Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
1
NHÂN VẬT LNCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12
Bài 13: NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM SAU CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
ANBE XARÔ (1872 – 1962)
Albert Sarraut (28/7/1872 – 26/11/1962) sinh tại tại Bordeaux (tỉnh Gironde), là một chính trị gia
người Pháp, ñảng viên ñảng Cấp tiến Pháp, hai lần làm thủ tướng Pháp. Ông cũng là toàn quyền
ðông Dương giai ñoạn từ năm 1912 tới năm 1919. Sau khi thống chế Petain giải tán quốc hội Pháp
tháng 7 năm 1940, ông cũng nghỉ hoạt ñộng chính trị và quay về ñiều hành nhật báo gia ñình La
Dépêche du Midi sau khi Mauritius bị lực lượng milice (dân quân) Pháp ám sát cuối năm 1943. Tên
của ông từng ñược ñặt cho một trường cấp 3 ở Hà Nội.
Năm 1911, Albert Sarraut, một chính khách trẻ và lỗi lạc, sau làm ñến bộ trưởng Bộ Thuộc ñịa và
ñắc cử Thủ tướng Pháp trong hai nhiệm kỳ, sang kế nhiệm chức Toàn quyền. Sarraut thuộc ñảng
Cấp Tiến Pháp, là một ñảng khuynh tả. Sarraut chủ trương làm ñúng tinh thần liên hiệp, cho tổ chức
lại trường ñại học, cho mở mang thêm các trường học các cấp, nới rộng các hội ñồng quản trị cho
người Việt tham gia. Tuy các nỗ lực của ông bị người Pháp tại Việt Nam cực lực phản ñối, chính
sách cai trị mềm mỏng giúp ông tại chức khá lâu và tạo nên không khí dễ thở phần nào cho dân bị
trị. Theo sau Sarraut là Maurice Long (1919–1923) cũng có chính sách mềm mỏng tương tự, nhưng
Maurice Long bị phản ñối và triệu hồi.
ðầu thập niên 1920, Albert Sarraut, khi ñó là bộ trưởng bộ Thuộc ñịa, ñã ñề ra một chương trình
khai khn thuộc địa mà nếu ñược áp dụng trong thực tiễn, có thể ñã ñánh dấu các lợi ích của ñổi
mới tư duy của chính quyền trong kiểm soát sự phát triển của các thuộc ñịa. Ông mô tả các ý tưởng
này trong cuốn sách "La mise en valeur des colonies françaises" (Khai khn các thuộc địa Pháp)
tạo thành một học thuyết mạch lạc chặt chẽ về công cuộc khai thác kinh tế ñể ñiều chỉnh các công
việc phải quan tâm trong quản lý hành chính ñối với cư dân bản ñịa. Ông viết "La politique
indigène, c'est la conservation de la race". ("Chính sách đối với người bản địa, là bảo tồn chủng
tộc"). Ông cũng ñề ra chương trình ñầu tư cho sức khỏe và xã hội nhưng nó ñã không ñược thực
hiện do thiếu nguồn ngân sách.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
2
Bài 14: PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 - 1925
PHAN BỘI CHÂU (1867 – 1940)
Phan Bội Châu sinh ngày 26-12-1867, mất ngày 29-10-1940, còn có tên là Phan Văn San; hiệu:
Hải Thụ, Thị Hán, Sào Nam, ðộc Tỉnh Tử Là một chí sĩ yêu nước và là nhà cách mạng nổi tiếng
theo xu hướng bạo ñộng ở Việt Nam ñầu thế kỉ 20. Quê ở làng ðan Nhiệm (nay là xã Xuân Hoà),
huyện Nam ðàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ nổi tiếng “thần ñồng”. Năm 13 tuổi ñã thành thạo các thể
văn cử tử. ðỗ Giải nguyên năm 1900. Năm 17 tuổi ñã viết hịch “Bình Tây thu Bắc”, năm 19 tuổi,
lập ðội sĩ tử Cần vương ñể hưởng ứng “Chiếu Cần vương” chống Pháp. Năm 1904, thành lập Hội
Duy tân chủ trương “ñánh ñuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam”. Từ 1905 ñến 1909, trực tiếp
lãnh ñạo phong trào Đông du, tổ chức gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật Bản học
tập quân sự, khoa học kĩ thuật. Tháng 3-1909, tổ chức ðông du bị giải tán, Phan Bội Châu bị trục
