng khủng hoảng lương thực trên thế giới, an ninh lương
thực là vấn đề cấp thiết của nhiều quốc gia, cầu gạo trở nên lớn hơn bao giờ
hết, giá gạo được đội lên ở tất cả các phẩm cấp gạo.Trong những năm gần
đây,Việt Nam là nước có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
15
Đề án môn học
Thái Lan. Nhưng Gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp nhất nếu so
với gạo cùng loại của các nước khác. Trong năm 2009, lượng gạo xuất khẩu
đạt hơn 6 triệu tấn các loại. Chiếm 15% thị trường xuất khẩu gạo toàn cầu,
nhưng hạt gạo Việt Nam giá trị xuất còn thấp, một bộ phận đời sống người
trồng lúa còn gặp khó khăn. Năm 2008, giá gạo bình quân 614 USD/tấn, còn
tính đến thời điểm 2009, giá gạo xuất khẩu chỉ hơn 404 USD/tấn.
Bản chất vấn đề là do gạo Việt Nam kém sức cạnh tranh dẫn đến thua
thiệt về giá. Vậy kém sức cạnh tranh do đâu? Thiết nghĩ, do những đặc thù cơ
bản sau:
Không nhạy bén về thị hiếu khách hàng: Hiện nay, chất lượng gạo xuất

khẩu tuy có tăng lên so với các năm trước nhưng vẫn chưa phù hợp với nhu
cầu thị trường thế giới, nhất là thị trường các nước công nghiệp phát triển.
Gạo xuất khẩu của nước ta chủ yếu vẫn trắng (95 – 97%), trong khi nhu cầu
thế giới nhất là Mỹ, Nhật, EU lại cần loại gạo thơm, ngon, hạt dài, chất lượng
cao. Năm 2005, Công ty Minh Cát (nhãn hiệu Kim Kê) đã nhận hợp đồng
xuất khẩu gạo sang Mỹ, khách hàng đồng ý bao gói. Nhưng khi phía Thái Lan
tới chào hàng thì họ lại không nhận gạo của ta nữa, vì gạo Thái Lan có chất
lượng cao hơn.
Thiếu đồng bộ trong sản xuất, thu mua và chế biến:
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
16
Đề án môn học
Về sản xuất, đặc tính phân tán, tự phát, quy mô nhỏ lẻ theo hộ gia đình
vẫn là cản trở lớn cho việc sản xuất hàng loạt lúa chất lượng cao theo yêu cầu
xuất khẩu gạo. Mạng lưới thu mua, vận chuyển lúa hàng hoá phục vụ xuất
khẩu gạo vẫn phụ thuộc quá lớn vào thương lái, chưa có sự tham gia tích cực
của các doanh nghiệp lương thực Nhà nước. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục
vụ chế biến, bảo quản xuất khẩu còn yếu kém, lại phân bố không đều. Hệ
thống nhà máy xay xát, đánh bóng gạo xuất khẩu được cải tiến nhưng vẫn còn
ít và xa vùng nguyên liệu. Do yếu trong khâu bảo quản như: lẫn chủng loại,
độ ẩm cao, hạt lép, biến màu… nên khi thóc được chuyển đến cơ sở sản xuất
đã giảm chất lượng. Hiện nay, phần lớn các cơ sở chế biến và kinh doanh
chưa áp dụng tiêu chuẩn, kể cả tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn cơ sở, cho
sản phẩm của mình. Những điều này tạo cho khách hàng những mặc định tâm
lý không tốt về chất lượng gạo Việt Nam, mặc dù trên thực tế, chúng ta không
ngừng nỗ lực để nâng cao phẩm cấp hạt gạo.
