Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

thực trạng hoạt động kinh doanh của tổng công ty hàng không việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.43 KB, 19 trang )

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
1
LỜI NÓI ĐẦU
Khi đời sống ngày càng được nâng cao thì việc đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu về
ăn mặc, nghỉ ngơi, giả trí ngày càng tăng, nhất là nhu cầu đi du lịch để tham quan nghỉ
dưỡng, chữa bệnh, để thỏa mãn trí tò mò, được giao lưu với bạn bè trên thế giới.
Hòa chung với sự phát triển của đất nước,du lịch được coi là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn của Việt nam. Nó góp phần tạo công ăn việc làm cho một số
lượng lớn đội ngũ lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,
đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc dân với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ
30%- 40%/năm, đem lại nguồn thu lớn về ngoại tệ cho đất nước.
Tổng công ty hàng không Việt nam Airlines được thành lập vào ngày 27/5/1996
trên cơ sở sát nhập 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không với Hãng hàng
không quốc gia Việt nam làm nòng cốt. Hãng nằm dưới sự quản lý của một hội đồng
gồm 7 người do thủ tướng chỉ định. Hãng từng là cổ đông chi phối của hãng hàng
không thứ hai của Việt nam-Pacific Airlines nhưng cổ phần của hãng đã được chuyển
sang Bộ tài chính vào tháng 1 năm 2005.
Trong thời gian vừa qua em có điều kiện thực tập tổng quan và tìm hiểu thực tế
tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam, được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Ban
lãnh đạo Tổng công ty và các anh, các chị Phòng Thương hiệu và Quan hệ Công chúng
cùng sự tiếp thu những kiến thức mà các thầy, các cô đã giảng dậy đã giúp em hoàn
thành báo cáo thực tập tổng quan này.
Đây là lần đầu tiên em viết báo cáo thực tập tổng quan, do khả năng còn hạn chế,
kinh nghiệm còn thiếu nên chắc chắn trong khi víêt bài sẽ không tránh khỏi những hạn
chế, những sai sót nhất định. Em kính mong Thầy giáo hướng dẫn Thạc sỹ Lương Văn
Hải góp ý, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bài báo cáo này.
2
1/ Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Hàng không
Việt Nam


1.1Tên doanh nghiệp:
- Tên tiếng Việt: Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
- Tên tiếng Anh: Vietnam Airlines Company Limited.
- Tên viết tắt: Vietnam Airlines.
- Biểu tượng: “Bông sen vàng”
1.2 Loại hình doanh nghiệp:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
1.3 Địa chỉ trụ sở chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam:
Số 200 phố Nguyễn Sơn, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.4 Ban lãnh đạo hiện tại của doanh nghiệp:

Chủ tịch Hội đồng thành viên: Ông Nguyễn Sỹ Hưng
Tổng giám đốc: Ông Phạm Ngọc Minh
Phó Tổng giám đốc : Ông Phan Xuân Đức
Ông Nguyễn Văn Hưng
Ông Trịnh Hồng Quang
Ông Phạm Viết Thanh
Ông Dương Trí Thành
Ông Trịnh Ngọc Thành
3
1.5 Cơ sở pháp lý và tư cách pháp nhân của Tổng công ty Hàng không
Việt Nam:
a) Tổng công ty Hàng không Việt Nam là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Giấy chứng nhận ĐKKD/Quyết định thành lập số 952/QĐ-TTg ngày
23/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Mã số doanh nghiệp: 0100107518, cấp ngày 30/06/2010 tại Sở KHĐT thành
phố Hà Nội.
b) Tổng công ty có:
- Tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước,

