Tải bản đầy đủ (.docx) (85 trang)

tổng quan tin học đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.19 MB, 85 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG

ĐẠI

HỌC



PHẠM

TP

HCM
280, An Dương Vương, Q5, Tp HCM
ĐT: (08).8352020 - 8352021 Fax: (84-8).8398946

KHOA

TOÁN

-

TIN
TIN

HỌC

ĐẠI

CƯƠNG


Introduction

to

Computer

Science
Thời

lượng:

6

đvht
(Số

tiết



thuyết

:

45 Số

tiết

thực


hành

:

45)
Giảng

viên

phụ

trách:

Ths.



Đức

Long
I. Tóm

tắt

môn

học

:
Mục


đích

của

môn

học



cung

cấp

cho

sinh

viên

một

số

kiến

thức

đại


cương



các
nguyên





bản

của

khoa

học

máy

tính,

các

khái

niệm




cách



duy

giải

quyết

các
vấn

đề

-

bài

toán

bằng

máy

tính

điện


tử.
Đồng

thời

bước

đầu

tập

làm

quen

với

ngôn

ngữ

lập

trình

Pascal

để


giải

quyết

một

số
bài

toán,

ứng

dụng

thực

tế.
II. Nội

dung

môn

học

:
Ch

ươ


ng



1



:



Đạ

i c ươ

ng



v




Tin




h

ọ c



(6t)
1.

Tổng

quan

về

hệ

thống

tin

học

(Information

systems

hay

Computer


systems)
1.

Sơ lược về hệ thống tin học
2.

Các thành phần của một hệ thống tin học
3.

Các dạng máy tính điện tử
2.

Máy

tính

PC



nguyên



hoạt

động
1.


Cấu trúc của một máy tính
2.

Các bộ phận chính của máy tính
3.

Các thiết bị nhập - xuất trong hệ thống máy tính
4.

Nguyên lý Von Neumann - Hoạt động của máy tính
3.

Biểu

diễn

thông

tin

trong

máy

tính
1.

Hệ thống số - Cách chuyển đổi giữa các hệ thống số
2.


Dữ liệu và lưu trữ dữ liệu
3.

Mã hoá và biểu diễn dữ liệu trong máy tính
4.

Các loại bộ nhớ
4.

Giới

thiệu

về

mạng

máy

tính
1.

Khái niệm về mạng máy tính
2.

Mạng thông tin toàn cầu Internet
3.

Một số dịch vụ cơ bản của Internet
Ch


ươ

ng



2



:



Gi

ới



thi

ệ u



m

ộ t




s




h





đ

iề u



hành



thông



d




ng



(6t)
1.

Tổng

quan

về

hệ

điều

hành

(Operating

Systems)
1.

Hệ điều hành - chức năng của hệ điều hành
2.

Giao tiếp với hệ điều hành

3.

Một số hệ điều hành thông dụng
Edited by Duc Long – Feb, 2005 1
2.

Giới

thiệu

về

hệ

điều

hành

MS-DOS
1.

Một số thuật ngữ cơ bản: tập tin, thư mục, đường dẫn
2.

Dạng lệnh tổng quát – Thao tác với hệ điều hành MS-Dos
3.

Hệ điều hành MS-Dos 6.x - Một số lệnh thông dụng
3.


Giới

thiệu

về

hệ

điều

hành

Windows
1.

Một số khái niệm
2.

Các thao tác cơ bản trên Windows
3.

Trình ứng dụng Windows Explorer
4.

Trình ứng dụng Control Panel
5.

Một số ứng dụng của Windows: Paint, WordPad, Calculator, Calendar
Ch


ươ

ng



3:



So



n



th



o v ă

n



b




n



b



ng



LATEX



(15t)
1.

Tổng

quan

về

LATEX

-


Một

số

khái

niệm



bản
2.

Soạn

thảo

văn

bản

đơn

giản
3.

Định

dạng


văn

bản
Ch

ươ

ng



4:



Gi



i



quy

ế t




v

ấn



đề



-



bài



toán



b



ng




máy



tính



(3t)
1.

Vấn

đề

-

bài

toán
1.

Thế nào là vấn đề - bài toán
2.

Một số phương pháp giải quyết vấn đề - bài toán bằng máy tính
2.

Thuật


toán

-

thuật

giải
3.

Các

phương

pháp

biểu

diễn

thuật

toán
1.

Ngôn ngữ tự nhiên
2.

Lưu đồ - sơ đồ khối
3.


Mã giả
4.

Các

bước

để

giải

một

bài

toán

trên

máy

tính
1.

Xác định bài toán
2.

Lựa chọn và xây dựng thuật toán
3.


Viết chương trình
4.

Hiệu chỉnh
5.

Viết tài liệu
Ch

ươ

ng



5:



Ngôn



ng





l ậ


p



trình



Pascal



(60t)
Giới

thiệu

ngôn

ngữ

lập

trình

Pascal
Cấu

trúc


tổng

quát

của

một

chương

trình

Pascal
Các

kiểu

dữ

liệu

đơn

giản
Cấu

trúc

tuần


tự
Cấu

trúc

điều

kiện
Cấu

trúc

lặp
Chương

trình

con:

thủ

tục



hàm
Kiểu

dữ


liệu

mảng

(Array)
Kiểu

bản

ghi

(Record)
Kiểu

tập

tin

(File)
Đồ

hoạ

trong

Pascal

(Graphic)
Khái


niệm

về

chương

trình

đệ

qui

(Recursion)
Giới

thiệu

về

con

trỏ

(Pointer)

-

cấp


phát

bộ

nhớ

động

(Dynamic

Memory

Allocation)
Edited by Duc Long – Feb, 2005 2
Tài

liệu

tham

khảo

:
1.

Giáo

trình

tin


học

đại

cương

I,

II
GS.TS. Hoàng Kiếm - NXB Giáo dục, 1998
2.

Ngôn

ngữ

lập

trình

Pascal
Quách Tuấn Ngọc - NXB Giáo dục, 1996
3.

Cấu

tạo




nguyên



hoạt

động

của

hệ

thống

máy

tính
RON WHITE, biên dịch: Nhóm điện tử, vi tính FSC – NXB Thống kê, 1997
4.

Giải

một

bài

toán

trên


máy

tính

như

thế

nào

?

I,

II
GS.TS. Hoàng Kiếm - NXB Giáo dục, 2001
5.

Giáo

trình

Pascal

I,

II
Trần Đan Thư – NXB Giáo dục, 2001
6.


Bên

trong

máy

tính

PC

hiện

đại

I,

II
Phạm Hoàng Dũng, Hoàng Đức Hải, NXB KH KT, 1997
7.

Information

Systems

for

you,

SE

Stephen Doyle, , Stanley Thornes (Publishers) LTD, 1999
8.

Turbo

Pascal

6:

The

complete

reference
Stephen K.

O’Brien, Osborne McGraw-Hill, 1991
9.

Sách

giáo

khoá

Tin

học

10,


11

(chương

trình

thí

điểm

phân

ban)
Hồ Sĩ Đàm (chủ biên), NXB Giáo dục, 2004
Liên

hệ

-

góp

ý:
Ths.


Đức

Long

Khoa Toán Tin - Đại Học Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh
Cells phone:
0913.766.057
Email:


Một

số

địa

chỉ

Website

tham

khảo:
ĐH Sư Phạm Tp HCM:

/>Sở Giáo dục – Đào tạo Tp HCM:

/>Diễn đàn giáo dục:

/>Trang liên kết đến trang các trường đại học: />Tin tức Việt Nam:

/>Trang cung cấp mã nguồn:

;


/>Thư viện đại học quốc gia:

/>Trang thông tin của tp HCM:

/>
Một

số

tài

liệu

tham

khảo

trên

các

đĩa

Cd:

PC

World


2000,

Tin

Học

Nhà

Trường,
Website

LH,


Edited by Duc Long – Feb, 2005 3
ĐẠI

CƯƠNG

VỀ

TIN

HỌC


Tổng quan về hệ thống tin học


Máy tính PC và nguyên lý hoạt động



Biểu diễn thông tin trong máy tính


Giới thiệu về mạng máy tính
Edited by Duc Long – Feb, 2005 4
BÀI
TỔNG

QUAN

VỀ

HỆ

THỐNG

TIN

HỌC
D Ẫ

N NH Ậ

P:
Sự

bùng


nổ

về

thông

tin

trong

vài

thập

kỷ



cuối

thế

kỷF

20

cho

ra


đời

một

dạng

tài
nguyên mới đó là thông tin, cùng gắn liền với công cụ lao động là máy tính điện tử đã làm
một

cuộc

cách

mạng

khoa

học

kỹ

thuật

trong

mọi

lĩnh


vực.

Ngành

Tin

học

được

hình
thành



phát

triển

cùng

với

các

khái

niệm




bản,

trong

đó

các

hiểu

biết



bản

về

hệ
thống tin học là kiến thức không thể thiếu đối với mọi đối tượng khai thác và sử dụng máy
tính.
1./



LƯỢC

VỀ


HỆ

THỐNG

TIN

HỌC
1.1./ TIN H Ọ C (INFORMATIQUE)
Tin

học



một

ngành

khoa

học

chuyên

xử



dữ


liệu



xuất

ra

thông

tin

một

cách

tự
động, dựa trên công cụ là máy tính điện tử.
1.2./ D Ữ


LI

Ệ U VÀ THÔNG TIN
Những sự việc và hình ảnh trong thế giới thực gọi chung là
dữ

liệu
(data), Thông thường
các


sự

việc,

hình

ảnh

thô

này

mang

ít

ngữ

nghĩa

thực

tiễn

cho

đến

khi


chúng

được

sắp
xếp hoặc tính toán một vài thứ nào đó trong chúng, và điều này gọi là
xử



dữ

liệu
(data
processing). Khi dữ liệu đã xử lý xong, nó sẽ xuất ra
thông

tin
(information).
Cũng



thể

xem

thông


tin



chính

ngữ

nghĩa

được

gắn

kết

vào

dữ

liệu

của

nó.



dụ:
đèn giao thông bật sáng màu đỏ, đây là một hình thức của dữ liệu. Điều này cho biết ngữ

nghĩa gắn vào với dữ liệu này là các phương tiện giao thông phải dừng, vậy dừng chính
là thông tin.
Dữ

liệu

thường

tối

nghĩa.



dụ:

quan

sát

con

số

11092004,

ta




thể

hiểu

theo

nhiều
cách:
- Số lượt truy cập đến trang Web Yahoo
- Ngày 11, tháng 9, năm 2004
- Số điện thoại của một cá nhân A nào đó …
1.3./ X Ử


