Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

lương tâm một người thầy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 7 trang )

79

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
Nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn:
“Lương tâm tôi cắn rứt
nếu im lặng trước điều không đúng…”
? Hoàng Văn MinH thực hiện
80

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
N
ếu hỏi 10 người, chắc chắn có đến
9,5 người cho biết ấn tượng đầu tiên
của họ sau khi gặp nhà nghiên cứu,
TS. Trần Đức Anh Sơn, trước hết là… một người
nói nhiều (!). Anh có thể nói say sưa hàng giờ
liền từ chủ đề này kéo sang chủ đề khác mà
không thấy “lạc giọng”.
Và tất nhiên, sự nói nhiều của Trần Đức Anh
Sơn rất có ích với người đối diện, đặc biệt là với
các nhà báo bởi hàm lượng thông tin trong câu
chuyện của anh rất cao và lý thú.
Nhưng cũng bởi sự “nói nhiều”, từ các diễn
đàn khoa học cho tới trong cơ quan, ra quán
cà phê, lên bàn nhậu… mà mới đây, việc anh
“bỏ Huế” với chức vụ Giám đốc Bảo tàng Cổ vật
Cung đình Huế để vào Đà Nẵng sinh sống và làm
việc - vốn là chuyện bình thường - đã được (bị)
đẩy thành một “sự kiện” với nhiều luồng dư luận


khác nhau.
Nhiều người tiếc rẻ, coi đây là một sự “chảy
máu chất xám” khi giới nghiên cứu văn hoá ở
Huế mất đi một nhà chuyên môn “chính diện”
dám nói thẳng, nói thật… Nhưng cũng có không
ít tiếng thở phào nhẹ nhõm bởi từ đây, “chúng
ta” bớt đi một ánh mắt “soi mói” và sau đó là cái
miệng sắt như dao cạo
Ra đi để làm mới mình
Thưa anh, việc rời bỏ Huế - một môi
trường rất lý tưởng cho những người nghiên
cứu - để về sống và làm việc ở Đà Nẵng
chắc phải có một lý do rất lớn?
Tôi sinh ra, lớn lên ở Huế. Huế cũng là nơi
đã cho tôi những kiến thức nền tảng và định
hướng cho nghề nghiệp của tôi sau này. Đề tài
làm khóa luận tốt nghiệp đại học và đề tài luận
án tiến sĩ của tôi đều liên quan đến lịch sử và
văn hóa Huế. Tôi đã trải qua 18 năm công tác
trong một cơ quan chuyên nghiên cứu và bảo
tồn di sản văn hóa Huế. Vì thế, những kiến thức,
kinh nghiệm mà tôi tích lũy từ trước tới nay
dường như đều liên quan tới Huế. Rời bỏ Huế
đồng nghĩa với việc rời bỏ môi trường nghiên
cứu quen thuộc, rời bỏ sở trường, sở đắc để
bước vào một môi trường hoàn toàn mới. Đó là
một quyết định đầy khó khăn nhưng tôi vẫn lựa
chọn. Bởi vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, tôi đã gắn bó với công việc nghiên
cứu và bảo tồn văn hóa Huế khá lâu đến độ mọi

thứ đã trở nên quen thuộc, khiến tôi có cảm giác
rằng tôi đang làm việc theo thói quen và đang
dần dần trở thành một công chức chuyên giải
quyết các sự vụ hơn là một nhà nghiên cứu như
tôi từng mong mỏi. Sự tìm tòi, khám phá trong
nghiên cứu của tôi ngày một thưa vắng dần.
Nếu không thay đổi, không làm mới mình thì sẽ
rất gay. Ra đi chính là một cách để thay đổi và
làm mới mình.
Thứ hai, càng ngày tôi càng không hài lòng
với môi trường công tác ở Huế, nơi mà năng lực,
trình độ chuyên môn và sự nhiệt tình trong công
việc bị xếp hàng thứ yếu trong thang giá trị để
“định giá” con người. Những ý kiến chuyên môn,
đặc biệt là ý kiến phản biện, ít được trân trọng,
thậm chí còn bị quy chụp, phán xét này nọ.
Thứ ba, tôi bị hấp dẫn từ chính sách “chiêu
hiền, đãi sĩ” của thành phố Đà Nẵng. Trước khi
tôi đến đây công tác, đã có nhiều “người Huế
khác” tìm đến nơi này. Họ cho tôi hay là lãnh
TS Trần Đức Anh Sơn Sinh 1967 Tại
huế. Anh TốT nghiệp khoA Lịch Sử
Trường Đại học Tổng hợp huế (nAy
Là Đại học khoA học huế) năm 1989.
năm 2002, Anh bảo vệ Thành công
Luận án Tiến Sĩ về Đề Tài “Đồ Sứ ký
kiểu Thời nguyễn” (Đồ Sứ men LAm
huế). Từ 1990 - 1993, Làm hướng
dẫn viên du Lịch. Từ 1993 - 1995,
Làm cán bộ nghiên cứu về Lịch Sử,