xuất khỏi Nhật Bản. Ông về Trung Quốc rồi sang Xiêm (Thái Lan) xây dựng cơ sở cách mạng. Sau
khi Cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, ông trở lại Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục
Hội với cương lĩnh chính trị “ñánh ñuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hoà
Dân quốc”. Hội cử người về nước hoạt ñộng, tiến hành một số vụ bạo ñộng vũ trang nhằm “lay tỉnh
hồn nước”. Phan Bội Châu bị giới quân phiệt Trung Quốc bắt giam. Năm 1917, ra tù, tìm hiểu Cách
mạng tháng Mười Nga, viết báo ca ngợi Lenin. Giữa 1924, phỏng theo Quốc dân ðảng của Tôn
Trung Sơn, ông ñịnh cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân ðảng. Nhưng sau
khi gặp Nguyễn Ái Quốc, ông bỏ ý ñịnh ñó và có những ý tưởng theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 30-6-1925, bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải giải về nước, xử án tử hình. Trước phong
trào ñấu tranh của nhân dân cả nước ñòi thả Phan Bội Châu, thực dân Pháp buộc phải ñưa ông về an
trí ở Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối ñời, ông vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng
tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn thơ, viết báo, ñược nhân dân yêu mến.
Phan Bội Châu ñã có cống hiến to lớn vào sự nghiệp văn học yêu nước và cách mạng của dân tộc,
ñể lại trên 1200 tác phẩm lớn nhỏ, gồm ñủ thể loại: văn chính luận, văn nghệ thuật. Trong văn nghệ
thuật có thơ trữ tình với ñủ các thể tài: phú, văn tế, hát nói, thất ngôn, tứ tuyệt, lục bát; có truyện
ngắn, truyện dài, kịch bản tuồng, tiểu phẩm, hồi kí vừa Hán, vừa Nôm. Tác phẩm tiêu biểu:
“Vong quốc sử”, “Hải ngoại huyết thư”, “Tân Việt Nam”, “Việt Nam quốc sử khảo”, “Nam quốc
dân tu tri”, “Nữ quốc dân tu tri”, “Nhân sinh triết học”, “Khổng học ñăng”, “Xã hội chủ nghĩa”.
Phan Bội Châu không có ý ñịnh làm nhà văn mà chỉ làm người chiến sĩ cứu nước, nhưng trên thực
tế ông ñã trở thành một nhà văn lớn, trước hết là với loại văn chương tuyên truyền cổ ñộng cách
mạng, trong ñó, sức hấp dẫn chính là tâm huyết của nhà văn trước số phận ñất nước, giống nòi. Ông
là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, ñấng xả thân vì ñộc lập, ñược 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn
sùng” (Nguyễn Ái Quốc).
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
3
PHAN CHÂU TRINH (1872 - 1926)
Phan Châu Trinh (9-9-1872 – 24-5-1926), còn viết là: Phan Chu Trinh; tự: Hy Mã; hiệu: Tây Hồ.
Là một chí sĩ yêu nước và là nhà cách mạng nổi tiếng theo xu hướng ôn hoà ở Việt Nam ñầu thế kỉ
20. Quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1900, ñỗ Cử nhân; năm 1901 ñỗ
Phó bảng, ñược bổ dụng là thừa biện Bộ Lễ. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư
sản, ông từ bỏ quan trường, liên lạc với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, ñề xướng phong trào
Duy Tân, lập các trường học mới, các hội công, nông thương, vv. Năm 1905 - 1906, ông sang
Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội Châu nhưng bất ñồng ý kiến về phương pháp cách mạng. Phan
Châu Trinh theo chủ trương ñấu tranh ôn hoà và công khai còn Phan Bội Châu thì theo ñường lối
bạo ñộng. Khi về nước, Phan Châu Trinh viết thư gửi toàn quyền ðông Dương tố cáo chính sự
trong nước và sự tệ hại của tầng lớp quan lại phong kiến Nam triều. Năm 1907, tại trụ sở
Trường ðông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, Phan Châu Trinh diễn thuyết hô hào duy tân cải cách.