LÝ THÔNG TIN
Đầu vào Máy tính xử lý

Đầu ra
DỮ LIỆU _ Thu nhận phân loại, lưu trữ THÔNG TIN
_ Tính toán, thống kê
_ Hỏi đáp, cập nhật, truy tìm
_ Dự báo
1.4./ H Ệ


THỐ NG THÔNG TIN


ĐƯỢ C MÁY TÍNH HOÁ - H Ệ



TH ỐNG TIN HỌC

Tất cả các tác vụ đều có thể phân thành ba giai đoạn: nhập, xử lý và xuất. Vậy
hệ

thống
thông

tin
(information system) là một hệ thống bao gồm việc nhập dữ liệu,

xử lý dữ liệu
và xuất ra thông tin.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 5
Hệ

thống

thông

tin

thủ

công

(manual

information


systems):

mọi

người

chúng

ta

đều

ít
nhiều có sử dụng hoặc làm việc với các hệ thống thông tin thủ công. Ví dụ: danh bạ điện
thoại, có hàng trăm ngàn số điện thoại, Giả sử ta biết tên và địa chỉ của một doanh nghiệp
nào đó, thì có thể tìm trong danh bạ số điện thoại tương ứng của họ.
Hoặc với sổ danh bộ của trường học, lưu trữ thông tin học sinh trong các năm học, Biết
mã số (thường gọi là số danh bộ) và tên học sinh có thể tra cứu để biết học sinh đang học
lớp nào và lý lịch trích ngang của học sinh đó.
Hệ thống thông tin thủ công có nhiều bất tiện. Như đối với danh bạ điện thoại thì các số
điện thoại để tra cứu sẽ được sắp theo thứ tự alphabet của cá nhân, đơn vị; trong khi việc
tìm kiếm có thể có nhu cầu biết số điện thoại, cần tìm địa chỉ của một cơ quan nào đó…
Đối với sổ danh bộ của trường học cũng vậy, danh sách học sinh sẽ được sắp xếp theo
thứ tự mã số của từng học sinh với một qui tắc nhất định, trong khi việc tra cứu có thể tìm
kiếm theo họ tên, theo lớp, …
Hệ

thống


thông

tin

được

máy

tính

hoá

(computerised

information

systems):

ngày

nay
với sự ra đời và phát triển của máy tính điện tử, các hệ thống thông tin thủ công đa phần
đều được máy tính hoá thông qua việc xử lý dữ liệu và xuất ra thông tin một cách tự động
dựa vào công cụ là máy tính điện tử. Các hệ thống thông tin được máy tính hoá thì mềm
dẽo hơn so với các hệ thống thông tin thủ công và xử lý nhanh hơn rất nhiều. Ví dụ với hệ
thống tra cứu danh bạ điện thoại được máy tính hoá ở trên thì khi nhập vào một số điện
thoại đã được chứa trong hệ thống, thì tên và địa chỉ của đối tượng tương ứng sẽ được
cung cấp ngay lập tức.
Hệ thống thông tin được máy tính hoá gọi tắt là hệ thống máy tính hay
hệ


thống

tin

học
gồm



ba

thành

phần:

phần

cứng

(hardware),

phần

mềm

(software),




người

sử
dụng

(user).
Những

ưu

điểm

của

một

hệ

thống

thông

tin

được

máy

tính


hoá:
-Không phải tốn nhiều các ngăn chứa hồ sơ, tài liệu. Chỉ cần một máy tính đơn cũng có
thể lưu trữ tất cả các thông tin cần thiết.
-Nhiều

người



thể

truy

xuất

thông

tin

trên

các

máy

tính

khác

nhau,




những

nơi

khác
nhau, trong cùng một thời điểm.
-Không



sự

trùng

lắp

thông

tin.



dụ

các

thông


tin



lịch

cần

thiết

của

học

sinh

chỉ
được cập nhật một lần và có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Ngoài ra, từ các
thông tin này có xuất ra các báo cáo, thống kê khi có nhu cầu.
-Thông

qua

hệ

thống

mạng


diện

rộng



bộ

xử



văn

bản



thể

đưa

thông

tin

đến

tận
người dùng (như Email, …)

-Việc nhập

dữ

liệu vào hệ thống ngoài bàn phím còn có nhiều

thiết

bị tiện ích khác như:
máy quét ảnh, máy đọc mã vạch, máy quét thẻ từ, …
Những

khuyết

điểm

của

một

hệ

thống

thông

tin

được


máy

tính

hoá:
-Mọi thứ

đều phụ thuộc vào máy tính. Khi có sự

cố (về nguồn điện, bị virus,…) phải cần
một hệ thống khác thay thế ngay.
-Để sử dụng hệ thống, cần có sự huấn luyện sử dụng đối với các đối tượng người dùng.
Khi có sự thay đổi, sẽ tốn thời gian để đào tạo đội ngũ này lại.
-Cần có sự an toàn và bảo mật

đối với dữ

liệu, thông tin trong hệ thống để chống lại sự
mất cắp, rò rỉ thông tin.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 6
2./

THÀNH

PHẦN

CHÍNH

CỦA


MỘT

HỆ

THỐNG

TIN

HỌC
Tất cả các hệ thống tin học đều có:
phần

cứng
(hardware) và
phần

mềm
(software).
Phần

cứng



từ

được

sử


dụng

để

chỉ

các

phần

của

máy

tính



ta



“cầm”,

“nắm”
được. Phần cứng cũng là tất cả các thiết bị (mỗi thiết bị đều có tên gọi riêng) để cấu thành
một hệ thống máy tính. Một cách cơ bản các thiết bị được phân chia thành:
-
Thi ế t b ị


nhập (Input devices): sử dụng để đưa dữ liệu vào máy tính.
-
Bộ

xử

lý trung tâm (Central processing unit - CPU): phần não bộ của máy tính.
-
Thi ế t



b



lư u



tr



(Backing

storages):

gồm


các

loại



đĩa

sử

dụng

để

chứa

dữ

liệu

khi

tắt
nguồn điện vào máy.
-
Thi ế t b ị

xuất (Output devices): bao gồm các bộ hiển thị (VDUs), máy in được sử dụng để
xuất ra báo cáo, xuất lên màn hình,…
Phần


mềm



từ

dùng

để

chỉ

các

chương

trình

thực

sự

cho

phép

phần

cứng


thực

hiện
một

công

việc

hữu

ích

trên

máy

tính.

Không



phần

mềm,

phần


cứng

trở

nên



dụng.
Phần

mềm

được

xây

dựng

từ

một

dãy

các

lệnh

thực


thi

cho

biết

máy

tính

sẽ

phải

làm
những gì.
Các

máy

tính

điện

tử

thông

dụng


hiện

nay

đều

thiết

kế

theo

nguyên



J.

Von

Neumann
(1903-1957). Theo nguyên lý này, hoạt động của máy tính được điều khiển bằng chương
trình lưu giữ trong bộ nhớ.
Màn

hình
(Output)
Chuột
(Input)

CPU
Đĩa

cứng
(Backing storage)
Máy

in
(Output)
Đĩa

mềm
(Backing storage)
Bàn

phím
(Input)
Hình

1.

Phần

cứng

của

một

máy


vi

tính

đơn

giản
Để

hiểu

về

sự

khác

biệt

giữa

phần

cứng



phần


mềm



thể

hình

dung

một

máy

thâu
băng

(tape

recorder)



cuộn

băng

trắng

(blank


tape).

Như

vậy,

máy

thâu

băng



cuộn
băng chính là phần cứng vì ta có thể tiếp xúc được với chúng. Khi ta ghi vào cuộn băng
một vài bản nhạc, thì các bản nhạc trong cuộn băng sẽ chính là phần mềm.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 7
Phần mềm

được phân thành hai loại chính:

phần

mềm

hệ

thống

(systems software) và
phần

mềm

ứng

dụng
(aplications software).
-
Phần

mềm

hệ

thống
là chương trình điều khiển trực tiếp các phần cứng của máy tính.
Phần

mềm

hệ

thống

bao

gồm:


hệ

điều

hành

(operating

systems),

các

chương

trình

dịch
(translation programs) như trình biên dịch (compiler), trình thông dịch (intepreter), …
Hệ

điều

hành

cũng

cung

cấp


một

giao

diện

(user

interface)

để

giao

tiếp

giữa

người

sử
dụng với máy tính, việc đầu tiên của một máy tính khi được nối nguồn điện là tìm kiếm hệ
điều hành, và không có hệ điều hành thì máy tính sẽ không thể làm việc tiếp được. Ví dụ
một

số

hệ

điều


hành

thông

dụng

như:

Windows

98,

Windows

NT,

UNIX,

LINUX

hay
OS/2…
-
Phần

mềm

ứng


dụng
là chương trình được xây dựng để thực hiện những tác vụ chuyên
biệt

nào

đó.

Phần

mềm

ứng

dụng



rất

nhiều

loại

phục

vụ

cho


các

đối

tượng

sử

dụng
máy tính: phần mềm xử lý từ như Word, Word Perfect, phần mềm bảng tính điện tử như
Lotus123, Excel, phần mềm cơ sở dữ liệu như Access, …
Một chương trình là một tập các lệnh mà máy tính có thể hiểu và thực hiện. Do đó, để xây
dựng



viết

chương

trình

thì

người

lập

trình


phải

dùng

các

ngôn

ngữ

lập

trình

để

thể
hiện.
Tuy

nhiên,

máy

tính

do

cấu


tạo



một

thiết

bị

điện

tử

nên

chỉ



thể

hiểu

chương

trình
dưới dạng mã nhị phân (tập giá trị 0 và 1), trong khi đối với người lập trình thì cần phải có
những ngôn ngữ lập trình dễ hiểu, dễ đọc để viết chương trình, vì vậy ngôn ngữ lập trình
được


chia

thành

các

loại:

ngôn

ngữ

cấp

thấp

(low-level

languages),

ngôn

ngữ

cấp

cao
(high-level languages).
Ứng dụng 2

Ứng dụng 1
User
Phần cứng
Hệ

điều

hành
User
Ứng dụng 3
User
Hình

2.

Giao

tiếp

giữa

hệ

điều

hành

với

người


sử

dụng
Hoạt

động

của

hệ

điều

hành

như

một

phần

vỏ

bao

quanh

phần


cứng.