các ngân hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
- Vốn và tài sản riêng, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ bằng toàn bộ tài sản
của mình, chịu trách nhiệm dân sự và thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với
các công ty con, công ty liên kết trong phạm vi số vốn do Tổng công ty đầu tư.
- Trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của
Tổng công ty Hàng không Việt Nam trước đây.
- Quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với tên gọi, biểu tượng, thương hiệu
của Tổng công ty theo quy định của pháp luật.
c) Vốn điều lệ của Tổng công ty tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2009 là:
8.942 tỷ đồng ( Tám nghìn chín trăm bốn mươi hai tỷ đồng chẵn).
Khi tăng hoặc giảm vốn điều lệ, Tổng công ty đăng ký lại với cơ quan đăng ký
kinh doanh và công bố vốn điều lệ đã điều chỉnh.
4
1.6 Mục tiêu hoạt động của Tổng công ty là:
- Kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước đầu tư tại Tổng công
ty và các công ty con; hoàn thành các nhiệm vụ do Nhà nước giao, trong đó có chi
tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước.
- Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của tổ hợp công ty mẹ - công ty con.
- Phạm vi hoạt đông: trong nước và nước ngoài
1.7 Lịch sử hình thành Tổng công ty Hàng không Việt Nam:
Những bước đi đầu tiên
Lịch sử của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bắt đầu từ tháng Giêng năm
1956, khi Cục Hàng không Dân dụng được Chính phủ thành lập, đánh dấu sự ra
đời của Ngành Hàng không Dân dụng ở Việt Nam. Vào thời điểm đó, đội bay còn
rất nhỏ, với vẻn vẹn 5 chiếc máy bay cánh quạt IL 14, AN 2, Aero 45… Chuyến
bay nội địa đầu tiên được khai trương vào tháng 9/1956.
Giai đoạn 1976 - 1980 đánh dấu việc mở rộng và khai thác hiệu quả nhiều
tuyến bay quốc tế đến các các nước châu Á như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc,
Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a và Xinh-ga-po. Vào cuối giai đoạn này, hàng
không dân dụng Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không Dân dụng

Quốc tế (ICAO).
Tháng 4 năm 1993 chính là thời điểm lịch sử khi Hãng Hàng không Quốc gia
Việt Nam (Vietnam Airlines) chính thức hình thành với tư cách là một tập đoàn
kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của Nhà nước.
Tiến trình phát triển
Vào ngày 27/05/1996, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam được thành lập
trên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng không, lấy
Vietnam Airlines làm nòng cốt.
Vào ngày 20/10/2002, Vietnam Airlines giới thiệu biểu tượng mới - Bông
Sen Vàng, thể hiện sự phát triển của Vietnam Airlines để trở thành Hãng hàng
không có tầm cỡ và bản sắc trong khu vực và trên thế giới. Đây là sự khởi đầu cho
chương trình định hướng toàn diện về chiến lược thương hiệu của Vietnam Airlines,
5
kết hợp với những cải tiến vượt trội về chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng đường
bay và đặc biệt là nâng cấp đội máy bay.
Tháng 10/2003, Vietnam Airlines tiếp nhận và đưa vào khai thác chiếc máy
bay hiện đại với nhiều tính năng ưu việt Boeing 777 đầu tiên trong số 6 chiếc
Boeing 777 đặt mua của Boeing. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của chương
trình hiện đại hóa đội bay của hãng. Ba năm sau đó, Vietnam Airlines trở thành một
trong những hãng hàng không có đội bay trẻ và hiện đại nhất trong khu vực.
Hãng hàng không đẳng cấp thế giới
Trong vòng 15 năm qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 10%/ năm (trừ
giai đoạn khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997), Tổng Công ty Hàng không
Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và vươn lên trở thành một hãng hàng không có
uy tín trong khu vực châu Á nhờ thế mạnh về đội bay hiện đại, mạng bay rộng khắp
và lịch nối chuyến thuận lợi, đặc biệt là tại Đông Dương.
Khởi đầu với những chuyến bay nội địa không thường lệ, ngày nay mạng
đường bay của Vietnam Airlines đã mở rộng đến 20 tỉnh, thành phố trên cả nước
và 40 điểm đến quốc tế tại Mỹ, Châu Âu, Úc và Châu Á.
Năm 2006, sau khi được đạt được chứng chỉ uy tín về an toàn khai thác của

Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), Vietnam Airlines đã chính thức trở
thành thành viên của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế và khẳng định chất
lượng dịch vụ mang tiêu chuẩn quốc tế của mình.
Từ năm 2009, Vietnam Airlines đã nỗ lực đáp ứng các yêu cầu gia nhập của
Liên minh hàng không toàn cầu SkyTeam, và được chính thức công nhận là thành
viên thứ 10 của Liên minh vào ngày 10/6/2010. Sự kiện này đánh dấu một bước
phát triển vượt bậc của hãng trong tiến trình khẳng định đẳng cấp quốc tế, đồng thời
góp phần tích cực vào sự nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước .
Hướng tới tương lai
Nhằm khẳng định thương hiệu quốc tế và thế mạnh về đội bay trẻ, hiện đại,
Vietnam Airlines đã để lại ấn tượng mạnh mẽ khi cùng với Công ty cho thuê tàu
bay Việt Nam (VALC) mà Vietnam Airlines là một trong những sáng lập viên, ký
6
một hợp đồng mua máy bay lớn gồm 12 chiếc Boeing 787, 10 chiếc Airbus A350 -
900, 20 chiếc Airbus A321 và 5 chiếc ATR72 - 500 trong năm 2007. Vietnam
Airlines hy vọng sẽ mở rộng đội bay lên mức 104 chiếc máy bay hiện đại vào năm
2015 và 150 chiếc vào năm 2020.
Để tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững trong tương lai, Vietnam Airlines đã
thực hiện chiến lược phát triển đội bay theo hướng ưu tiên lựa chọn những chủng
loại máy bay sử dụng công nghệ tiên tiến trong ngành hàng không dân dụng thế
giới. Liên tiếp trong các năm vừa qua, hãng đã tiến hành đặt mua mới, nâng cấp đội
máy bay hiện tại nhằm đáp ứng mục tiêu trở thành hãng hàng không lớn trong khu
vực, mở rộng đội bay lên 115 chiếc vào năm 2015 và 165 chiếc vào năm 2020 với
nhiều loại máy bay công nghệ tiên tiến, tiết kiệm nhiêm liệu và thân thiện với môi
trường như Airbus A350XWB, Boeing 787-9.
2/ Thực trạng hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Hàng không
Việt Nam:
2.1. Lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của Tổng công ty bao gồm:
a) Đầu tư, quản lý vốn đầu tư và trực tiếp sản xuất, kinh doanh:
- Vận chuyển hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu kiện,

bưu phẩm, thư.
- Bảo dưỡng tàu bay, động cơ, phụ tùng, thiết bị hàng không và các thiết bị kỹ
thuật khác; sản xuất linh kiện, phụ tùng, vật tư tàu bay và các thiết bị kỹ thuật khác;
cung ứng các dịch vụ kỹ thuật và vật tư, phụ tùng cho các hãng Hàng không trong
nước và nước ngoài.
- Xuất, nhập khẩu tàu bay, động cơ, phụ tùng và thiết bị hàng không (thuê, cho
thuê, thuê mua và mua, bán) và những mặt hàng khác theo quy định của Nhà nước.
- Cung ứng các dịch vụ phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất; các dịch vụ tại nhà
ga hành khách, ga hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch vụ thương nghiệp, bán
hàng miễn thuế tại nhà ga hàng không và tại các tỉnh, thành phố; các dịch vụ phục vụ
sân đỗ tại các cảng hàng không, sân bay và các dịch vụ hàng không khác.
- Dịch vụ đại lý cho các hãng hàng không; các nhà sản xuất tàu bay, động cơ,
7
thiết bị, phụ tùng tàu bay; các công ty vận tải, du lịch trong nước và nước ngoài.
- Hoạt động hàng không chung (bay chụp ảnh địa hình, khảo sát địa chất, bay
hiệu chuẩn các đài dẫn đường hàng không, sửa chữa bảo dưỡng đường điện cao thế,
phục vụ dầu khí, trồng rừng, kiểm tra môi trường, tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu y tế,
bay phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng )
- Sản xuất, chế biến, xuất, nhập khẩu thực phẩm để phục vụ trên tàu bay, các dụng
cụ phục vụ dây chuyền vận tải hàng không; xuất – nhập khẩu và cung ứng xăng dầu, mỡ
hàng không (bao gồm nhiên liệu, dầu mỡ bôi trơn và chất lỏng chuyên dùng) và xăng
dầu khác tại các cảng hàng không, sân bay và các địa điểm khác.
- Tài chính, cho thuê tài chính, ngân hàng.
- In, xây dựng, tư vấn xây dựng, xuất, nhập khẩu lao động và các dịch vụ khoa
học, công nghệ.
b) Đầu tư ra nước ngoài; mua, bán doanh nghiệp; góp vốn, mua cổ phần hoặc
chuyển nhượng vốn góp, bán cổ phần theo quy định của pháp luật.
c) Các lĩnh vực, ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật.
2.2 Tình hình tài chính của Tổng công ty:
Tình hình tài chính của Tổng công ty trong năm 2007 và 2008 được biểu hiện

