Phần I. MỞ ĐẦU
•
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió
mùa, rất đa dạng về địa hình, kiểu
đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu
khác nhau giữa các miền.
•
Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để
giới sinh vật phát triển đa dạng về
thành phần loài, phong phú về số
lượng.
I. Diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam.
•
Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc
(theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg
của Thủ tướng Chính phủ ký ngày
5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do
Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành,
diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam
tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha.
Trong đó diện tích RNM tự nhiên là
59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM
trồng là 96.876ha chiếm 61,95%.
A. ĐA DẠNG LOÀI RỪNG NGẬP MẶN VIỆT NAM
Phần II: NỘI DUNG
•
rừng trồng đước (Rhizophora apiculata):
80.000ha (82,6%),
•
rừng trồng trang (Kandelia obovata):
16.876ha
•
bần chua (Sonneratia caseolaris) và các
loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%)
(Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).
II. SỰ PHÂN BỐ RỪNG NGẬP MẶN Ở VIỆT NAM
1. Diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam
Bảng 1. Phân bố diện tích đất ngập mặn và RNM theo tỉnh và
thành phố ven biển Việt Nam (tính đến tháng 12/2001)
2. Sự phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam
RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực và 12 tiểu
khu.
- Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến
mũi Đồ Sơn
- Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi
Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường
- Khu vực III: Ven biển Trung Bộ: Từ mũi Lạch
Trường đến mũi Vũng Tàu
- Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu
đến mũi Nải, Hà Tiên.
III. ĐA DẠNG LOÀI RỪNG NGẬP MẶN VIỆT NAM
1. Vùng ven biển có RNM ở Đông Bắc
(Khu vực 1 – KV1): Trường hợp nghiên
cứu huyện Tiên Yên, Quảng Ninh
a.Thực vật
- Mang tính chất của hệ thực vật á nhiệt đới gần
giống với thực vật ở bờ biển tỉnh Phúc Kiến, đảo
Đài Loan (Trung Quốc) và đảo Irimote thuộc quần
đảo Ryu Kyu – Nhận Bản.
Theo Phan Nguyên Hồng (1991), hệ thực vật có 16 loài
cây chủ yếu thuộc 14 họ và 34 loài tham gia RNM thuộc
17 họ. Thảm thực vật chỉ có các quần xã cây thích nghi
với độ mặn cao:
•
1. Quần thể mắm biển (Avicennia marina) phân
bố ở trên các bãi cát và bãi đang bồi, là quần thể
tiên phong trên đất ngập triều trung bình thấp.
•
2. Quần xã đâng (Rhizophora stylosa) – trang
(Kandelia obovata) – sú (Aegiceras
corniculatum) sống trên đất ngập triều trung
bình.
•
3. Quần xã đâng – trang – vẹt dù (Bruguiera
gymnorrhiza) phân bố trên đất ngập triều trung
bình cao, loài ưu thế là đâng
•
4. Quần xã vẹt dù - đâng, phân bố trên những bãi
đất bùn hơi rắn hoặc các bãi có đá, chỉ ngập triều
cao. Trong quần xã này vẹt dù là loài ưu thế.
•
5. Quần thể vẹt dù, phân bố ở trên nền đá xương
xẩu, ít khi ngập triều.
•
6. Quần xã côi (Scyphiphora hydrophyllacea) – giá
(Excoecaria agallocha) – cóc vàng (Lumnitzera
racemosa) dạng cây bụi trên nền đất bùn hơi cứng,
nhiều sỏi hoặc đất thoái hoá, chỉ ngập triều cao.
•
7. Quần xã tra (Hibiscus tiliaceus) su ổi
(Xylocarpus granatum) – hếp (Scaevola taccada)
phân bố trên các bờ biển có đất mặn ít khi ngập
triều.
•
Trong quần xã này còn có nhiều loài cây chịu mặn
khác như đậu tím (Pongamia glabra), cui biển
(Heritiera littoralis), vạng hôi (Pandanus
tonkinensis), ráng (Acrostichum aureum) và nhiều
loài thân cỏ.
b. Động vật đáy:
Có 71 loài thuộc 28 họ (Nhượng và Khắc 2003;
Hồng và cs 2002)
c.Cá:
194 loài thuộc 70 họ (Tạng 2004)
d.Chim:
38 loài thuộc 17 họ (Sâm và cs 2005)
2. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng:
Trường hợp nghiên cứu huyện Giao Thuỷ,
Nam Định
Bảng 2. Số lượng các loài thực vật tìm thấy trong vùng
RNM ven biển huyện Giao Thủy
Taxon Họ Chi Loài
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ
(%)
PTERIDOPHYTA (DƯƠNG XỈ) 5 8,3
6 4,4 8
4,3
ANGIOSPERMAE (HẠT KÍN) 55 91,7
131 95,6 176
95,7
Dicotyledoneae (Lớp Hai lá mầm) 47 78,3
102 74,5 124
67,4
Monocotyledoneae (Lớp Một lá mầm) 8 13,4
29 21,1 52
28,3
Tổng cộng 60 100
137
100 184 100
- Có 8 kiều quần xã thực vật trong vùng RNM
•
Quần xã cỏ cáy (Sporobolus virginicus) – cỏ ngạn
(Scirpus kimsonensis) mọc chủ yếu ở cửa Ba Lạt trên
các bãi bùn đang hình thành, phần lớn thời gian còn
ngập nước, khi nổi lên còn chịu nhiều tác động của
sóng biển
Ở những khu vực giáp với RNM hoặc ven bờ xuất
hiện một số cây ngập mặn con tái sinh như bần chua,
trang.