Để

chương

trình
thực

hiện

cần



một

hệ

điều

hành,

để

người

dùng

thực


hiện

một

tác

vụ

nào

đó

từ

máy
tính

thì

phải

dùng

các

ứng

dụng




hệ

điều

hành

để

giao

tiếp

với

phần

cứng.
Ngôn

ngữ

cấp

thấp
:




ngôn

ngữ

mà máy tính có thể hiểu dễ

dàng

nhưng

lại khó

hiểu,
khó

viết

đối

với

người

lập

trình.

Các

ngôn


ngữ

lập

trình

cấp

thấp

như

ngôn

ngữ

máy
(machine language hay machine code), hợp ngữ (Assembly language).
Ngôn ngữ máy là ngôn ngữ mà máy tính trực tiếp hiểu được, nói cách khác chương trình
viết bằng ngôn ngữ máy sẽ là một tập bao gồm các kí số 0 và 1. Tất cả các ngôn ngữ lập
trình đều bắt buộc phải được dịch thành ngôn ngữ máy trước khi được thi hành ngoại trừ
các

chương

trình

được


viết

bằng

ngôn

ngữ

máy.

Ngôn

ngữ

máy

thường

phụ

thuộc

vào
mỗi loại máy tính khác nhau, và vì không cần phải biên dịch lại nên chạy rất nhanh (nhiều
trò

chơi

trên


máy

tính



chương

trình

giả

lập

được

viết

bằng

ngôn

ngữ

máy








do
này).
Edited by Duc Long – Feb, 2005 8
Hợp ngữ là ngôn ngữ chỉ sử dụng một số lệnh đơn giản (như ADD, SUB, LDA, ) nên dễ
dàng hơn đối với người lập trình trong việc sử dụng và gỡ lỗi chương trình. Chương trình
viết

bằng

hợp

ngữ

cũng

cần

được

biên

dịch

thành

ngôn

ngữ


máy

bởi

trình

hợp

dịch
(assembler) trước khi máy tính có thể hiểu. Tuy nhiên, do chỉ giới hạn trong một số ít lệnh


thuộc

loại

ngôn

ngữ

lập

trình

cấp

thấp

nên


chương

trình

viết

bằng

hợp

ngữ

khó

đọc
khó viết.
Ngôn

ngữ

cấp

cao
: là ngôn ngữ lập trình sử dụng các câu lệnh có cú pháp gần giống với
ngôn

ngữ

tự


nhiên

(thông

thường



tiếng

Anh),



đặc

điểm



tính

độc

lập

cao,

ít


phụ
thuộc

vào

loại

maý

tính

sử

dụng,

đơn

giản,

dễ

hiểu,

dễ

viết.




dụ

như:

BASIC,

C++,
PASCAL, JAVA, HTML,…
Ngoài

ra,

để



thể

chuyển

đổi

từ

các

lệnh

trong


chương

trình

viết

bằng

ngôn

ngữ

cấp
cao thành các mã lệnh của chương trình máy để máy tính hiểu và thực hiện được thì cần
phải có các
chương

trình

dịch
(translation programs). Thông thường có ba loại chương
trình

dịch

là:

trình

biên


dịch

(compilers),

trình

phiên

dịch

(interpreters)



trình

hợp

dịch
(assemblers)
Assembly
language
code
High level
language
code
High level
language
code

Assembler Compiler

Interpreter
Machine

code
Hình

3.

Sự

liên

hệ

giữa

các

chương

trình

dịch
3./

CÁC

DẠNG


MÁY

TÍNH


ba

dạng

máy

tính:

máy

vi

tính

(micro

computer),

máy

tính

trung


(mini

computer),


máy tính lớn (mainframe computer).
3.1./ MÁY VI TÍNH (MICRO COMPUTER)
Máy vi tính là loại máy tính để bàn sử dụng cho cá nhân làm việc ở nhà, trong các trường
học

hoặc

các

văn

phòng

nhỏ,

còn

được

gọi



máy


tính



nhân

(Personal

computer

-
PC
).

Máy

vi

tính

cũng



nhiều

kiểu,

dáng


cũng

như

thể

loại

khác

nhau,



dụ

kiểu
desktop, mini tower, tower, … hoặc loại Apples (Macintosh), Acorns, IBMs (PC),…
Ngoài

ra,

hiện

nay

còn




một

số

loại

máy

vi

tính

khác

như:

thiết

bị

hỗ

trợ



nhân

kỹ
thuật


số

(Personal

Digital

Assistants



PDAs),

máy

tính

xách

tay

(Notebook

computers
hay Laptops).
PDAs



một


thiết

bị máy

tính

cầm tay, có ưu điểm

nhỏ gọn, tuy

nhiên cũng chỉ

giới hạn
với một số chức năng thông dụng như: xử lý văn bản, bảng tính điện tử, gởi và nhận thư
Edited by Duc Long – Feb, 2005 9
điện tử, ghi chú thông tin cá nhân, … PDAs thường gặp hiện nay có loại Palm và Pocket
PC .
Máy

tính

xách

tay

(Notebook

computer


hay

Laptop)

thì

lớn

hơn

PDAs,

thường

dùng

với
một nguồn pin, được nạp điện trước khi sử dụng, và màn hình dạng tinh thể lỏng (liquid
crystal displays – LCDs) vì nhu cầu nhỏ gọn, cơ động và ít tiêu thụ năng lượng điện.
3.2./ MÁY TÍNH TRUNG (MINI COMPUTER)
Máy tính trung thông thường có kích thước, công suất và giá cả khoảng giữa của máy vi
tính và máy tính lớn.
3.3./ MÁY TÍNH L Ớ N (MAINFRAME COMPUTER)
Máy tính lớn hay còn gọi là siêu máy tính là loại máy tính kích thước lớn, công suất mạnh
thường dùng trong các hệ thống mạng lớn, khả năng đáp ứng một số lượng lớn các máy
tính

con

(khoảng


trên

500).

Một

máy

tính

lớn



thể

thực

hiện

đến

250

triệu

phép

tính

trong

một

giây.

Các

hệ

thống

ngân

hàng,

cao

ốc

kinh

doanh,

công

ty

bảo


hiểm,

công

ty
cấp nước, điện lực đều phải sử dụng máy tính lớn.
Notebook computer
Mainframe computer
Hình

4:

Các

dạng

máy

tính

điện

tử
Microcomputers - (4a) loại Desktop, (4b) loại Mini tower
Edited by Duc Long – Feb, 2005 10
BÀI

ĐỌC

THÊM

LỊCH

SỬ

MÁY

TÍNH

ĐIỆN

TỬ
1/. BUỔ I SƠ


KHAI
Từ thời xa xưa, tính toán đã là nhu cầu của con người. Mười ngón tay của tạo hóa là công cụ tính
toán đầu tiên mà con người sử dụng. Việc nghĩ ra và sử dụng các kí hiệu đã chắp cánh cho khả năng của
con người đi đến những chân trời mới. Tiền tệ xuầt hiện và buôn bán phát triển. Vấn đề trao đổi tiền tệ đòi
hỏi

những

công

cụ

tính

toán


tiến

bộ

hơn,



bàn

tính

tay

(abacus)

ra

đời.

Bằng

cách

xếp

đặt

các


hạt


những

vị

trí

khác

nhau

trên

các

sợi

dây

của

bàn

tính

,

các


thương

gia



thể

tính

toán

một

cách

nhanh
chóng.
Trong

suốt

thế

kỷ

17




18,

loài

người

đã

cố

gắng

tìm

kiếm



sáng

chế

ra

những

phương

pháp

tính toán mới, đáng kể nhất là : phương pháp cơ học thực hiện phép nhân và chia do John Napier, người
Scodland,

nghĩ

ra

vào

khoảng

năm

1617

(phương

pháp

này

đã

được

áp

dụng

để


chế

tạo

thước

kéo,


cách đây không lâu được sử dụng rộng rãi như máy tính bỏ túi bây giờ), và máy cộng cơ học, sử dụng bánh
răng, do Blaise Pascal, một nhà toán học Pháp, sáng chế vào năm 1642.
2/. NH Ữ NG D Ấ

U MỐC


ĐÁNG NH Ớ

Năm 1830, nhà toán học Anh Charles Babage thiết kế một máy gọi là "Analytical Engine". Máy này,
theo

trí

tưởng

tượng

của


ông,

không

phải



thiết

bị

để

giải

một

bài

toán

cụ

thể

nào,






một

máy

vạn
năng giải

quyết

một

lớp

rộng

bài toán

tương

tự nhau.

Thực

chất, C.Babbage đã

thiết kế

một


máy

khả

lập
trinh vạn năng bao hàm những nguyên lý cơ bản của máy tính hiện nay
(4a)
(4b)
Năm 1890, Nhà sáng chế Mỹ Herman Hollerith đã chế tạo thành công máy tính cơ điện đầu tiên -
máy lập bảng, sử dụng phiếu đục lỗ để xử lý dữ liệu điều tra dân số tiến hành ở Mỹ năm 1890. Máy của H
Hollerith đã được công nhận rộng rãi và ông thành lập công ty để cung cấp loại máy này, tiền thân của công
ty

IBM

(

International

Business

Machines). Tuy

nhiên,

khả

năng của


máy chỉ giới hạn

trong

việc

lập bảng,
một bài toán đơn giản và chủ yếu là vẽ, không giải quyết được các bài toán phức tạp hơn
Máy tính khả lập trình đầu tiên là máy Z3, do kĩ

sư người Đức

Konrad Zuse sáng chế ra vào năm
1941. Máy dùng rơ le cơ điện và băng đục lỗ, nhưng đáng ghi nhớ hơn cả là K Zuse đã làm một cuộc cách
mạng trong lĩnh vực hệ thống số : Thay Hệ Thập Phân bằng Hệ Nhị Phân. Z3 là máy tính đầu tiên sử dụng
hệ nhị phân
Trong khi K Zuse tiếp tục nghiên cứu, thì các nhà khoa học Mỹ đã thực hiện được 2 đồ án lớn:
Đồ án thứ nhất: Nhà toán học Howard Aiken ( Đại học Havard) cùng với một nhóm kĩ sư của công
ty IBM đã nghiên cứu thiết kế Mark-1, từ năm 1938 và đến 1944 thì bắt đầu đưa ra sử dụng. Máy nặng 5
tấn



giá

tới 500000USD, phục

vụ cho việc

tính


toán

đạn

đạo. Cấu

tạo cũng giống như

máy của

K Zuse
nhưng chỉ khác là máy sử dụng hệ thập phân
Đồ án thứ hai: ENIAC (Electronic Numercal Integrator and Calculator) - Máy tính điện tử đầu tiên -
do hai kĩ sư ở Đại học Pennsylvania là J.W. Mauchly và J.P. Eckert thiết kế và chế tạo, trong khoảng thời
gian

1943

đến

1946.