trong bảng sau:
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2007 Năm 2008
I/ Tài sản:
1. Nguyên giá
2. Giá trị còn lại
21,412
15,406
24,377
16,944
II/ Tài chính:
1. Vốn
- Vốn điều lệ
- Vốn Nhà nước
2. Vốn vay
3. Công nợ
5738
5546
13,072
3,355
5738
5546
15,487
4,294
8
Bảng 1: Tình hình tài chính trong hai năm gần đây của
Tổng công ty Hàng không Việt Nam
9
2.3. Tình hình sản xuất và kinh doanh của Tổng công ty:
Tình hình sản xuất và kinh doanh của Tổng công ty được thể hiện qua bảng sau:

Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Thực hiện
năm 2007
Kế hoạch
năm 2008
Thực hiện
năm 2008
Kế hoạch
năm 2009
1. Tổng doanh thu 20.726.903 23.257.635 27.088.260 23.649.841
2. Tổng chi phí
20.287.864 22.762.524 26.853.557 23.769.781
3. Nộp NS 225.237.713 153.050.533 122.295.195 346.754.975
4. Thuế TNDN 98.607 113.007 0 0
5. Lợi nhuận
+ Trước thuế TNDN
+ Sau thuế TNDN
439.036
340.429
495.111
382.104
234.703
234.703
-119.940
-119.940
6. Vốn chủ sở hữu 5.964.781 6.325.405 6.181.099 6.177.149
Bảng 2: Tình hình sản xuất kinh doanh trong ba năm gần đây của
Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Qua bảng số liệu trên, có thể nhận thấy rằng lợi nhuận sau thuế của Tổng công

ty giảm dần qua các năm. Nguyên nhân chính là do tình hình khủng hoảng kinh tế
toàn cầu làm cho nhu cầu đi lại của khách hàng giảm đáng kể, nhu cầu xuất khẩu
hàng hóa cũng giảm theo dẫn đến thị trường hàng không giảm mạnh. Bên cạnh đó,
sự canh tranh khốc liệt giữa các hãng hàng không trên cả đường bay nội địa lẫn
quốc tế cũng là nguyên nhân góp phần gây ra tình trạng hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Tổng công ty bị suy giảm. Theo tính toán hiện tại, lợi nhuận sau thuế kế
hoạch năm 2009 của Tổng công ty sẽ âm gần 120 tỷ đồng. Đây là một con số đáng
lo ngại, do đó cần phải có sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên
của Tổng công ty cũng như có sự hỗ trợ kịp thời từ phía Nhà nước thì Tổng công ty
mới có thể cải thiện được tình hình, giải quyết các khó khăn còn đang vướng mắc.
10
Tình hình thị trường có những điều kiện thuận lợi đó là tình hình Kinh tế- Chính
trị- Xã hội Việt nam tiếp tục ổn định và phát triển, mức tăng trưởng kinh tế đạt 8,5% ,
khách quốc tế đến Việt nam đạt 4,2 triệu tăng trên 17% so với năm 2006. Quan hệ
quốc tế trên nhiều lĩnh vực được mở rộng, đặc biệt năm 2007 đánh dấu một mốc quan
trọng trong tiến trình chủ động và hội nhập quốc tế của Việt nam với việc gia nhập tổ
chức WTO và trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an liên hiệp
quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Tiến trình hội nhập của Việt nam đem lại những cơ hội lớn
cho TCT trong quá trình hội nhập với hàng không quốc tế.
Tổng công ty tiếp tục được sự quan tâm và hỗ trợ của chính phủ các Bộ, ngành
đặc biệt trong đầu tư phát triển đội máy bay sở hữu và đảm bảo đội bay khai thác tạo
điều kiện thuận lợi để đảm bảo phát triển sản xuất kinh doanh.
Chính phủ từng bước nới lỏng quản lý giá trần, tạo điều kiện cho các hãng
hàng không đa dạng giá vé và tăng doanh thu.
Bên cạnh những thuận lợi đó, Tổng công ty vẫn có một số khó khăn:
- Cạnh tranh tiếp tục gia tăng trên cả đường bay quốc tế và nội địa, đặc biệt do sự
tham gia của nhiều hãng hàng không lớn hàng đầu thế giới cùng sự xuất hiện ngày
càng nhiều các hãng hàng không chi phí thấp tham gia vào thị trường quốc tế khu vực
và nội địa.
- Giá các yếu tố đầu vào tăng mạnh, đặc biệt là giá nguyên vật liệu tăng rất cao,