bảo Tồn Tại Trung Tâm bTdTcĐ huế.
SAu Đó Anh Làm phó giám Đốc (1995
- 2001), rồi giám Đốc (2001 - 2007)
bảo Tàng cổ vậT cung Đình huế.
Từ Tháng 1.2008, Làm Trưởng khoA
việT nAm học củA Đại học phAn
chu Trinh (Quảng nAm). Tháng
1.2009 Đến nAy, Làm ở viện nghiên
cứu pháT Triển kinh Tế Xã hội Đà
nẵng với chức dAnh Trưởng phòng
nghiên cứu Xã hội nhân văn và bây
giờ Là phó viện Trưởng phụ Trách
Lĩnh vực Xã hội nhân văn.
81

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
đạo thành phố Đà Nẵng thực tâm mong muốn
thu hút những người có năng lực, có trình độ về
làm việc cho Đà Nẵng; chính sách thu hút nhân
lực của Đà Nẵng minh bạch, có tính cam kết
cao; chế độ đãi ngộ xứng đáng; và quan trọng
là đã tạo điều kiện cho những người đến đây
được làm việc và cống hiến.
Có người cho rằng việc anh bỏ Huế mà
đi là một sai lầm lớn, và Trần Đức Anh Sơn
đang “chết dần” kể từ khi rời bỏ Huế. Có
đúng là anh đã sai lầm và đang “chết dần”
không? Và nếu anh vẫn “đang sống”, thậm
chí “sống tốt” thì xin anh cho biết anh đang

theo đuổi điều gì ngoài những việc hàng
ngày phải làm của một công chức?
Lưỡi nằm trong miệng của người ta. Lưỡi
“lắt léo”, “lắm lời” nhưng không ai cấm được.
Có những sự việc đúng 100% còn bị miệng lưỡi
thiên hạ chụp quy là “sai lầm”, “phản động”.
Vì thế tôi không quan tâm
việc họ cho tôi là “sai lầm”
hay “đúng đắn” khi rời khỏi
Huế. Điều quan trọng là tôi
được làm việc theo đúng sở
nguyện, và Huế vẫn luôn ở
trong tim tôi. Thầy của tôi
là nhà nghiên cứu Nguyễn
Hữu Thông từng khuyên tôi
rằng: không nhất thiết phải
khu trú phạm vi nghiên cứu
của mình trong lĩnh vực
lịch sử và văn hóa Huế.
Khi có điều kiện thì nên mở
rộng phạm vi và đối tượng
nghiên cứu sang những
vùng miền khác, lĩnh vực
khác. Bởi lẽ, sự hiểu biết
về những nơi khác sẽ cho
ta một cái nhìn khách quan
hơn về Huế. Từ đó, có thể
hiểu Huế một cách sâu sắc
và toàn diện hơn.
Quả thực, khi vào đây