Máy

cũng

sử

dụng


hệ

thập

phân

,nhưng

dùng

đèn

điện

tử

thay

cho



le



điện.
Nhờ vậy, tốc độ tính toán tăng 1000 lần so với Mark-1. ENIAC dùng đến 18000 đèn điện tử. Ngoài ra, hai
ông còn có một dự án chế tạo máy tính dùng hệ nhị phân , với bộ nhớ lớn dữ liệu lẫn các lệnh của chương

trình, máy tính này được đặt tên là EDVAC (Electronic Discrete Variable Automatic Computer)
Ý

tưởng

xây

dựng

máy

tính

với

chương

trình

lưu

trữ

trong

bộ

nhớ

thật


sự,

đã

được

trình
bày

trong

một

công

trình

thế



của

nhà

toán

học


gốc

Hung

John

Von

Neumann

(mô

hình

máy

tính
của

Von

Neumann

1945

gắn

liền

với


sự

hiện

thực

khái

niệm

chương

tình

lưu

trữ)
Máy tính đầu tiên với chương trình lưu trữ trong bộ nhớ có tên Manchester Mark-1

do F Williams ở
Đại học Manchester chế tạo từ năm 1946 đến năm 1948. Máy sử dụng hệ nhị phân và bộ nhớ tĩnh điện
Năm 1949, Maurice Wilkes ( Đại học Cam bridge) và những người cộng sự đã nghiên cứu và chế
tạo máy EDSAC. EDSAC cũng sử dụng hệ nhị phân và hiện thực khái niệm chương trình lưu trữ
Edited by Duc Long – Feb, 2005 11
3/. CÁC THẾ


HỆ



MÁY TÍNH
MÁY TÍNH THẾ


HỆ


TH Ứ


NH Ấ

T
Các máy tính ENIAC, Manchester Mark-1, EDVAC, EDSAC thuộc thế hệ thứ nhất của máy tính. Thế hệ này
kéo dài

từ khoảng giữa

năm

1940 đến năm

1955.

Đặc

trưng của

máy


tính

thế

hệ

thứ

nhất là

sự sử dụng
đèn điện tử làm phần cơ bản , cùng với việc sử dụng bộ nhớ làm bằng dây trễ và bộ nhớ tĩnh điện. Phần
lớn các máy tính ở thế hệ này đều hiện thực khái niệm chương trình lưu trữ, vào/ra dữ liệu bằng băng giấy
đục lỗ , phiếu đục lỗ, băng từ. Các máy tính thế hệ này giải quyết được nhiều bài toán khoa học kĩ thuật và
các bài toán phức tạp về dự báo thời tiết và năng lượng hạt nhân
MÁY TÍNH THẾ


HỆ


TH Ứ


HAI
Xuất hiện từ sau năm 1955,. Đặc trưng của máy tính thế hệ thứ hai là sự sử dụng Transistor cùng với đèn
điện

tử


.

Bộ

nhớ

trong

làm

bằng

xuyến

từ.

Cùng

làm

việc

với

băng

từ

xuất


hiện

thêm

trống

từ



đĩa

từ.
Những ý định về lập trình bằng ngôn ngữ cấp cao đã dẫn đến sự ra đời của các ngôn ngữ BO, Comercial
Translator, Fact, Fortran, Mathmatic
MÁY TÍNH THẾ


HỆ


TH Ứ


BA
Gồm các máy tính được chế tạo khoảng sau 1960. Do quá trình chế tạo các máy tính số phát triển không
ngừng, nên khó xác định được thế hệ này bắt đầu và kết thúc khi nào. Nhưng có lẽ tiêu chuẩn quan trọng
nhất để phân biệt máy tính thứ hai và máy tính thế hệ thứ ba là các tiêu chuẩn dựa trên khái niệm kiến trúc
máy tính. Kiến trúc máy tính là hệ thống tính toán ở cấp tổng thể, bao gồm hệ thống lệnh , tổ chức bộ nhớ,

hoạt động vào/ra,phương tiện lập trình cho người sử dụng Những thành tựu trong lĩnh vực điện tử, đã
cho phép các nhà thiết kế máy tính xây dựng một kiến trúc máy tính thỏa mãn yêu cầu của bài toán cần giải
quyết,

cũng

như

của

người

lập

trình.

Hệ

Điều

Hành

trở

thành

một

bộ


phận

của

máy

tính,

điều

khiển

mọi
hoạt động của máy tính, khả năng đa lập trình đã ló dạng. Nhiều vấn đề về quản lý bộ nhớ, quản lý các thiết
xuất/ nhập và các tài nguyên khác đã được đãm nhận bởi Hệ Điều Hành hoặc trực tiếp bằng phần cứng của
máy tính
MÁY TÍNH THẾ


HỆ


TH Ứ


T Ư

Là các máy tính được nghiên cứu và chế tạo từ sau năm 1970, tức gồm các máy tính chúng ta đang dùng.
Được thiết kế nhằm sử dụng hiệu quả các ngôn ngữ lập trình cấp cao và giảm nhẹ quá trình lập trình cho
người sử dụng. Đặc


trưng cho máy tính thế hệ thứ tư là việc sử dụng các mạch tích hợp làm pnần tử cơ
bản, và sự xuất hiện bộ nhớ làm bằng MOS (Metal Oxide Semiconductor) có tốc độ truy xuất nhanh và dung
lượng bộ nhớ tăng lên tới vài Mega Bytes
MÁY TÍNH THẾ


HỆ


TH Ứ

N Ă

M
Trong những năm cuối thế kĩ

20 này, mọi người đang chờ đợi sự xuất hiện của máy tính thế hệ thứ năm,
đã và đang được nghiên cứu chế tạo. Chưa thể nói trước các đặc trưng của nó, nhưng có

thể khẳng định
một đặc tính quan trọng nhất của nó là: trí thông minh
Edited by Duc Long – Feb, 2005 12
BÀI
MÁY

TÍNH

PC




NGUYÊN



HOẠT

ĐỘNG
D Ẫ

N NH Ậ

P:
Bài học sẽ trình bày những khái niệm cơ bản về cấu trúc của một máy tính, cụ thể là máy
vi tính và hoạt động của nó.
1./

CẤU

TRÚC

CỦA

MỘT

MÁY

TÍNH


PC
Gồm 4 thành phầ n chính:
Bộ

xử



trung

tâm



CPU

(Central

processing

unit)
Bộ

nhớ

(Main

Memory)
CU ALU
CPU

Reg
Các

thiết

bị

nhập/

xuất

(I/O

devices)
_ Màn hình (monitor)
_ Bàn phím (keyboard)
_ Máy in (printer)
_ Con chuột (mouse)
_ Máy quét (scanner)
_ Máy đọc thẻ từ, đọc mã vạch, …
Tb Nhập

Tb Xuất
Bnhớ chính
_
Thiết

bị

lưu


trữ

(Backing

Storages)
_ Đĩa từ : đĩa cứng, đĩa mềm (hard disk, floppy disk)
_ Đĩa quang: CD ROM, CD-R, DVDs,…
BNHỚ

PHỤ
Hình

5.

Cấu

trúc

của

máy

PC
2./

CÁC

BỘ


PHẬN

CHÍNH
2.1./



B




X Ử






TRUNG



TÂM



-




CPU:
Bộ xử lý trung tâm (Central Processing Unit), thường gọi tắt CPU, là
não

bộ

của

máy
vi

tính
,

điều

khiển

mọi

hoạt

động

của

máy
,




chức

năng

xử

lý,

tính

toán

dữ

liệu
dưới

sự

điều

khiển

của

một

chương


trình

đã

được

lưu

trữ

trong

bộ

nhớ.

CPU

được
thiết kế trên một vi mạch xử lý (IC) gồm các thành phần:
+

Bộ

điều

khiển

(Control


Unit



CU):



nhiệm

thông

dịch

các

lệnh

của

chương

trình


điều khiển hoạt động xử lý.
+

Các


thanh

ghi

(Register

hay

Immediate

Access

Store):

vùng

nhớ

đặc

biệt

để

CPU

sử
dụng lưu trữ tạm thời các lệnh và dữ liệu đang được xử lý.
+

Bộ

làm

tính
(Arithmetic and Logic Unit – ALU): thực hiện các phép toán số học và luận
lý.
Trong thời gian gần đây, để tăng nhanh tốc độ xử lý của máy tính, một vùng nhớ đặc biệt


tốc

độ

truy

cập

nhanh

phục

vụ

cho

việc

tăng


tốc

độ

tính

toán

của

CPU

được

thiết

kế
gọi là bộ nhớ ẩn (Cache memory). Bộ nhớ ẩn cũng được đặt ngay trong bên trong bộ xử




nối

trực

tiếp

với


mạch

xử



để

lưu

trữ

các

lệnh

chuẩn

bị

được

thực

hiện,

hay

các
lệnh thường xuyên được dùng để sẵn sàng cho CPU.

Đố i



v

ớ i



lo

ạ i



máy



XT

(Extended technologies), CPU thường dùng là loại Intel 8086, 8088 (16 bit ,
tần số hoạt động: 4.7 -> 10MHz, dung lượng bộ nhớ: 512KB -> 640KB).
Edited by Duc Long – Feb, 2005 13
Đố i



v


ớ i



lo

ạ i



máy



AT


(Advanced

technologies),

CPU

thường



loại


Intel

80286

(16

bit

hay

32

bit,
tần

số

hoạt

động:

8

->

33Mhz,

dung

lượng


bộ

nhớ

từ

1MB

trở

lên),

loại

80386,

80486.

80586,
Pentium II, III, IV… và hiện nay đã có một số loại mới khác.
Hình

6.

Các

dòng

CPU


i386SX,

486DX4,

Pentium

IV

của

Intel
2.2./



B




NHỚ : (MAIN MEMORY, CÒN


ĐƯỢ C G Ọ I








B




NHỚ


TRONG



-



INTERNAL
MEMORY)

Công việc chính của CPU là thi hành các lệnh của chương trình, nhưng tại một thời điểm
thì CPU chỉ có thể giải quyết một ít dữ liệu đã được mã hoá dưới dạng nhị phân. Như vậy,
phần

còn

lại

của


dữ

liệu

được

đọc

vào

cần

phải



một

nơi

để

lưu

giữ

lại

sẵn


sàng

cho
CPU xử lý. Đó chính là chức năng của khối bộ nhớ chính (Main Memory).
Bộ nhớ chính là loại bộ nhớ được dùng để lưu trữ chương trình và dữ liệu trong thời gian
xử lý, cấu tạo là một mạch tích hợp phức tạp gồm hàng triệu tế bào nhớ (Storage Cell).
B





nh





chính



c



a




máy



tính



g



m





:

ROM



RAM.
a.