Thiếu tính dự báo: Việc tổ chức, điều hành xuất khẩu gạo như hiện nay
cũng đang bộc lộ những nhược điểm. Kế hoạch xuất khẩu gạo được ấn định
từ đầu năm trong khi chưa biết kết quả sản xuất lúa trong năm như thế nào, do
đó liên tục phải điều chỉnh. Kế hoạch không gắn sát với thực tế sản xuất nên

tính khả thi thấp. Việc dựa vào “nhu cầu” của khách hàng theo hợp đồng ký
kết để quyết định xuất khẩu gạo cả năm mà chưa tính đến yếu tố “cung” là
chưa hợp lý. Bởi thực tế, “cung” có thể chịu biến động bởi ngoại cảnh khách
quan. Đã xuất hiện tình trạng một số hợp đồng được ký từ đầu năm với giá
thấp nhưng cuối năm giá cao nên nông dân không bán lúa theo hợp đồng, dẫn
đến tình trạng vỡ hợp đồng xuất khẩu gạo, làm giảm lòng tin của khách hàng
và thiệt hại cho các DN xuất khẩu gạo.
2.3.3. Tổng quan về xuất khẩu gạo Việt Nam 11 tháng năm 2010
Trong năm 2010, có những điểm nổi bật như : mua được 5,6 triệu tấn
quy gạo (tương đương trên 11 triệu tấn lúa); giá mua lúa bình quân là 4.430
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
17
Đề án môn học
đồng/kg (cao hơn mức giá chỉ đạo của Chính phủ); đến nay đã xuất khẩu đạt
6,3 triệu tấn gạo và dự kiến cả năm đạt 6,7 triệu tấn và thu về trên 3 tỷ USD;
….
Theo báo cáo của ông Huỳnh Minh Huệ - Tổng Thư ký Hiệp hội Lương
thực Việt Nam cho biết, tính đến ngày 30/11/2010 các doanh nghiệp đã đăng
ký hợp đồng xuất khẩu gạo được 6,927 triệu tấn, tăng 8,86% so với cùng kỳ
năm 2009; đã xuất khẩu đến ngày 30/11/2010 được 6,267 triệu tấn; số lượng
còn lại theo hợp đồng phải giao từ tháng 12/2010 là 660.000 tấn, trong đó
giao hàng trong năm 2010 là 460.000 tấn và giao hàng trong quý I năm 2011
là 200.000 tấn gạo.
Cũng trong tháng 11/2010, số lượng đã xuất khẩu được 430.202 tấn gạo
các loại với trị giá 202,546 triệu USD theo giá FOB (theo giá CIF là 209,357
triệu USD); đơn giá xuất khẩu bình quân đạt 470,82 USD/tấn. Kết quả xuất
khẩu gạo trong tháng 11/2010 giảm 3,34% về số lượng nhưng vẫn tăng 5,27%
về trị giá FOB (tăng 4,33% về trị giá CIF) và đơn giá xuất khẩu bình quân đã
tăng được 38,49 USD/tấn so với tháng 10/2010. Nếu so với cùng kỳ năm
2009 đã tăng 28,72% về số lượng và tăng đến 47,08% về trị giá FOB (tăng

48,96% trị giá CIF), và đơn giá xuất khẩu bình quân tăng 58,76 USD/tấn theo
giá FOB.
Tính chung 11 tháng của năm 2010 đã xuất khẩu được 6,267 triệu tấn
với tổng trị giá FOB là 2,673 tỷ USD (trị giá CIF là 2,916 tỷ USD), tăng
9,94% về số lượng và tăng 15,63% về trị giá FOB (tăng 14,92% trị giá CIF);
đơn giá xuất khẩu bình quân đạt 426,59 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2009.
Trong đó, hợp đồng xuất khẩu tập trung chiếm 42,48% và hợp đồng thương
mại chiếm đến 57,52%.
Lượng hàng tồn kho đến ngày 30/11/2010 còn khoảng 838.759 tấn.
Theo dự báo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam thì trong tháng 12/2010 sẽ
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
18
Đề án môn học
xuất khẩu khoảng 450.000 – 500.000 tấn gạo.Như vậy tổng cộng cả năm 2010
xuất khẩu gạo dự kiến đạt khoảng 6,7 – 6,75 triệu tấn.