công tác, tôi có dịp tiếp
cận, tìm hiểu văn hóa xứ
Quảng nói riêng và văn hóa
miền Trung nói chung, rồi
nhìn lại văn hóa Huế trong
thế tương quan so sánh, tôi
thấy những gì tôi từng biết
về Huế trước đây với rất khác so với bây giờ.
Nhìn Huế từ bên ngoài thú vị hơn rất nhiều.
Còn chuyện “chết dần”, có lẽ, do người ta
thấy dạo này tôi ít tham gia vào những cuộc hội
thảo về Huế hay được tổ chức ở Huế nên họ nghĩ
thế. Tôi làm việc ở Đà Nẵng, đối tượng nghiên
cứu của tôi bây giờ là những vấn đề liên quan
đến văn hóa và xã hội của Đà Nẵng nên tôi dành
hầu hết thời gian cho những việc đó. Song tôi
vẫn “hành nghề” khảo cổ và bảo tàng theo cách
riêng của mình, trong những khoảng thời gian
mình có thể sắp xếp được.
Ở Đà Nẵng, ngoài chức danh viện phó phụ
trách nghiên cứu lĩnh vực xã hội - nhân văn, tôi
còn là Tổng Biên tập của tạp chí Phát triển Kinh
tế - Xã hội Đà Nẵng (đã xuất bản được 12 số).
Trong tạp chí này có mục Nghiên cứu - Trao đổi,
thường xuyên đăng tải các bài viết về những
vấn đề lịch sử - văn hóa của Đà Nẵng và của cả
miền Trung, trong đó có Thừa Thiên Huế. Tôi và
82

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011

chaân dung
nhiều nhà nghiên cứu ở Huế như Nguyễn Hữu
Thông, Trần Viết Điền, Nguyễn Quang Trung
Tiến, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Lê Anh Tuấn…
thường xuyên viết bài cho mục này. Ngoài ra,
tôi còn là người tổ chức bài vở và chịu trách
nhiệm biên tập cho tờ Thông tin Di sản của Chi
hội Di sản Văn hóa Hùng Vương ở Thành phố Hồ
Chí Minh. Đây là tạp chí ra 3 tháng 1 kỳ, chuyên
về cổ vật và di sản văn hóa Việt Nam (đã xuất
bản được 6 số), với sự cộng tác của nhiều nhà
nghiên cứu ở trong và ngoài nước, trong đó có
rất nhiều cây bút ở Huế và “gốc” Huế.
Tôi cũng đang trực tiếp quản trị website www.
covathue.com, do tôi và một số đồng nghiệp trẻ
ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế lập ra từ năm
2007 để đăng tải và phổ biến các bài viết về cổ
vật, di tích lịch sử văn hóa của Việt Nam và thế
giới… Tôi lại đang làm
chủ nhiệm một số đề tài
và đề án nghiên cứu về
các vấn đề liên quan đến
lịch sử - văn hóa - xã
hội ở Đà Nẵng như: xây
dựng font tư liệu về quần
đảo Hoàng Sa; khai thác
ẩm thực truyền thống để
phục vụ du lịch; đánh giá
tác động của quá trình
đô thị hóa trong việc bảo

tồn bản sắc văn hóa của
người Katu ở huyện Hòa
Vang…
Với chừng đó công
việc đã và đang thực
hiện, có lẽ, tôi đang
“chết vì quá tải” chứ
không phải “chết dần”
như ai đó đã nghĩ.
Có thể nhiều
người ghét tôi,
nhưng họ không
khinh tôi
Trong giới nghiên
cứu Huế, đặc biệt là
với những người cùng
thế hệ, anh là người
“hay nói” và “nói
nhiều”, lại nói toàn
những chuyện gai
góc, đụng chạm… Đó
là tính cách từ trong máu thịt, nói lên sự
bộc trực, thẳng thắn của anh hay là một
kiểu cố tình để gây chú ý?
Đó là tính cách và cũng là trách nhiệm của
tôi. Trước đây, tôi làm việc ở Trung tâm Bảo tồn
Di tích Cố đô Huế, cơ quan quản lý và bảo tồn
các di sản văn hóa của cố đô Huế. Vì công việc,
tôi phải tự tích lũy kiến thức cho mình, đồng
thời, phải tham gia nhiều khóa học liên quan đến

lĩnh vực này. Vì thế, khi thấy người ta trùng tu,
bảo tồn không đúng với những gì mình được biết
và được học thì tôi lên tiếng. Lên tiếng không
phải để phản đối mà để góp ý, phản biện với
hy vọng việc trùng tu, bảo tồn di sản văn hóa
ở Huế sẽ được tốt hơn, đúng hơn. Tôi luôn suy
nghĩ mình là người làm công tác chuyên môn thì
phải bày tỏ quan điểm chuyên môn của mình,
83