Bộ


nhớ

chỉ

đọc

-

ROM
(Read only memory):
Bộ

nhớ

chỉ

đọc

,

dùng

để

lưu

trữ

các


chương

trình

hệ

thống

được

cài

đặt

sẵn

do

nhà
sản

xuất

cung

cấp

(như

các


chương

trình

kiểm

tra

các

thiết

bị,

các

chương

trình

khởi
động máy, các chương trình nhập xuất cơ bản nên còn gọi là ROM BIOS). Khi bật máy ,
các

chương

trình

này


sẽ

được

tự

động

thi

hành,

ngoài

ra

các

dữ

liệu

ghi

trong

ROM
không bị mất đi khi tắt máy , và cũng không thể thay đổi cập nhật. Do đó ROM còn được
gọi



BỘ

NHỚ

CHẾT
.
b.

Bộ

nhớ

truy

xuất

ngẫu

nhiên

-

RAM
(Random access memory):
B










nh









truy



xu

ất



ng

ẫu




nhiên

,

dùng

để

lưu

trữ

các

dữ

liệu
Hình

7.

Hình

dáng

của

RAM



chương

trình

tạm

thời

trong

quá

trình

làm

việc

với

máy
tính. Có thể đọc và ghi

dữ liệu trên RAM, nhưng dữ liệu sẽ
bị mất đi khi khởi động lại hay tắt máy. RAM còn được gọi là
BỘ

NHỚ


SỐNG
.
T ổ


chứ

c



d




li

ệ u



trong



b





nh



:

Bộ

nhớ



một

dạng
mạch điện tử, do cấu tạo từ các thành phần chỉ có hai trạng
thái nên được biểu thị bằng hai trạng thái
0



1
.Trong máy
tính dùng
BIT
(binary digit) làm đơn vị cơ bản để diễn tả hai
trạng thái trên, vì vậy khi đưa dữ liệu vào máy tính cần phải
chuyển chúng thành


tổ hợp các BIT thì máy tính mới hiểu được (Bit được xem là cơ sở
để đo lường thông tin)
Do đó,

đơ

n



vị



nh





nh

ấ t



để




đ

o



lường



sự



lưu



trữ



thông



tin

của bộ nhớ(đơn vị đo dung

lượng bộ nhớ) là
BYTE
.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 14
Theo

tiêu

chuẩn

của

bảng



ASCII

(American

Standard

Code

for

Information
Interchange), thì
1


Byte
có thể biểu diễn được
1



tự
(bảng mã này có thể mã hóa được
2
8

kí tự <=> 256 kí tự )
Ta có các đơn vị tính như sau:
1
BYTE


8

BIT
.
1 KB

(Kilobyte) = 1024 BYTES = 2
10
BYTES
1 MB (Megabyte) = 1024 KB = 1024

×


1024 BYTES = 1.048.576 BYTES
1 GB

(Gigabyte) = 1024 MB
1 TB

(Terabyte) = 1024 GB
Cách



làm



vi

ệ c



c



a



b






nh



:
Lưu trữ trong bộ nhớ có thể là tập lệnh chương trình hay
dữ liệu của hình ảnh, các con số của phép tính số học hay luận lý và cũng có khi là các ký
tự chữ cái. Bộ nhớ gồm các ô nhớ được đánh số thứ tự (bắt đầu từ 0). Số thứ tự của một
ô

nhớ

được

gọi



địa

chỉ

của

ô


nhớ,



khi

thực

hiện

chương

trình

thì

máy

tính

sẽ

truy
nhập nội dung thông tin ghi trong ô nhớ thông qua các địa chỉ này.
Bộ

nhớ

chính


của

máy

PC

phổ

biến

hiện

nay



dung

lượng

64MB,

128MB,

256MB

(bộ
nhớ được đề cập ở đây thường gọi là các thanh RAM, nằm ngoài CPU).
Ho


ạ t



độ

ng



c



a



máy



tính

:
Khi

khởi


động

máy,

CPU

tự

động

đọc

thông

tin

trong

ROM



thi

hành.

Sau

đó


đọc

đến
thông tin trên đĩa khởi động và nạp các thông tin hệ điều hành (HĐH) trên đĩa vào bộ nhớ
RAM.

Các

thông

tin

lưu

trên

RAM



các

ô

nhớ



CPU




thể

thực

hiện

các

tác

vụ

để
khởi động. Sau khi các thao tác này kết thúc thì hệ thống đã xem như sẵn sàng để hoạt
động (hết nhiệm vụ khởi động của HĐH), lúc đó thì chương trình sẽ được nạp vào bộ nhớ
nếu người sử dụng có yêu cầu và CPU sẽ thực hiện tuần tự.
3./

CÁC

THIẾT

BỊ

NHẬP/

XUẤT


(INPUT/

OUTPUT

DEVICES)
3.1./ THI Ế T



B




NH Ậ

P:
a.Bàn



phím:



(



Keyboard




)
Bàn

phím



thiết

bị

nhập

chuẩn
,

dùng

để

thao

tác,

hội
thoại,


đưa

dữ

liệu

từ

ngoài

vào

máy

tính,

thường



101


105 phím.
Hình

8.

Bàn


phím

loại

QWERT
Bàn phím có thể thiết kế gắn liền vào máy tính hoặc tách rời, thường được chia thành 3
nhóm chính:
Nhóm



phím



ch



c



n

ă ng



(Function




Keys)

:

các

phím

F1,

,

F12



một

số
phím đặc biệt như ALT, CTRL, DEL
Nhóm



phím




các







t





thông



th

ườ

ng

: A,B,$,%, 1,2,3,
Nhóm




phím



s




(NumPad



-



n

ằ m



phía



tay




ph

ả i)
Loại

bàn

phím

thông

dụng



được

chấp

nhận

nhiều

nhất

trên

thế


giới



loại

bàn

phím
QWERT
.
b.



Con



chu



t:



(Mouse)
Con


chuột



thiết

bị

giúp

thao

tác

di

chuyển

con

trỏ

chuột

(Mouse

Pointer)

1


cách
nhanh chóng, hoặc dùng để chọn, chuyển dịch một đối tượng từ nơi này sang nơi khác.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 15
Con chuột thường được thể hiện thông qua con trỏ trên màn hình. Khi người sử dụng di
chuyển con chuột trên mặt bàn thì con trỏ cũng di chuyển trên màn hình.
Một

số

loại

con

chuột

thông

dụng:
+ Con chuột chuẩn: gồm các nút nhấn ở trên và một viên bi ở dưới, có cấu tạo nhỏ
gọn và nối máy tính bởi một sợi dây thông qua cổng giao tiếp COM, PS2, hoặc USB.
+

Con

chuột

Tracker

ball:


giống

như

một

con

chuột

bị
lật ngửa lên, viên bi hướng nằm ở trên.
+ Phiến nhấn Touch sensitive pad (Track pad): thường
gặp



các

máy

tính

xách

tay

(Laptop

computer).


Phiến

nhấn


một

bề

mặt

nhỏ

nhạy

cảm

với

những

áp

lực

tác

động


lên
nó, người dùng di chuyển con trỏ bằng cách rê ngón tay trên
phiến nhấn.
Hình

9.

Con

chuột

chuẩn
c.



C

ầ n



đ

i

ề u




khi

ể n:



(Joystick)
Giống

như

cần

điều

khiển

trong

máy

trò

chơi

điện

tử,

thao


tác

giống

như

con

chuột
Tracker ball.
d.



Màn



hình



c

ả m






ng:



(Touch



screen)
Màn

hình

thiết

kế

đặc

biệt

để



thể

cảm


nhận

được

sự

chỉ

điểm

của

ngón

tay

hay

vật
nào đó đối với màn hình.
Loại màn hình này thích hợp sử dụng trong ngân hàng, cao ốc văn phòng, nhà hàng, …
e.



Bàn



v


ẽ :



(Graphics



tables/



Digitisers)
Bàn vẽ là thiết bị đặc dụng dành cho những nhà thiết kế, hoạ sỹ. Có nhiều loại kích cỡ từ
khổ A4 đến khổ A0.
f.



Thi

ế t



bị




đọ

c



th

ẻ :



(Barcode



Reader,



Magnetic



Stripe



Reader)
Các


thiết

bị

đọc

được

chế

tạo

để

đáp

ứng

khả

năng

bị

giới

hạn

khả


năng

đưa

dữ

liệu


thông tin văn bản trực tiếp trên giấy, hay chuyển các thông tin đã in ra cho máy tính xử lý.
Có nhiều kiểu loại thiết bị đọc thẻ như: thiết bị đọc mã vạch, thiết bị đọc thẻ từ, …
Hình

10.

Thiết

bị

đọc

thẻ

từ,

thẻ

từ,


thẻ



vạch
g.



Máy



quét:



(Scanner)
Máy quét là thiết bị dùng để quét văn bản hay hình
ảnh

vào

trong

bộ

nhớ

máy


tính

để

xử



hay

lưu
trữ,…
Hình

11.

Máy

quét
Edited by Duc Long – Feb, 2005 16
h.



Máy



ả nh




k





thu

ậ t



s



:



(Digital



Cameras)
Giống


như

máy

ảnh

truyền

thống

nhưng

không



phim,

được

thay

thế

bằng

bộ

nhớ


để
lưu trữ hình ảnh, cũng như nhiều thông tin khác (như âm thanh, văn bản, …).
Với

máy

ảnh

kỹ

thuật

số

cũng

phải

cần



một

phần
mềm

đặc

biệt


để

biên

tập,

lưu

trữ



hiển

thị

các

ảnh
trên máy tính.
Webcam là một dạng máy ảnh kỹ thuật số, không có bộ
nhớ,

được

nối

trực


tiếp

với

máy

tính

thông

qua

cổng
USB.

Thường

dùng

nhiều

trong

dịch

vụ

VoiceChat

trên

Internet

để có

thể

truyền

thông

trực

tiếp

bằng

hình

ảnh
qua mạng.
Hình

12.

Caméra



Webcam
i.