từ giữa năm 2007 giữ mức trên 80USD/ thùng, đặc biệt trong quý IV giữ mức trên
90USD/ thùng, cao hơn gần 18USD một thùng so với giá kế hoạch, làm tăng chi phí
nhiên liệu cả năm lên 700 tỷ đồng so với dự kiến trong kế hoạch. Chi phí khai thác tại
các cảng hàng không tăng, thị thường thuê máy bay và phi công khan hiếm với giá thuê
cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng chung của Tổng công ty.
-Cơ sở hạ tầng về du lịch còn thiếu trầm trọng về khách sạn, các khu vui chơi giải
trí, nghỉ dưỡng, các địa điểm du lịch có sự quy hoạch chưa đồng bộ, giá cả du lịch còn
khá cao, làm hạn chế tốc độ tăng trưởng của khách du lịch đến Việt nam.
-Bên cạnh đó, các nguy cơ về bùng nổ dịch cúm gia cầm, thiên tai, thời tiết xấu,
tình hình an ninh của các nước trong khu vực và thế giới không ổn định cũng là những
11
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của tổng công ty.
Trong tình hình khó khăn đó, Tổng công ty nhận được sự hỗ trợ hiệu quả của
chính phủ, Bộ giao thông vận tải, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư cùng các bộ ngành
liên quan. Tổng công ty áp dụng chính sách điều hành kế hoạch linh hoạt theo diễn
biến thị trường và các yếu tố đầu vào nên tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty trong năm 2007 vẫn tăng trưởng ổn định và bền vững.
2.4. Tình hình lao động của Tổng công ty Hàng không Việt Nam:
Theo sơ bộ, năm 2008 tổng số đội ngũ nhân lực của Tổng công ty Hàng không
Việt Nam là rất lớn khoảng 11.141 lao động.
Trong đó theo thống kê về nhân lực có:
- Trên đại học: 392 người
- Đại học: 1797 người
- Cao đẳng: 744 người
- Trung cấp: 937 người
- Sơ cấp: 5967 người
- Công nhân kỹ thuật: 873 người
- Chưa qua đào tạo: 431 người
Trong năm 2008, tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học
tăng lên. Tỷ lệ lao động có trình độ trung cấp, sơ cấp, chưa qua đào tạo giảm xuống

cho thấy cơ cấu lao động của Tổng công ty đang thay đổi theo chiều hướng tích
cực, chất lượng đội ngũ CBCNV ngày càng được nâng cao.
Lao động của Tổng công ty được phân thành các khối như sau:
12
Đơn vị tính: Người
TT Cơ cấu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Kế hoạch
năm 2009
A Khối hạch toán tập trung 9.637 10.281 10.536 10.640
B Khối các đơn vị sự nghiệp 108 110 110 112
C Lao động là người nước ngoài 470 500 495 490
Toàn tổng công ty 10.217 10.891 11.141 11.242
Bảng 3: Tình hình lao động trong bốn năm gần đây của
Tổng công ty Hàng không Việt Nam
4/ Tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty Hàng không Việt Nam:
4.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty (Phụ lục 01)
4.2 Bộ máy quản lý của Tổng công ty (Phụ lục 02)
 Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp của chủ sở hữu Nhà nước tại
Tổng công ty, có quyền nhân danh Tổng công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan
đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của Tổng công ty,
trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu phân cấp cho các
cơ quan, tổ chức khác là đại diện chủ sở hữu thực hiện. Hội đồng quản trị gồm có 7
thành viên do Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng,
kỷ luật. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị là 5 năm.
 Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát là cơ quan giúp Hội đồng quản trị thực hiện việc kiểm soát,
giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh, trong việc ghi chép sổ kế toán, báo cáo tài chính, công khai tài chính và
báo cáo thống kê; kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật Nhà nước, Điều lệ