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
cho dù quan điểm đó nhiều khi không được số
đông tán thành. Nếu im lặng trước những cái
không đúng, cái chưa tốt, thì mình chưa làm
tròn trách nhiệm. Và lương tâm của tôi sẽ bị cắn
rứt vì điều đó.
Cũng có khi tôi lên tiếng với tư cách của một
công dân. Thấy chuyện “chướng tai, gai mắt”
không thể nhịn được thì tôi lên tiếng, góp thêm
tiếng nói với dư luận nhằm tạo áp lực để chấm
dứt những chuyện “chướng tai, gai mắt” ấy. Tất
nhiên, nói là việc của mình, còn có ai nghe hay
không lại là chuyện khác.
Hậu quả mà anh nhận được từ việc “hay
nói” và “nói nhiều” của anh là gì?
Nhiều người cho rằng vì tôi hay “nói thẳng”
nên tôi mất mát rất nhiều, vì thời buổi này người
ta thích nghe “nói ngọt” hơn là “nói thẳng”. Họ
nói nếu khôn ngoan như anh A, chị B…, luôn làm

vừa lòng cấp trên thì tôi sẽ được rất nhiều thứ:
tiền tài, địa vị, danh vọng… Tôi không nghĩ vậy.
Tôi luôn nhận thức rằng: muốn ngậm viên ngọc
thì phải nhả cục thịt, muốn nuốt cục thịt thì phải
nhả viên ngọc. Không thể có được cả hai.
Tôi cho rằng mình được rất nhiều thứ: kiến
thức, uy tín chuyên môn, được nhiều người tử
tế tin tưởng. Tôi đủ tự tin để nói rằng: có thể
có nhiều người ghét tôi, nhưng không có người
khinh tôi. Tôi tin rằng những ý kiến, nhận xét,
đánh giá của tôi về một vấn đề nào đó là khách
quan, không bị “sai khiến” bởi bất cứ ai, và đó
là một phẩm chất cần thiết của một người làm
khoa học.
Không có ai hoàn hảo, toàn diện, được tất
cả mọi người thương yêu. Ai cũng có người yêu,
kẻ ghét. Nếu được nhiều người yêu hơn kẻ ghét
thì đó là người hạnh phúc. Nếu có nhiều kẻ ghét
hơn người yêu thì phải tự nhìn lại mình để “điều
chỉnh tỉ lệ yêu - ghét”.
Có người ví mối quan hệ giữa những
người làm nghiên cứu khoa học và giới
chức cầm quyền ở Huế hiện như một đôi
vợ chồng chán nhau đến mức không thèm
cãi nhau nữa nên phải ly thân. Anh có phải
là một trong những “người chồng” như vậy
không?
Đúng là ở Huế có tình trạng những bậc thức
giả, những người làm nghiên cứu khoa học
“không thèm cãi nhau” với giới cầm quyền. Nói

cách khác, họ bày tỏ sự lạnh lùng và không tin
tưởng vào giới cầm quyền, bởi rất nhiều đề xuất
tâm huyết của họ không được giới cầm quyền
quan tâm.
84

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
Theo tôi, đây là chuyện bình thường. Bởi lẽ,
không phải lúc nào ý kiến của các bậc thức giả
cũng được giới cầm quyền lắng nghe, nhất là
những ý kiến đó đi ngược với lợi ích mà giới cầm
quyền đang theo đuổi. Nhà nghiên cứu và nhà
chính trị có mục đích, tôn chỉ và hành động khác
nhau.
Tuy nhiên, dù không thích nhau, thì cũng nên
tôn trọng nhau, và khi cần thiết, phải “tranh
thủ” nhau để cùng làm “một điều gì đó” khiến
quê hương - đất nước - xã hội trở nên tốt đẹp
hơn. Người làm chuyên môn cũng không nên
vì thái độ thiếu trọng thị của giới cầm quyền
mà bất mãn, rồi im lặng hay quay lưng với thời
cuộc. Bởi lẽ, ngoài trách nhiệm chuyên môn, họ
còn có trách nhiệm công dân với quê hương, đất
nước. Với suy nghĩ như thế, tôi “sẵn sàng cãi
nhau” với chính giới khi cần thiết, chứ không “ly
thân” như ai đó đã suy nghĩ.
Anh cũng là một trong rất ít người nghiên
cứu khoa học nhưng lại lấn sân sang lĩnh
vực viết báo. Và anh đã viết rất hay, hầu