M



t



s




thi

ế t



b




khác




nh

ư


:



Punched



Card



(Kimball



tag),



Voice




recognition
(Microphone)
Phiếu đục lỗ (Punched Card) chứa những lỗ ở các vị trí khác nhau biểu thị cho thông tin
khi

được

đọc

bằng

thiết

bị

đọc

lỗ.

Trước

khi

màn

hình



bàn


phím

được

sử

rộng

phổ
biến thì phiếu đục lỗ là phương pháp chính để nhập dữ liệu vào máy tính, dạng vẫn còn
sử dụng hiện nay là Kimball tag (phiếu nhỏ được đục lỗ thường dùng trong các cửa hàng
quần áo, siêu thị, …)
Thiết bị nhận dạng âm thanh dùng để đưa âm thanh, tiếng nói vào máy tính. Microphone
được sử dụng như là một thiết bị nhập trong hệ thống nhận dạng tiếng nói.
3.2./ THI Ế T



B




XU Ấ

T:
a.Màn




hình;(Monitor



hay



Video



display



units



-



VDUs)
Màn

hình




thiết

bị

xuất

chuẩn
,

được

dùng

để

hiển

thị

thông

tin

cho

người

sử


dụng
xem, về cấu tạo cơ bản giống như TV.
Màn

hình



nhiều

kích

thước



độ

phân

giải

(Resolution

-

số

điểm


ảnh

thể

hiện

trên
màn hình) khác nhau
Hiện nay có 2 loại màn hình căn cứ trên độ phân giải ( Resolution ) và màu sắc.
Màn hình đơn sắc ( Monochrome)

chỉ có 2 màu, chữ trắng trên nền đen.
Màn hình màu gồm các loại:
CGA (Color graphics Adaptor) 8

×
8 640

×
200
EGA (Enhanced Adaptor ) 8

×
14 640

×

350
VGA (Video graphics Array) 10


×
24 640

×

480 1024

×
768
SVGA.
Màn

hình



2

kiểu

làm

việc

khác

nhau:

kiểu


văn

bản

(Text

mode

)

hoăc

kiểu

đồ

họa
(Graphics mode ).
Ki

ể u



v

ă n




b

ả n

: màn hình

thường có

25 dòng ( 0 24) và 80 cột

( 0 79)
hiển thị ở dạng kí tự thông thường và đơn giản.
Ki

ể u


đồ


h



a

:

được


sử

dụng

để

hiển

thị

các



hiệu

hay

các
hình vẽ phức tạp.
Màn

hình

tinh

thể

lỏng


(Liquid

crystal

display



LCD):

thường
dùng với các máy tính PC hoặc Laptop computer do kích thước
nhỏ gọn và nhẹ.
Hình

13.

Màn

hình

màu

SVGA
Edited by Duc Long – Feb, 2005 17
Màn hình đồ hoạ (Graphical display unit); thường có kích thước lớn hơn và độ phân giải
cao hơn các VDUs bình thường. Màn hình đồ hoạ hay được sử dụng với bút cảm quang
(Light pen - thiết bị nhập chủ yếu dùng trong các công việc thiết kế).
b.




Máy



In:



(Printer)
Máy

in



thiết

bị

dùng

để

xuất

thông


tin
ra giấy.
Có 2 loại máy in: In kim (Dot-matrix) 9, 24 kim
In Laser (Laser-jet) hay in phun mực (Ink-jet)
Hình

14.

Máy

in

Laser



máy

in

kim
Máy in Laser (Laser printer) thường có tốc độ in cao

và chất lượng in đẹp đối với văn bản
lẫn đồ hoạ. Máy in Laser có hộp đựng mực bột (toner cartridges) chứa mực in ở dạng bột
đã được tích điện (fine powdered black plastic) gọi là toner, máy in khi hoạt động sẽ làm
nóng chảy mực để dính lên giấy.
Máy

in


phun

(Ink-jet

printer,

hay

còn

gọi

bubble-jet

printer)



giá

thành

rẻ

hơn

máy

in

Laser, cho bản in có chất lượng với đen trắng lẫn màu. Tuy nhiên, máy in phun có khuyết
điểm



mực

in

(ink

cartridges)

phải

thường

xuyên

thay

thế

(do

hao

mực

khi


in)



mắc
tiền.
Máy in kim (Dot-matrix printer) hiện nay hầu hết được thay thế bởi máy in

Laser và máy
in phun do các khuyết điểm về tốc độ in chậm, chất lượng in không cao, nhiều tiếng ồn, …
Tuy nhiên, máy in kim vẫn được sử dụng trong một số trường hợp in nhiều trang liên tục
như: in hoá đơn trong siêu thị, in hoá đơn tiền điện, in giấy báo thi đại học, …
c.



Máy



v

ẽ :



(Graph




plotter)
Máy vẽ là một

dạng máy in tạo ra các hình chất

lượng cao bằng di chuyển

các

bút

mực
trên

mặt

giấy.

Máy

in

di

chuyển

bút

theo


sự
điều

khiển

của

máy

tính

nên

việc

in

thực

hiện
tự động. Các máy vẽ được dùng rộng rãi trong
công tác thiết kế bằng máy tính và đồ hoạ biểu
diễn.
d.



Tín




hi

ệ u



đ

i

ệ n:



(Electrical



signals)
Đôi khi đầu ra từ một hệ thống máy tính có thể
đơn

giản



một


dã y

các

tín

hiệu

điện.

Đây


trường hợp mà má y tính được sử dụng như là
một thiết bị đầu cuố i và công việc của nó là gởi
các tín hiệu điện từ xa đến một máy tính chủ.
Hình

15.

Máy

vẽ
Edited by Duc Long – Feb, 2005 18
4./

HOẠT

ĐỘNG


CỦA

MÁY

TÍNH
-Máy

tính



một

hệ

thống

thiết

bị

xử



thông

tin

theo


một

chương

trình

định

trước

(dựa
trên

nguyên



thiết

kế

máy

tính của

Von

Neumann).


Hoạt

động

của

máy

tính

được

điều
khiển bằng chương trình lưu giữ trong bộ nhớ, bộ nhớ được chia thành các ô nhớ có địa
chỉ, việc truy nhập nội dung các ô nhớ được thực hiện thông qua các địa chỉ của nó.
-Tại mỗi thời điểm máy tính thực hiện một lệnh rất nhanh tuỳ theo tốc độ xử lý của máy.
Máy

tính

hiện

nay



thể

thực


hiện

hàng

chục

vạn

lệnh

đến

hàng

triệu

lệnh

trong

một
giây.
-
Thông

tin

về

một


lệnh
bao gồm:
Địa chỉ của lệnh trong bộ nhớ
Mã lệnh của thao tác cần thực hiện
Địa chỉ của các ô nhớ liên quan
Địa chỉ của các ô nhớ là cố định nhưng nội dung ghi ở đó có thể thay đổi trong quá trình
máy tính làm việc.
-Khi xử lý thông tin, máy tính xử lý đồng thời một dãy bit (chứ không xử lý đơn thuần tuần
tự từng bit), Dãy bit như vậy được gọi là từ máy (Word), độ dài từ máy có thể 8 (1Byte),
16 (2Byte), 32 (4Byte), hay 64 (8Byte) phụ thuộc từng máy.
Lệnh
địa chỉ
ô nhớ
1 ô nhớ
Program
Lệnh:
-Địa chỉ
-Mã lệnh
-Địa chỉ lquan
0
Mã lệnh 1
1
Mã lệnh 2
2

3




1

word
CPU
(RAM)
Hình

16.



đồ

hoạt

động

của

máy

tính

khi

thực
hiện

một


lệnh

từ

thiết

bị

nhập
Edited by Duc Long – Feb, 2005 19
BÀI

ĐỌC

THÊM
SỰ

RA

ĐỜI

CỦA

MỘT

NGUYÊN



LỚN

Khoảng thời gian từ năm 1937 đến năm 1943, nhà toán học Hovard Aiken tại đại học Havard đã cùng một
nhóm kỹ sư của hãng IBM hoàn thành việc chế tạo máy tính điện tử Mark-1. Đó là chiếc máy tính khổng lồ
về kích thước, nặng tới 5 tấn, dùng rơle, được điều khiển bằng chương trình mã bằng các lỗ đục trên giấy
có giá thành 500 nghìn dollar Mỹ. Máy có thể làm phép nhân các số có 23 chữ số trong thời gian 3 giây và
do đó giải dễ dàng các bài toán cho quốc phòng. Mark-1 được sử dụng để tính toán đường đạn cho pháo
binh. Sau này dù có những máy tính tân tiến hơn nhưng Mark-1 vẫn được sử dụng trong Phòng Toán học
tính toán của Đại học Havard cho đến tận năm 1959 trong vai trò đào tạo các chuyên gia thiết kế máy tính.
Một máy tính khác mang tên ENIAC do Eckert và Mauchly thuộc trường Kỹ thuật cao, Đại học Pensylvania
thiết

kế.

Giống

như

Mark-1,

ENIAC

sử

dụng

trực

tiếp

dạng


biểu

diễn

thập

phân

của

các

số

nhưng

tốc

độ
cao hơn Mark-1 tới 1000 lần vì đã thay các rơle bằng các bóng điện tử. ENIAC đã đạt đến giới hạn của kỹ
thuật thời đương đại với cấu trúc chứa gần hai chục nghìn bóng điện tử. Trước thời điểm đó không hề có
máy

nào

sử

dụng

đến


2000

bóng

điện

tử.

Vấn

đề

hóc

búa

nhất

trong

quá

trình

bảo

dưỡng

máy




sự

cố
cháy

bóng.

Trong

vòng

một

năm,

người

ta

đã

phải

thay

tới


19

nghìn

bóng

điện

từ

bị

cháy,

tức



thay

tới
100% số bóng hiện có của máy tính. ENIAC chính là máy tính điện tử tự động vạn năng đầu tiên theo đúng
nghĩa của từ này: sử dụng các linh kiện điện tử, làm việc

tự động theo chương trình và giải nhiều lớp bài
toán ứng dụng khác nhau.
Mauchly và Eckert sớm hiểu rằng sức mạnh của máy tính thể hiện ở tiềm năng chứa và xử lý lượng thông
tin lớn và do đó các thiết bị điện cơ không thể đảm đương nổi các chức năng như vậy. Tại thời điểm này,
thanh ghi tổng của ENIAC chỉ có


thể chứa được những số hệ thập phân dài tối đa

20 chữ số. Điều phiền
toái lớn nhất trong dòng các máy tính chế tạo vào thời gian đó kể cả ENIAC là không thể tổ chức được các
lệnh biến thiên. Với các máy tính hiện đại thì ta có thể dễ dàng cài đặt câu lệnh While E do A, chẳng hạn
bằng hợp ngữ, nhưng với ENIAC thì việc cài đặt không dễ chút nào. Vì sao vậy? Vì trong các họ máy thời
đó,

dữ

liệu



chương

trình,

tức



dãy

lệnh

xử




dữ

liệu

đó

được

đặt

tại

hai

vùng

riêng

biệt.