của Tổng công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và quyết định của
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty. Ban kiểm soát gồm có 5 thành viên,
13
trưởng Ban kiểm soát là thành viên thuộc hội đồng quản trị ngoài Chủ tịch Hội
đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc. Các thành viên khác do Hội
đồng quản trị lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm. Ban kiểm soát hoạt động theo quy
chế do Hội đồng quản trị ban hành và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định
của Luật Doanh nghiệp Nhà nước và nhiệm vụ Hội đồng quản trị giao. Ban kiểm
soát chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về toàn bộ hoạt
động của Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ của thành viên Ban kiểm soát theo nhiệm kỳ của
Hội đồng quản trị.
 Tổng giám đốc:
Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng
ngày của Tổng công ty theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của
Hội đồng quản trị, phù hợp với Điều lệ của Tổng công ty; chịu trách nhiệm trước
Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được
giao. Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị tuyển chọn, quyết định bổ nhiệm hoặc ký
hợp đồng sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp nhận. Nhiệm kỳ của Tổng giám
đốc là 5 năm.
 Phó tổng giám đốc:
Phó tổng giám đốc do Hội đồng quản trị quyết định tuyển chọn, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc. Các
phó tổng giám đốc giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt
động của Tổng công ty theo quyết định của Hội đồng quản trị và theo phân công
hoặc ủy quyền của Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, Hội
đồng quản trị và pháp luật. Thời hạn bổ nhiệm với Phó tổng giám đốc là 5 năm.
 Bộ máy giúp việc
Văn phòng, các ban (phòng) chuyên môn nghiệp vụ của Tổng công ty có chức
năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong quản lý, điều
hành công việc. Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng, các ban (phòng) chuyên môn

nghiệp vụ được quy định tại quyết định thành lập, quyết định giao nhiệm vụ của
Hội đồng quản trị hoặc của Tổng giám đốc. Trong quá trình hoạt động, Tổng giám
14
đốc có quyền đề nghị Hội đồng quản trị thay đổi cơ cấu, biên chế, số lượng và chức
năng, nhiệm vụ của văn phòng, các ban (phòng) chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp
với yêu cầu hoạt động kinh doanh của Tổng công ty và quy định của pháp luật.
4.3 Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý,
điều hành Tổng công ty:
 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của Tổng công ty có quyền
chỉ đạo, giám sát toàn bộ hoạt động trong Tổng công ty; kiểm tra và giám sát hoạt
động điều hành của Tổng giám đốc.
 Hội đồng quản trị ban hành các nghị quyết, quyết định, các văn bản quản lý
và Tổng giám đốc có trách nhiệm tổ chức thực hiện.
 Khi tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, nếu
phát hiện vấn đề không có lợi cho Tổng công ty thì Tổng giám đốc phải báo cáo cho
Hội đồng quản trị để xem xét điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định. Trong thời gian
chờ quyết định của Hội đồng quản trị thì Tồng giám đốc vẫn phải thực hiện các
nghị quyết, quyết định đã có hiệu lực.
 Tổng giám đốc có trách nhiệm báo cáo Hội đồng quản trị bằng văn bản về
tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng tháng, quý, năm và báo cáo đột xuất
theo chế độ báo cáo của Tổng công ty do Hội đồng quản trị quy định.
 Chủ tịch Hội đồng quản trị tham dự hoặc cử đại diện của Hội đồng quản trị
tham dự các cuộc họp giao ban, các cuộc họp chuẩn bị các đề án trình Hội đồng
quản trị do Tổng giám đốc chủ trì; tham dự các cuộc ký kết các hợp đồng kinh tế
của Tổng công ty thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị và Chính phủ.
Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người đại diện Hội đồng quản trị tại các cuộc họp
nói trên, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo chức trách, Quy chế hoạt động
của Hội đồng quản trị và theo quy định của pháp luật.
 Tổng giám đốc không là thành viên Hội đồng quản trị được mời tham dự cuộc
họp Hội đồng quản trị, được quyền phát biểu nhưng không có quyên biểu quyết.