Theo đánh giá của Hiệp hội Lương thực Việt Nam về tình hình xuất
khẩu gạo 11 tháng năm 2010 có những nội dung nổi bật sau:
Về thực hiện xuất khẩu: tiến độ xuất khẩu đến nay là phù hợp với kế
hoạch đã đề ra, mặc dù có thể tăng nhẹ so với mục tiêu dự kiến trong 2 tháng
cuối năm 2010 nhưng vẫn không ảnh hưởng đến cân đối xuất khẩu chung. Về
trị giá xuất khẩu tăng cao do đơn giá xuất khẩu bình quân tăng cao đối với các
hợp đồng được ký kết từ tháng 9/2010 đến nay.
Về đăng ký hợp đồng xuất khẩu: Số lượng hợp đồng đăng ký trong
tháng 11/2010 với trên 200.000 tấn (chủ yếu là hợp đồng thương mại), nhưng
vẫn thấp hơn số lượng hợp đồng cũ hết hạn hoặc hủy trong tháng. Do đó, số
lượng hợp đồng thương mại còn lại chưa giao hàng bị giảm nhiều và chủ yếu
là hợp đồng ký mới giao hàng trong tháng 12/2010 và một phần giao tháng
01/2011.
Do nguồn cung cấp hạn chế, nên số lượng hợp đồng ký thêm giao hàng
từ nay đến tháng 02/2011 cũng sẽ không còn nhiều và tiến độ giao hàng quý I

năm 2011 có thể đạt rất thấp. Đồng thời các nhà nhập khẩu nước ngoài đang
quay lại thị trường Thái Lan dù giá cao hơn VN 10-20 USD/tấn, do nguồn
cung của Việt nam hạn chế.
Tình hình xuất khẩu của các nước khác:
Đến cuối tháng 10 vừa qua, Thái Lan chính thức thừa nhận vụ mùa
chính, kết thúc tháng 3/2011, giảm khoảng 1,6 triệu tấn lúa, từ 23,5 triệu tấn
năm ngoái, xuống còn 21,9 triệu tấn và dự kiến năm 2011 chỉ có thể xuất
khẩu 8,5 – 9 triệu tấn, thấp hơn 500.000 tấn so năm 2010…
Theo một tờ báo điện tử của Bangladesh, Bộ Lương thực Bangladesh
cho biết nước này sẽ ký thỏa thuận dài hạn nhập khẩu gạo VN sau cuộc họp
với đại sứ VN tại Bangladesh Nguyễn Văn Thật ngày 24-11.
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
19
Đề án môn học
Theo đó, Bangladesh sẽ thỏa thuận với VN sớm để mua gạo bất cứ lúc
nào trong trường hợp có khủng hoảng hay thiên tai. Khoảng 300.000-500.000
tấn gạo có thể được nhập khẩu theo thỏa thuận này. Bộ Lương thực
Bangladesh cho biết đã nhập khẩu 95.000 tấn gạo từ VN trong năm nay và
100.000 tấn nữa cho năm tiếp .
Vấn nạn về thiên tai cũng ảnh hưởng tới các nước xuất khẩu gạo. Báo
Trung Quốc Global Times ước tính sản lượng gạo ở Trung Quốc sẽ giảm
khoảng 10% trong năm nay. Tại nhiều vùng lúa chính bị lũ lụt ảnh hưởng
nặng nề như Giang Tây, An Huy, sản lượng có thể giảm 20-30%.
Hiện Trung Quốc là nhà sản xuất và tiêu thụ lúa gạo lớn nhất thế giới.
Mỗi năm nước này chiếm 35% sản lượng sản xuất gạo toàn cầu nhưng vẫn
phải nhập khẩu 174.000 tấn nửa đầu năm 2010.