như năm nào cũng nhận giải thưởng báo
chí từ địa phương đến Trung ương. Vậy viết
báo đối với anh có ý nghĩa như thế nào? Chỉ
là kiếm thêm tiền hay vì mục đích khác?
Tôi đã từng ôm mộng văn chương, nhưng khi
thi đại học, điểm Sử của tôi lại cao hơn điểm
Văn. Vì thế, tôi bị buộc phải học Sử. Học Sử
nhưng nhớ Văn nên tôi rất thích viết. Tôi bắt
đầu viết báo khi còn là sinh viên. Lúc đầu chỉ để
thỏa mãn niềm đam mê viết lách của mình. Về
sau, tôi thấy báo chí còn là nơi mình có thể bày
tỏ chính kiến, chia sẻ quan điểm, kiến thức hay
kể lại những điều “hay ho, mới lạ” ở nơi này, nơi
khác mà mình từng “mục sở thị” cho mọi người
cùng biết. Nhuận bút cũng là một vấn đề quan
trọng đối với tôi. Tôi cũng sống bằng nghề viết
lách vì các khoản nhuận bút chiếm đến 1/3, có
khi là 1/2 trong tổng thu nhập hàng tháng của
tôi. Với tôi, đây là một “nghề tay trái” sạch sẽ,
lương thiện và có thu nhập cao. Còn giải thưởng
báo chí, người ta trao thì mình nhận thôi. Cũng
là tiền cả. Tiền này lại kèm theo chút “danh giá”,
nên phải cố gắng để năm nào cũng được nhận.
Cỏ không thíCh mọC dưới bóng Râm
Anh đánh giá như thế nào về những nhà
nghiên cứu Huế thuộc thế hệ tiền bối?
Những nhà nghiên cứu tiền bối như Phan
Thuận An, Hồ Tấn Phan, Nguyễn Đắc Xuân là
những tấm gương của tôi. Tôi học được rất
nhiều điều từ họ: kiến thức, sự say mê, tính cần

cù, thái độ nghiêm túc trong công việc. Khi mới
ra trường, tôi đã tự trang bị kiến thức cho mình
bằng cách đọc các công trình nghiên cứu của
họ; tham gia các buổi tọa đàm mà họ là diễn
giả, thắc mắc, hỏi han họ những điều mình chưa
biết. Sau này, khi trở thành một người nghiên
cứu, tôi thường xuyên trao đổi với họ những vấn
đề mà chúng tôi cùng quan tâm nhưng khác
quan điểm. Thế hệ những người như: Nguyễn
Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hồ Tấn
Phan, Phan Thuận An, Nguyễn Hữu Châu Phan,
Lê Quang Thái, Nguyễn Hữu Thông… là những
người đóng góp rất nhiều cho việc nghiên cứu
lịch sử và bảo tồn di sản văn hóa và tính cách
Huế. Thậm chí, nhiều vấn đề lịch sử và văn hóa
Huế có thể sẽ bị hiểu sai, tính cách Huế có thể
sẽ phôi pha nếu không có những người như thế.
Tuy nhiên, có một điều mà tôi không muốn
học theo. Đó là sự riêng rẽ trong nghiên cứu.
Mỗi người trong họ trấn giữ một cõi riêng, ít liên
kết với nhau để chia sẻ thông tin và tư liệu, ít
khi phối hợp với nhau để cùng nghiên cứu một
85