Tóm

lại


chúng ta muốn có các chương trình có khả năng thay đổi trong quá trình thực hiện. Nguyên lý này được gọi
là "Nguyên lý chương trình thay đổi". Ta có thể dễ dàng thực hiện được nguyên lý này nếu chương trình và
dữ liệu được lưu trữ trong cùng một vùng nhớ. Lúc đó ta có thể xem mỗi câu lệnh hoặc mỗi tham biến điều
khiển của một câu lệnh cũng là một đơn vị dữ liệu và do đó dễ dàng thay đổi chúng. Chính vì vậy mà người
ta


thường

nói

về

"Nguyên lý

chương

trình

lưu

trữ"

với

ý

nghĩa



trước

khi

thực


hiện,

chương

trình



dữ
liệu phải được lưu trữ đồng thời trong cùng một vùng nhớ của máy tính.
Từ năm 1943 Mauchly và Eckert bắt đầu nghiền ngẫm về ý tưởng cho ra đời một loại máy tính chứa lượng
dữ liệu lớn và hoạt động theo nguyên lý chương trình lưu trữ trước khi ENIAC được khởi công tới hai năm.
Nguyên lý mới này sẽ làm thay đổi cơ bản thiết kế máy tính và là cơ sở để xây dựng các ngữ trình bậc cao.
Hai

ông

đề

nghị

đặt

tên

cho

máy


mới



EDVAC

(Electronic

Discret

Variable

Automatic

Computer)



sử
dụng các đường trễ thuỷ ngân được dùng rộng rãi trong thời chiến, trong các thiết bị định khoảng thời gian
dịch chuyển của các đối tượng chuyển động làm đơn vị lưu trữ trong. Đó là các ống chứa thuỷ ngân dường
Bộ nhớ
như



khả

năng


tập

trung

các

xung

điện,

để

đến

một

điều

kiện

thích

hợp

thì

giải

phóng


chúng.

Một

đặc
điểm nữa của máy EDVAC là dùng hệ nhị phân cho biểu diễn dữ liệu do đó đã đơn giản hoá thiết kế, giản
lược

đáng kể các



đồ của bộ số học. Trong khi Mauchly và Eckert phác

thảo thiết kế thì
một

nhà

toán
học

lỗi

lạc

gốc

Hung




Von

Neumann

đã

chấp

bút



tả

dưới

dạng

tổng

quát



tưởng

chương
trình


lưu

trữ

trong

bộ

nhớ.
Bản viết của Neumann dày 101 trang được trình bầy rõ ràng, khúc triết với sức
thuyết

phục

rất

cao.

Tuy

nhiên,

vào

ngày

1/6/1945,

một


thành

viên

của

nhóm



German

Goldstein

đã

vội
vàng

phân

phát

bản

báo

cáo


trên

cho

hơn

30

chuyên

gia

dưới

tiêu

đề

"Dự

thảo

báo

cáo

về

máy


tính
EDVAC"

trong

đó

Neumann

được

giới

thiệu

như

tác

giả

duy

nhất

của

các

nguyên




mới.

Nhờ

khả

năng
diễn tả kỳ tài của Neumann, bản báo cáo đã có được sức thuyết phục đáng kể mà thiếu nó sẽ rất khó có thể
tranh

thủ

được

sự

ủng

hộ

của các

thành

viên Hội đồng cấp cao

đối


với

dự án.

Tuy

nhiên,

việc

phân phát
báo cáo quá sớm cũng gây ra cuộc tranh luận dài ngày về bản quyền phát minh
nguyên



chương

trình
lưu

trữ

trên

bộ

nhớ


trong
khiến Mauchly và Eckert không thể nhận được quyền phát minh.
Cộng với nhiều lý do khác Mauchly và Eckert đã rời Đại học Pensylvania vào ngày 2 tháng 3 năm 1946 để
lập công ty riêng. Mất hai thành viên đầu đàn, công việc xây dựng EDVAC bị ngừng trệ.
Từ

năm

1946

đến

năm

1950,

Neumann

chỉ

đạo

thiết

kế

máy

tính


IAS

(lấy

tên

của

Institute

for
Advanced

Study-Viện

nghiên

cứu

các

vấn

đề

hiện

đại).

Thành


tựu

này

quả



một

cuộc

cách

mạng
xuất

chúng.

Lần

đầu

tiên



tưởng


xử



song

song

được

thể

hiện

trong

máy

tính.

Nguyên


Edited by Duc Long – Feb, 2005 20
chương

trình

lưu


trữ

được

triển

khai

với

nhiều

sáng

tạo.

Neumann

đề

xuất

khái

niệm

về

từ


(word)
như

một

dãy

bit

được

xử



đồng

thời

như

một

đơn

nguyên
.

Máy


chứa

20

hình

trụ,

mỗi

cái



dung
lượng 1024 bit.
Đó là lý do vì sao nguyên lý thiết kế máy tính thường được gọi là
Nguyên



Von

Neumann.
Hình b. Micro Computer Case
Hình a. Mini Computer Case
Hình c. Laptop Computer
và Touchpad
Hình d. Server Computer
với nhiều ổ đĩa

Hình

17.

Hình

ảnh

một

số

loại

máy

tính

thông

dụng
Edited by Duc Long – Feb, 2005 21
BÀI
BIỂU

DIỄN

THÔNG

TIN


TRONG

MÁY

TÍNH
1./

HỆ

THỐNG

SỐ

-

CÁCH

CHUYỂN

ĐỔI

GIỮA

CÁC

HỆ

THỐNG


SỐ
Hệ thống số (number system) là công cụ để biểu diễn lượng. Cùng một lượng sẽ có các
biểu diễn khác nhau trong các hệ thống số khác nhau. Hệ thống số chúng ta dùng trong
cuộc sống hàng ngày là hệ thập phân. Khi ta đếm 1, 2, 3, , 10, hay khi làm phép cộng
9 +1 = 10, thực chất là ta đã thực hiện các phép toán ấy trên hệ thập phân.
Chúng

ta

sẽ

sử

dụng

hệ

thập

phân

như

một

phương

tiện

để


xây

dựng

các

hệ

thống

số
khác.

Trong

phần

này,

các

số



các

phép


toán,

nếu

không



chú

thích



thêm,

sẽ
được hiểu là ở trong hệ thập phân
1.1./ H Ệ


TH Ậ

P



PHÂN








KHÁI



NI

Ệ M C Ơ


SỐ


:
-

Hệ

thập

phân

dùng

mười




hiệu

từ

0

đến

9

để

biểu

diễn

các

số.

Mỗi



hiệu

này
được gọi là một chữ số.

-

Các

chữ

số

của

số

trong

hệ

thập

phân

chính



các

hệ

số


trong

khai

triển

số

đó

thành
tổng

các

luỹ

thừa

của

10
.
Ví du : Số 315 trong hệ thập phân cần được hiểu là một số có 3 chữ số trong đó
315

=

3


x

10

2

+

1

x

10
1

+

5

x

10
0
3 là chữ số hàng trăm, 1 là chữ số hàng chục, 5 là chữ số hàng đơn vị.
Số 1.966 trong hệ thập phân cần được hiểu là một số có 4 chữ số trong đó
1.966

=

1


x

10
0

+

9

x

10
-1

+

6

x

10
-2

+

6

x


10
-3
1 là chữ số hàng đơn vị
9 là chữ số hàng phần chục, 6 là chữ số hàng phần trăm
6 là chữ số hàng phần ngàn.
-

Với

mối

liên

hệ

này,

ta

nói

10





số

(base)


của

hệ

thập

phân.



vậy

hệ

thập

phân
còn

được

gọi



hệ

đếm




số

10
1.2./ HỆ ĐẾM C Ơ


SỐ


A



:
Tổng quát khái niệm quen thuộc này, chúng ta có một
hệ

đếm



số

a
( a là số tự nhiên
lớn hơn 1)
Phải dùng a chữ số để biểu diễn số.
Chữ số nhỏ nhất là 0, chữ số lớn nhất là a-1

Đị nh ngh ĩa : Biểu diễn của số N trong hệ cơ số a, ký hiệu Na, trong đó a là số tự nhiên lớn
hơn 1, là Na = bnbn-1 b1b0b-1b-2 b-m nếu và chỉ nếu số N có giá trị bằng :
̣
N=b
n

x

a
n

+

b
n-1

x

a
n-1
+ +

b
1

x

a
1


+

b
0

x

a
0
+

b
-1
x

a
-1

+

b
-2

x

a
-2

+ +


b
-m

x

a
-m
trong đó bn, bn-1, , b1,b0,b-1,b-2, ,b-m là các chữ số trong hệ cơ số a
, 0

bi

a-1
Lưu ý: công thức khai triển là công thức chuyển đổi số N từ hệ cơ số a sang hệ 10.
H ệ



đế

m



c

ơ


s





10

(hệ

thập

phân)



hệ

đếm

dùng

trong

đời

sống

hàng

ngày


từ

lâu

đời.
Chúng ta sẽ xem xét thêm một số hệ đếm thường được dùng trong kỹ thuật máy tính :
hệ
nhị

phân

(hệ

đếm



số

2),

hệ

bát

phân

(hệ

đếm




số

8),

hệ

thập

lục

phân

(hệ

đếm


số

16)
Edited by Duc Long – Feb, 2005 22
1.3./ H Ệ


NH Ị



PHÂN,



BÁT



PHÂN







TH



P



L

Ụ C




PHÂN



:
a. H ệ


nhị



phân



(binary)
Hệ

nhị

phân





số




2
( a=2), dùng hai


hiệu

0



1
. tương ứng với hai giá trị thập
phân

0



1,

để

biểu

diễn

số

nhị


phân.