Ấn Độ tuy tồn kho gấp đôi năm ngoái, lên đến hơn 20 triệu tấn, nhưng
đứng trước mối lo giá cả tăng cao, lạm phát nên họ phải cân nhắc quyết định
tham gia xuất khẩu…
Thị trường nhập khẩu:

Có thể nói, nhu cầu nhập khẩu gạo vào các tháng đầu năm 2011 là rất
lớn, trong khi đó, do ảnh hưởng thời tiết hạn hán, mưa bão khiến sản lượng
lúa ở nhiều quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu giảm sút.
Ngoài Philippines, hai thị trường khác là Indonesia và Malaysia cũng
hứa hẹn mang lại sự sôi động cho thị trường gạo vào đầu năm tới. Indonesia,
sau hai năm nỗ lực tự túc bằng cách tăng cường sản xuất thì đến cuối năm
nay, họ cũng nhập hơn nửa triệu tấn gạo và dự kiến nhập thêm khoảng 700.000
tấn trong tháng 1/2011. Philippines, Indonesia hay Malaysia là những thị trường
tập trung truyền thống của Việt Nam. Chủng loại gạo họ mua thường là 25% tấm
nên chúng ta có nhiều cơ hội bán gạo cho họ. Hơn nữa, các nước này mua gạo từ
Việt Nam không chỉ có giá cả cạnh tranh hơn Thái Lan, Pakistan, hay Myanmar
mà còn lợi thế về cước vận chuyển rẻ do cự ly gần…
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
20
Đề án môn học
Ngoài ra, có dự báo nguồn gạo tồn kho ở Cuba, các quốc gia châu Phi,
Trung Đông còn khá thấp cũng khiến họ phải đẩy mạnh việc mua gạo dự trữ.
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu gạo sẽ tiến triển tốt đẹp trong những
tháng đầu năm tới, tuy nhiên Việt Nam nên tìm cách khắc phục những mặt
còn hạn chế của mình, để thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, ông
Trương Thanh Phong đề nghị các doanh nghiệp hội viên quan tâm một số nội
dung như: Hiệp hội có chủ trương không ngừng hoạt động xuất khẩu gạo, nên
quản lý điều hành luân chuyển tiêu thụ gạo xuất khẩu bình thường và sẽ chủ
động tiếp tục triển khai cho mua tạm trữ 02 triệu tấn gạo (vụ Đông Xuân 01
triệu tấn gạo và vụ Hè Thu 01 triệu tấn gạo); khuyến khích nhân rộng mô hình
liên kết hợp tác xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao tại các địa phương;
khuyến khích trực tiếp mua lúa gạo từ người nông dân, hạn chế tình trạng
mua lại giữa các doanh nghiệp để tránh đẩy giá lên; tiếp tục đẩy mạnh việc
mua lúa từ Campuchia chuyển sang hiện đang vào vụ thu hoạch rộ; lưu ý các
doanh nghiệp khi ký hợp đồng giao gạo trong các tháng 01 và 02/2011 vì

lượng gạo không có nhiều; nhận định dự báo giá gạo thế giới sẽ không có
nhiều khả năng giảm trong năm 2011
2.4. Đánh giá tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua
Xuất khẩu gạo nước ta 10 năm qua đã đạt được những thành tựu đáng
kể, đóng góp một lượng ngoại tệ lớn cho nền kinh tế trong nước, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế. Trong 10 năm, tổng kim ngạch xuất khẩu gạo ra thị
trường thế giới của Việt Nam đạt 12.867 tỷ USD. Góp phần nâng cao GDP cả
nước, nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết.
Về thị trường:
Chúng ta vẫn chưa thiết lập được hệ thống thị trường thực sự ổn định
với mạng lưới khách hàng thực sự tin cậy. Cho đến nay, phương thức xuất
khẩu qua khâu trung gian vẫn còn chiếm tỷ trọng khá lớn, mặc dù chúng ta
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
21
Đề án môn học
có nhiều cố gắng để tăng cường xuất khẩu trực tiếp. Đặc biệt việc xuất khẩu
qua khâu trung gian vào Châu Phi vẫn còn diễn ra khá phổ biến.