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 7 . 2011
chaân dung
vấn đề nào đó. Bây giờ là thời buổi kết nối thông
tin và hợp tác nghiên cứu nên thực trạng trên,
theo tôi, không còn phù hợp. Tôi mong những
người nghiên cứu Huế nên sẵn lòng hợp tác với

nhau, nhất là trong những vấn đề trọng đại, cần
phải bày tỏ quan điểm, chính kiến. Lúc ấy, tiếng
nói của giới nghiên cứu Huế hẳn sẽ mạnh hơn,
không chỉ trong lĩnh vực học thuật, mà có thể
tác động tới giới cầm quyền ở Huế trong việc
hoạch định và thực hiện chính sách liên quan
đến lĩnh vực này.
Tôi nhận được rất nhiều lời than phiền
và sự bi quan từ những người nghiên cứu
trẻ ở Huế thuộc thế hệ sau anh, rằng họ
đang loay hoay và chán nản vì không thể
nào vượt qua khỏi những cái bóng quá lớn
của những người đi trước, anh có lời khuyên
nào dành cho họ không?
Tôi đã từng có ý nghĩ như họ. Năm 1991, sau
khi được nhận vào làm việc ở Trung tâm Bảo tồn
Di tích Cố đô Huế, tôi dự định viết một bài về
chùa Thiên Mụ thì có người bảo tôi: “Mấy chuyện
đó các ông Phan Văn Dật, Phan Thuận An, Mai
Khắc Ứng… viết hết cả rồi. Làm sao ông qua mặt
họ được!”. Thoạt tiên, tôi cũng hoang mang,
nhưng rồi lại nghĩ: “Cùng một đề tài, nhưng mỗi
người có một hướng tiếp cận khác nhau, thì kết
quả nghiên cứu cũng sẽ khác nhau”. Nghĩ thế
nên tôi mạnh dạn tiếp cận tư liệu và đi điền dã
để viết bài. Kết quả rất
đáng ngạc nhiên:
Trước tam quan chùa
Thiên Mụ có tòa tháp
Phước Duyên cao 7

tầng. Văn bia trước chùa
cho biết 7 tầng tháp ấy
thờ Quá Khứ Thất Phật:
tầng 1 thờ Quá Khứ Tỳ
Bà Thi Phật, tầng 2 thờ
Thi Khí Phật,…, tầng 7
thờ Trung Thiên Điều
Ngự Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Văn Phật, hai
bên có A Nan và Ca Diếp
chầu hầu. Và ai cũng
nghĩ tầng 1 là tầng dưới
cùng, còn tầng 7 là tầng
cao nhất. Tuy nhiên,
khi được phép vào bên
trong tòa tháp, căn cứ
vào tên các pho tượng Phật khắc trên mỗi tầng
và sự bài trí 3 pho tượng (Phật Thích Ca, A Nan,
Ca Diếp) ở tầng dưới cùng, tôi chợt nhận ra rằng,
người xưa đếm các tầng tháp Phước Duyên theo
thứ tự từ trên xuống dưới, chứ không phải từ
dưới lên trên như cách đếm ngày nay.
Vậy nhưng, không có bài viết nào của tiền bối
đề cập điều này. Thế là tôi đã viết một bài báo về
chuyện này và gửi in trên báo Thừa Thiên Huế.
Từ chuyện này tôi nhận thấy không phải các bậc
tiền bối đã nghiên cứu hết mọi chuyện về Huế.
Và không phải vấn đề nào họ cũng nghiên cứu
thấu đáo đến mức không còn chuyện gì để bàn
luận thêm. Vì thế, tôi mạnh dạn tìm tòi, suy

nghĩ, đặt lại nhiều vấn đề mà tiền bối đã nghiên
cứu theo một hướng khác và đã thu được nhiều
kết quả khả quan.
Sau này, tôi được GS. Trần Quốc Vượng nhận
làm học trò. Thầy dạy tôi: “Trong nghiên cứu,
không bao giờ được đặt dấu chấm hết. Không
bao giờ được khẳng định đã nghiên cứu xong
một vấn đề nào đó. Cái gì hôm nay đúng, chưa
chắc ngày mai đã đúng”.
Vậy thì, các bạn trẻ đừng bao giờ nản lòng
khi thấy trên cánh đồng mà mình định trồng cỏ
lại có nhiều đại thụ đang tỏa bóng. Bóng của đại
thụ chỉ che phủ phần đất quanh gốc của nó mà
thôi. Mà cỏ thì không thích mọc dưới bóng râm.
Xin cám ơn anh đã trả lời phỏng vấn!

×