Người

ta

gọi

một

chữ

số

nhị

phân



bit
,

viết

tắt
của từ
Binary


digit
Ví du : Số nhị phân 10010101 có
8

bit
Ví du : Sử dụng định nghĩa để tính giá trị của một vài số nhị phân sau :


100101012
có giá trị bằng :
1 x 2
7
+ 0 x 2
6
+ 0 x 2
5
+ 1 x 2
4
+ 0 x 2
3
+ 1 x 2
2
+0 x 2
1
+ 1 x 2
0
= 128

+ 0 + 0 +


16 + 0 + 4 +

0 + 1
= 149
Vậy :
100101012

=

149


101110.012
có giá trị bằng :
1 x 2
5
+ 0 x 2
4
+ 1 x 2
3
+ 1 x 2
2
+1 x 2
1
+ 0 x 2
0
+0 x 2
-1
+ 1 x 2
-2

= 32

+ 0 + 8 +

4 +

1 + 0 +

0 +

0.25
= 46.25
Vậy :
101110.012=

46.25
Chúng ta

nhận thấy để biểu diễn cùng một lượng, số nhị phân dùng nhiều chữ số hơn số
trong

hệ

thập

phân.



vậy


việc

đọc



viết

số

nhị

phân

khó

khăn



dài

dòng.

Hệ

bát
phân




hệ

thập

lục

phân

được

xây

dựng

nhằm

đáp

ứng

sự

đòi

hỏi

một


phương

pháp
biểu diễn ngắn gọn hơn.
b.



H




bát



phân(octal)
Hệ

bát

phân





số




8
( a=8), dùng tám


hiệu

0,

1,

2,

3,

4,

5,

6,

7
tương ứng với
các giá trị thập phân từ 0 đến 7, để biểu diễn số bát phân.
Ví du : Sử dụng định nghĩa để tính giá trị của một vài số bát phân sau :


1738
có giá trị bằng :

1 x 8
2
+ 7 x 8
1
+ 3 x 8
0
= 64

+ 56

+ 3
= 123
Vậy :
1738

=

123


10.48
có giá trị bằng :
1 x 8
1
+ 0 x 8
0
+ 4 x 8
-1
=8
+ 0 +


0.5
= 8.5
̣
̣
̣
Vậy :
10.48

=

8.5
c.



H




th

ậ p



l




c



phân



(hexadecimal)
Hệ

thập

lục

phân





số



16
( a=16), dùng
mười


sáu



hiệu

0,

1,

2,

3,

4,

5,

6,

7

8,
9,

A,

B,

C,


D,

E,

F
tương ứng với các giá trị thập phân từ 0 đến 15, để biểu diễn số thập
lục phân. Chữ số A có giá trị thập phân là 10, chữ số B có giá trị thập phân là 11, chữ số
C có giá trị thập phân là 12, chữ số D có giá trị thập phân là 13, chữ số E có giá trị thập
phân là 14, chữ số F có giá trị thập phân là 15.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 23
Ví du : Sử dụng định nghĩa để tính giá trị của một vài số thập lục phân sau :


A4B516
có giá trị bằng :
10 x 16
3
+ 4 x 16
2
+ 11 x 16
1
+ 5 x 16
0
= 40960 +

1024

+


176 + 5
=

42165
Vậy :
A4B516

=

42165


10F.C816
có giá trị bằng :
1 x 16
2
+ 0 x 16
1
+ 15 x 16
0
+ 12 x 16
-1
+ 8 x 16
-2
= 256

+ 0 + 15 + 0.75 +

0.03125
= 271.78125

Vậy :
10F.C816

=

271.78125
Một

cách

khác

để

chỉ



một

số

trong

hệ

thập

lục


phân



ghi

chữ

h

sau

số

đó.



dụ
10F.C816 có thể viết là 10F.C8h
1.4./ CÁC QUI T Ắ

C CHUY ỂN


ĐỔ I



QUA




L



I GI Ữ A



CÁC



S




TRONG H Ệ


TH Ậ

P PHÂN,
SỐ


NHỊ



PHÂN, S Ố


BÁT



PHÂN







S




TH Ậ

P



L


Ụ C



PHÂN



:
Sau đây là các qui tắc chuyển đổi qua lại giữa các hệ thống số với nhau:
a.



Chuy

ể n



đổ

i



s






từ



h




th

ậ p



phân



sang



h






đế

m



c

ơ



s





a



(nh





phân,




bát



phân,



th

ậ p
l



c



phân)



:
Qui t ắ c 1:

Muốn đổi một số trong hệ thập phân sang số trong hệ đếm cơ số a, ta

chuyển
đổi

phần

nguyên

sang

phần

nguyên



phần

lẻ

(nhỏ

hơn

1)

sang

phần

lẻ


trong

hệ
đếm



số

a
.
Qui t ắ c



2

:

Muốn đổi một số nguyên trong hệ thập phân sang số trong hệ đếm cơ số a, ta
thực

hiện

các

phép

chia


liên

tiếp

cho

a

cho

đến

khi

thương

số

bằng

0
. Đầu tiên, lấy
số

đó

chia

cho


a.

Thương

số

của

phép

chia

trước



số

bị

chia

của

phép

chia

sau.


Viết
các số dư của các phép chia theo thứ tự ngược lại, ta được số trong hệ đếm cơ số a
Ví dụ :

Đổi số 13 sang số nhị phân Đổi số 271 sang số thập lục phân
13
2 271 16
1 (F)

15
6
2
16
16
0 0
3
2
1
16
1 1
1
2
0
1 0
Vậy :
13

=


1101
2
Vậy :
271

=

10F

h
̣
Qui t ắ c 3:

Muốn đổi phần lẻ của số trong hệ thập phân sang phần lẻ của số trong hệ đếm
cơ số a, ta
thực

hiện

các

phép

nhân

liên

tiếp

với


a

cho

đến

khi

phần

lẻ

của

tích

số
bằng

0
.

Đầu

tiên

lấy

phần


lẻ

của

số

đó

nhân

cho

a.

Phần

lẻ

của

tích

số

trước



số


bị
nhân

của

phép

nhân

sau.

Viết

phần

nguyên

của

các

tích

số

theo

thứ


tự

thuận,

ta

được
phần lẻ của số trong hệ đếm cơ số a.
Edited by Duc Long – Feb, 2005 24
Ví dụ : Đổi số 0.375 sang số nhị phân
Ví dụ : Đổi số 13.375 sang số nhị phân
Theo ví dụ trên, ta có : 13 = 11012 và 0.375 = 0.0112
Do đó :
13.375
=
1101.011
2
Ví dụ : Đổi số 0.78125 sang số thập lục phân
Do đó :
0.78125
=
0.C8
h
b.



Chuy

ể n




đổ

i



s





từ



h




nhị



phân




sang



h




bát



phân







ng

ượ

c




l

ạ i



:
Qui



t

ắ c



4

:

Mỗi

nhóm

ba

chữ


số

nhị

phân,

tính

từ

dấu

chấm

phân

cách

phần

nguyên


phần lẻ, tương đương với một chữ số bát phân theo bảng sau :
Ví dụ :

Đổi số 1101110.0112 sang số bát phân
1

101




110


.

011
1 5 6 3
Vậy :

1101110.011
2 =
156.3

8
Ví dụ :

Đổi số 475.038 sang số nhị phân
4

7

5

.

0


3
100 111 101 000 011
Vậy :

475.03
8 =
100111101.000011
2
c.



Chuy

ể n



đổ

i



s






từ



h




nhị



phân



sang



h




th

ậ p




l



c



phân







ng

ượ

c



l

ạ i




:
Qui



t

ắ c



5

: Mỗi nhóm bốn chữ số nhị phân,

tính từ

dấu chấm phân cách phần

nguyên


phần lẻ, tương đương với một chữ số thập lục phân theo bảng sau :
Thực hiện phép nhân
Kết quả
Phần lẻ
Phần nguyên
0.78125 x 16

12.50
0.50
12 (C)
0.50 x 16 8.00 0 8
Thực hiện phép nhân
Kết quả
Phần lẻ
Phần nguyên
0.375 x 2
0.75
0.75
0
0.75 x 2
1.5
0.5
1
0.5 x 2 1.0 0 1
Nhóm

ba

chữ

số

nhị

phân
Chữ


số

bát

phân
000
0
001
1
010
2
011
3
100
4
101
5
110
6
111 7
Vậy
:

0.375
=
0.011
2
Edited by Duc Long – Feb, 20
05 25
Ví dụ :


Đổi số 1010 0101 1010 01012 sang số thập lục phân
1010



0101



1010


.

0101

A 5 A 5
Ví dụ :

Đổi số 475.038 sang số nhị phân
Vậy :

1010

0101

1010

0101

2

=
A5A5
h
4

7

5

.

0

3
100 111 101 000 011
Vậy :

475.03
8 =
100111101.000011
2
2./



HOÁ




BIỂU

DIỄN

DỮ

LIỆU

TRONG

MÁY

TÍNH
2.1./



T



I



SAO




TRONG



MÁY



TÍNH,



PH



I



DÙNG



H



NH Ị


PHÂN


ĐỂ

BI

Ể U



DI

ỄN

THÔNG TIN ?
Các linh kiện và vật liệu điện, điện tử dùng để chế tạo máy tính, chế tạo bộ nhớ đều chỉ
có hai trạng thái :
đóng
(ON) tương ứng với 1,
hở
(OFF) tương ứng với 0. Sử dụng hai
trạng thái của một công tắc là
bật

(1)-

tắt

(0)

, hoặc hai trạng thái
thông

(1)



hở

(0)
của
đèn điện tử, đèn bán dẫn để mô phỏng cho các thiết bị này.
Hở mạch (0) Đóng mạch (1)
OFF ON
Mặt khác, như chúng ta đã biết,
hệ

nhị

phân



hệ

thống

số

chỉ




hai



hiệu



0


1
.
Do

đó,

muốn

đưa

các

thông

tin


như

văn

bản,

chữ

viết

(text,

character),

các

loại

số

liệu
(number),

âm

thanh(sound),

hình

ảnh


(image),

đồ

hoạ(graphic) vào

máy

tính,

người

ta
phải dùng hệ nhị phân để biểu diễn chúng.
Trên

hệ

thống

này,

thông

tin

được

biểu


diễn

thành

một

chuỗi

các

bit

0



1.

Trong

moị
trường

hợp,

chúng

ta


phải

qui

ước

về

cách

biểu

diễn

thông

tin.

Nói

cách

khác,

chúng

ta
phải mã hóa thông tin. Mọi sự mã hóa thực chất đều là phép qui ước trước với nhau.
Nhóm


bốn

chữ

số

nhị

phân
Chữ

số

thập

lục

phân
0000
0
0001
1
0010
2
0011
3
0100
4
0101
5

0110
6
0111
7
1000
8
1001
9
1010
A
1011
B
1100
C
1101
D
1110
E
1111 F

×