Những khu vực đất cao hơn các loài cây thuộc họ
Lúa (Poaceae) như cỏ gà (Cynodon dactylon)và họ
Cói (Cyperaceae) như gấu biển (Cyperus
stoloniferus) phát triển.
•
Quần xã vạng hôi (Clerodendron inerme) –
tra (Hibiscus tiliaceus) – giá (Ecoecaria
agallocha) mọc trên các vùng đất cao, hay
ven bờ đầm, ít khi bị ngập.
•
Đây là kiểu nơi sống có quần xã thực vật với
thành phần loài thực vật khá đa dạng, với
64 loài (34,8%). Ngoài ba loài ưu thế còn có
ráng biển (Acrostichum aureum) phân bố
chủ yếu trên các bờ đầm, hay bãi đất cao.
Ngoài ra còn có một số loài cây thân cỏ.
•
Quần xã cà độc dược (Datura metel) –
thầu dầu (Ricinus communis) – quả nổ
(Ruellia tuberosa) mọc trên vùng đất
cao ở mái đê nơi không chịu hay chỉ chịu
tác động của triều cường.
•
Những loài này chịu được muối do gió
biển mang đến. Một số loài chịu mặn
mọc gần sát chân đê bị ngập triều cao
như giá (Excoecaria agallocha), na biển
(Annona glabra), từ bi (Vitex trifoliata),
sài hồ (Pluchea pteropoda), vạng hôi
(Clerodendron inerme).
•
Quần xã phi lao (Casuarina equisetifolia) – quan
âm (Vitex trifoliata)
Khu vực trồng phi lao tập trung ở các cồn cát phía
ngoài vùng rừng ngập mặn như cồn Lu, cồn Ngạn
(xã Giao Thiện), cồn Nhà (xã Giao Xuân) và một số
nơi khác. Cây bụi mọc phổ biến ở đây là vạng hôi
(Clerodendrum inerme), chọ (Myoporum
bontioides), dừa cạn (Catharanthus roseus). Loài
cây chịu hạn tốt như cỏ tranh (Imperata cylindrica),
quan âm (Vitex rotundifolia), sa sâm (Launaea
sarmentosa) mọc rải rác trên đất cát khô.
•
Quần xã cỏ lông chông (Spinifex
littoreus) - muống biển (Ipomoea pes-
carpae) sống trên bãi cát kiểu này
thường nằm ở phía ngoài các cồn cát
trồng phi lao ở Cồn Lu, Cồn Nhà, hay các
bãi cát của những cồn mới hình thành, bề
ngang quần xã thực vật ở đây hẹp, từ vài
mét cho đến vài chục mét.
•
Quần xã cỏ xoan (Halophila ovalis) – cỏ
xoan nhỏ (Halophila minor) – rong xương
cá (Myriophyllum dicoccum) ở nước lợ
•
Quần xã cói (Cyperus malaccensis) – sậy
(Phragmites karka) trong các đầm nuôi thuỷ
sản
•
Sinh cảnh này có nguồn gốc là rừng ngập
mặn, trong đó có 3 loài ưu thế là bần chua
(S.caseolaris) và trang (K.obovata) cùng sú
(Ae.corniculatum). Sau khi đắp đầm giữ nước
triều, hầu hết trang, sú chết, chỉ còn một ít
cây lớn có rễ hô hấp cao sống sót. Đất, nước
thoái hoá và chua mặn nên cói và sậy có điều
kiện phát triển.
b. Động vật đáy
•
Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc
(2004) đã thống kê được 138 loài và
phân loài động vật đáy thuộc 4 lớp, 39
họ, 75 giống ở RNM khu vực cửa sông
Hồng
TT
Nhóm
Đv đáy
Ba Chẻ Thái Bình Sông
Hồng
Đồng Nai
1
Giun nhiều tơ 4 6 9 2
2
Tôm (Macrura) 1 10 12 6
3
Cua (Brachyura) 33 42 61 30
4
Chân bụng
(Gastropoda)
10 14 19 10
5
Hai mảnh vỏ
(Bivalvia)
22 19 36 9
Bảng 3. Số lượng loài của các nhóm động vật đáy ở
RNM cửa sông Hồng và một số cửa sông khác
c.Côn trùng
Nghiên cứu của Lê Xuân Huệ và cộng sự
(2004) cho thấy hệ côn trùng rất đa dạng
(113 loài thuộc 50 họ và 10 bộ)
Bảng 4. Côn trùng thu được ở rừng ven biển Nam định và
Thái Bình
d.Cá
•
Khu hệ cá phía bắc huyện Giao Thuỷ khá
đa dạng gồm 107 loài thuộc 44 họ và 12
bộ (bảng 5),
•
Bộ cá trích có 2 họ, 12 loài là những loài
có giá trị kinh tế không chỉ đối với địa
phương mà còn đối với cả vịnh Bắc Bộ
(Cường và Khoa, 2004).
Bảng 5. Số lượng và tỉ lệ (%) của các họ và các loài cá
trong các bộ được tìm thấy trong khu vực Ramsar Xuân
Thủy, tỉnh Nam Định
e. Lưỡng cư và bò sát
•
Lê Nguyên Ngật và Trần Giang Hoàn
(2004) đã điều tra được 37 loài, gồm
13 loài lưỡng cư (chiếm 15,85 % số
loài ở Việt Nam), thuộc 8 giống, 4 họ,
1 bộ và 24 loài bò sát (9,30 %), thuộc
17 giống, 8 họ, 2 bộ ở vùng ven biển
có RNM Giao Thuỷ (kể cả vùng vùng
ven đê biển).
f.Chim
Bảng 7. Cấu trúc thành phần loài chim ở VQG Xuân Thuỷ
Nghiên cứu của Lê Đình Thuỷ (2004)