Nguyên nhân do việc nghiên cứu thị trường xuất khẩu chưa được chú
trọng, các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cần lắm bắt kịp thời mọi thông tin
cập nhật, chính xác nhằm bảo đảm hiệu quả hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu.
Nhiều năm qua, các nguồn và loại tài liệu về thị trường gạo thế giới phục vụ
hoạt động kinh doanh xuất khẩu cũng như phục vụ cho công tác quản lý xuất
khẩu và công tác nghiên cứu, nhìn chung còn quá ít ỏi chưa đáp ứng được
yêu cầu thực tế. Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu đòi hỏi phải có những
thông tin sâu rộng về thị trường để theo dõi kịp thời về hệ thống và diễn biến
cung- cầu và giá cả.
Giá cả xuất khẩu
Hiện nay giá xuất khẩu của nước ta còn thấp hơn giá quốc tế cũng như
giá xuất khẩu ở các nước khác.Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn
nhiều so với giá quốc tế.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do:
- Chất lượng gạo Việt Nam thấp - điều này do trình độ kỹ thuật lạc hậu
từ khâu tạo giống đến khâu chế biến chính vì thế với cùng cấp gạo nhưng giá
gạo của Việt Nam luôn thấp hơn so với các nước khác. Nhiều nhà khoa học
cho rằng chưa có thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế là do chất
lượng gạo Việt Nam chưa cao. Khi nói đến Khaodakmali là người ta nghĩ
ngay đến gạo Thái Lan; nói Basmati là ý chỉ gạo Ấn Độ, Pakistan; nhưng ta
chỉ có một tên gọi "Gạo trắng Việt Nam", nên thường thua thiệt ở thị trường
quốc tế.
- Gạo Việt Nam chưa có được uy tín trên thị trường quốc tế, các doanh
nghiệp Việt Nam chưa biết quảng bá xây dựng một thương hiệu vững mạnh
được người tiêu dùng tin tưởng.
Dự đoán xuất khẩu gạo không mấy khi chính xác
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
22
Đề án môn học
Đầu năm 2008, thế giới bàng hoàng trước cơn bão có tên là giá lương thực,
dù đã được dự báo. Đã có có ít nhất 37 nước trên thế giới phải đối mặt với tình
trạng khủng hoảng lương thực. Đến những ngày tháng Tư, giá gạo - lương thực
chính của hơn nửa dân số trên toàn thế giới, đột ngột tăng từ 550 USD/tấn lên
760 USD/tấn rồi 1.000 USD/tấn đã khiến hàng triệu người ở châu Mỹ, châu Phi
và cả ở châu Á - “vựa lúa của thế giới” lâm vào cảnh thiếu đói.
Việc quyết định hạn chế, kiểm soát xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
khoảng thời gian giá lương thực thế giới leo thang với lý do đảm bảo an ninh
lương thực trong năm 2008 không mấy chính xác. Điều này dẫn tới cuối năm
2008, nước ta dư thừa gạo, xuất khẩu gạo năm 2008 chỉ tăng 3.24% trong khi
giá gạo xuất khẩu tăng từ 296 USD/tấn lên 614 USD/tấn.
Trong thời gian qua, việc quản lý thị trường xuất khẩu gạo còn
nhiều bất cập. Có quá nhiều đầu mối xuất khẩu, cạnh tranh không lành
mạnh để xảy ra hiện tượng tranh mua, tranh bán làm thiệt hại nhiều cho

nguồn lợi của đất nước. Một số doanh nghiệp được phân bổ chỉ tiêu xuất
khẩu trong khi không có thực lực, không có giải pháp nâng cao chất lượng
hạt gạo cũng như nâng chuỗi giá trị của nó, để xảy ra hiện tượng cai đầu
dài, bán chỉ tiêu Do vậy, cần có giải pháp ngăn chặn.
Nguyễn Ngọc Linh TMQT 49
23

×