5/ Môi trường kinh doanh của Tổng công ty:
15
Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì phải có một điều kiện
kinh doanh ổn định và rộng lớn. Tổng công ty hàng không là một tổng công ty có thâm
niên hoạt động lâu năm và hoạt động kinh doanh lớn mạnh, điều này chứng tỏ tổng
công ty có môi trường kinh doanh tốt cả bên ngoài lẫn bên trong chính vì thế mà Tổng
công ty cũng được thừa hưởng những điều kiện đó:
* Môi trường bên ngoài:
Tổng công ty Hàng không Việt Nam có trụ sở chính tại số 200 Nguyễn Sơn, quận
Long biên, Hà nội. Là nơi đầu mối giao thông liên lạc trong và ngoài nước. Nơi đây tập
trung phần lớn các các cơ quan, các phòng ban thuộc tổng công ty hàng không. Kể từ
khi có chính sách mở cửa, đã tạo nên thuận lợi cho Việt nam thu hút lượng khách quốc
tế lớn, được thể hiện là năm 2000 số lượng khách quốc tế đến Hà nội 50400 khách, cho
đến năm 2002 con số này đã lên đến 58068 khách. Điều này cho thấy Hà nội là đầu
mối các chương trình du lịch ở phía Bắc, ngoài ra còn tập trung rất nhiều các di tích
lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và các cơ sở lưu trú, ăn uống đạt tiêu chuẩn cao. Với một
vị trí thuận lợi như vậy hoạt động của tổng công ty được hỗ trợ phát triển tốt hơn.
* Môi trường bên trong:
Tổng công ty có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cùng một đội ngũ
CBCNV có trình độ cao, có tâm huyết với nghề nên họ rất nhiệt tình và tận tâm với
công việc.
Như vậy với một điều kiện tốt và thuận lợi cả bên trong lẫn bên ngoài nên Tổng
công ty luôn đạt tiêu chuẩn: Chất lượng phục vụ hàng đầu, và luôn đảm bảo chữ “ tín”
với khách hàng.
* Môi trường kinh tế:
Vietnam Airlines đang kinh doanh trong một môi trường có nhiều thuận
lợi.Ngành du lịch của Việt Nam ngày càng phát triển tốt cùng tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế trong môi trường an ninh, chính trị ổn định. Hàng loạt sự kiện kinh
tế mang tính toàn cầu diễn ra, như Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức Hội nghị
Thượng đỉnh APEC, Mỹ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn

Những yếu tố này tác động tích cực đến thị trường vận tải hàng không nói chung và
16
của Vietnam Airlines nói riêng.
* Môi trường quốc tế:
Ngày 5-12-2006, IATA đã chính thức kết nạp Vietnam Airlines là thành viên
của tổ chức này. Điều đó thể hiện sự chủ động hội nhập của hàng không Việt Nam
trong quá trình toàn cầu hoá. Tổng Công ty cũng sẵn sàng đón nhận những thách
thức trong một thị trường hàng không quốc tế đa chiều, nhiều cơ hội nhưng cũng
đầy thử thách, cạnh tranh.
Mạng các đường bay nội địa và Đông Dương là mạng đường bay có ý nghĩa
chiến lược sống còn đối với Tổng công ty; đồng thời mang ý nghĩa chính trị to lớn,
đóng vai trò quan trọng trong phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân. VN sẽ tiếp
tục mở rộng, tăng cường khai thác và củng cố vị thế của mình trên các đường bay
nội địa trọng điểm. Trong mạng đường bay Tiểu vùng CLMV (Căm-pu-chia, Lào,
Mi-an-ma và Việt Nam), VN phải tìm các hướng mới để mở rộng và giữ vững thế
cạnh tranh áp đảo để cạnh tranh hiệu quả với cửa ngõ Băng Cốc, hỗ trợ các đường
bay dài trong mạng bay của VN thông qua việc tăng tần suất bay và sử dụng máy
bay lớn hơn.
Mạng đường bay quốc tế khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Đông Bắc Á, Nam
Thái Bình Dương là mạng đường bay hoạt động chính, đem lại lợi nhuận chủ yếu
trong hoạt động vận tải hàng không của VN. Trên mạng đường bay Đông Bắc Á,
VN sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt với các hãng hàng không lớn (Japan
Airlines, Korean Air, Cathay Pacific, China Southen Airlnes), do đó VN sẽ tiếp tục
củng cố và phát triển các đường bay hiện có bằng việc tăng tần suất bay, sử dụng
các loại máy bay công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả khai
thác. Mở thêm các đường bay mới tới các điểm khác của Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc, xem xét mở đường bay giữa Đà Nẵng và các điểm của Đông Bắc Á.
Trên mạng đường bay Đông Nam Á, Nam Á và Nam Thái Bình Dương, VN ngoài
việc cạnh tranh với các hãng lớn (Thai Airways, Singapore Airlines, Quantas) thì
thị phần của VN cũng bị ảnh hưởng bởi sự bùng phát mạnh mẽ của các hãng hàng

không giá rẻ. VN phải từng bước hoàn thiện sản phẩm lịch bay, tăng tần suất bay,
17
phát triển các đường bay từ Hà Nội, kết hợp khai thác các điểm Đông Nam Á với
các điểm của Ấn Độ (Bom Bay, Niu Đê-li), In-đô-nê-xia (Gia-các-ta, Ba-li) và Úc
thông qua việc khai thác thương quyền 5 giữa các điểm này; xây dựng chính sách
cạnh tranh hiệu quả đối với các hãng hàng không giá rẻ.
Mạng đường bay tầm xa xuyên lục địa là các đường bay có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, việc xây dựng và mở rộng luôn được nghiên cứu phát triển thận trọng
và có chọn lọc trên cơ sở bảo đảm hiệu quả khai thác chung toàn mạng của VN;
ngoài ra, việc khai thác các đường bay xuyên lục địa cũng khẳng định sự lớn mạnh,
nâng cao vị thế của một hãng hàng không; đồng thời phục vụ nhiệm vụ làm cầu nối
giao lưu kính tế - chính trị với các thị trường trọng điểm của quốc gia.
* Đối thủ cạnh tranh:
Cạnh tranh nội địa: Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam có 9 hãng hàng
không được cấp phép thành lập, gồm: VNA, JPA, Vasco, Viet Air, ICA, Mekong
Air, VietJet Air (VJA), Blue Sky Air và Trải Thiên Air (hãng hàng không vận
chuyển hàng hóa), nhưng trên thực tế hiện tại chỉ có 3 hãng hàng không khai thác
bay là VNA, JPA và Vasco. Theo điều 11 của Luật cạnh tranh, doanh nghiệp được
coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường
liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Như vậy,
VNA vẫn là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hàng không nội địa với thị
phần khoảng 80%, JPA chiếm 15%, còn Vasco (công ty con của VNA) chủ yếu
thực hiện dịch vụ taxi hàng không theo hướng chuyên chở hợp đồng là chính.
Với tiềm lực lớn về tài chính và kinh nghiệm, là thành viên của Tổ chức Hàng
Không dân dụng quốc tế (ICAO), Tổ chức Vận tải Hàng không quốc tế (IATA), là
thành viên của Liên minh Hàng Không Toàn cầu Skyteam, lại được sự ưu đãi của
Nhà nước về vốn, chế độ, chính sách hỗ trợ khi gặp khó khăn ; VNA đang là “ông
lớn” chi phối vận tải hàng không nội địa, đứng ở vị thế một hãng hàng không quốc
gia. Trong mọi trường hợp, cuộc cạnh tranh của các hãng hàng không mới không dễ
dàng bởi ảnh hưởng của VNA đối với thị trường hàng không nội địa là rất lớn. Thực

tế cho thấy, không phải cứ nhiều doanh nghiệp tham gia là thị trường hàng không
18
nâng cao được tính cạnh tranh, bởi ngoại trừ VNA và JPA đang làm chủ thị trường,
Vasco thực ra là thành viên trực thuộc VNA, còn lại ICA đã phá sản, VJA và Air
Mekong đang còn rất non nớt. Rõ ràng, hàng không Việt Nam đang mất cân đối rõ
rệt. VNA hiện là hãng thống lĩnh thị phần nội địa, gần như là độc quyền, lại có lợi
thế rất lớn từ các chính sách bảo hộ nhà nước
Cạnh tranh quốc tế: Hiện nay có tới 15 hãng hàng không giá rẻ ra đời và phát
triển tốt tại châu Á - Thái Bình Dương trở thành những đối thủ cạnh tranh cân bằng
đối với các hãng HK lâu đời.Mối lo ngại lớn nhất của VNA là sự tham gia của AA-
một hãng HK lớn kinh doanh theo phương thức giá rẻ đã và đang thành công ở khu
vực châu Á – Thái Bình Dương, vào thị trường Việt Nam.
19
PHỤ LỤC

×