Năm 1908, phong trào chống thuế dấy lên ở Trung Kỳ. Sau ñó, cùng với nhiều chí sĩ khác, ông bị
bắt và ñày ñi Côn ðảo.
Năm 1911, sang Pháp gặp Hội Nhân quyền Pháp ñể cùng yêu cầu Pháp ở ðông Dương cải tiến, cải
cách chính trị, tôn trọng dân quyền. Trong Chiến tranh thế giới I, bị Pháp bắt giam ở ngục Xăngtê
(Santé) 15 tháng. Trong khoảng 1917 - 1923, ông có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1922, vua Khải ðịnh sang Pháp, Phan Châu Trinh viết “Thất ñiều trần” ñể tố cáo trước dư
luận bảy tội lớn của vua. Năm 1925, về nước, tiếp tục hoạt ñộng theo chủ trương cải cách, công
khai. Các buổi diễn thuyết của ông về dân quyền, dân sinh, dân khí ở Sài Gòn, người ñến dự nghe
rất ñông. Mất năm 1926. Lễ tang và truy ñiệu Phan Châu Trinh trở thành một phong trào yêu nước
sôi nổi từ Nam chí Bắc. Tác phẩm chính: “Thư gửi Chính phủ ðông Dương” (1906), “Tỉnh quốc
hồn ca I” (1907), “Thư gửi Hội Nhân quyền” (1911), “Giai nhân kì ngộ” (truyện thơ), “Tây Hồ thi
tập” (Hán văn và Quốc văn), “Xăngtê thi tập” (1915), “Thất ñiều trần” (1922), “Tỉnh quốc hồn ca
II” (1922), “Thư gửi anh ðông” (1924), “Quân trị và dân trị” (bài diễn thuyết) (1926). Tác phẩm
của Phan Châu Trinh thể hiện tinh thần khảng khái bất khuất, tư tưởng yêu nước nồng nàn, có xu
hướng cải lương, không bạo ñộng.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
4
BÙI QUANG CHIÊU (1872 – 1945)
Bùi Quang Chiêu (1872 – 1945) là nhà báo, nhà hoạt ñộng chính trị Việt Nam
ñầu thế kỉ 20. Ông quê ở Mỏ Cày, Bến Tre lớn lên trong gia ñình vốn có truyền
thống Nho học nhưng có học trường Tây. Ông có quốc tịch Pháp. Ông ñược
gia ñình gửi sang Algérie rồi sang Pháp học ở trường École Coloniale từ năm
1894. Ba năm sau ông là người Việt ñầu tiên ñỗ bằng kỹ sư canh nông của
Pháp. Vua Hàm Nghi bấy giờ bị Pháp ñày sang Algérie và ông là người Việt
duy nhất ñược vào thăm cựu hoàng lúc ñó. Ông về nước năm 1913, làm phó
chủ tịch Phòng Canh nông Nam Kỳ.
Ở bên Pháp ông có gặp gỡ Hồ Chí Minh một vài lần nhưng không ñồng quan ñiểm với Hồ Chí
Minh. Ông là người thành lập tổ chức Association mutuelle des Indochinois (Hội hỗ trợ Đông
Dương) , một trong những ñoàn thể có mặt sớm nhất của người Việt ở Pháp.
Sau khi về nước ông hưởng ứng phong trào ðông Kinh Nghĩa Thục mở mang dân trí, ông liên lạc
với các nhà trí thức Nam Kỳ nổi tiếng và cùng chí hướng như luật sư Dương Văn Giáo, Diệp Văn
Kỳ, nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Trần Như Lân, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh.
Bùi Quang Chiêu cũng cổ ñộng cho phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong
trào ðông Du của Phan Bội Châu. Năm 1919 ông thành lập Đảng Lập hiến Đông Dương, vận
ñộng ñòi tự trị cho Việt Nam ñể lần hồi giành lại ñộc lập hoàn toàn. ðảng Lập Hiến dùng 3 tờ
báo: La Tribune Indochinoise (diễn dàn Đông Dương), L'Echo Annamite (Tiếng dội An Nam)
và Đuốc Nhà Nam làm diễn ñàn.
Năm 1926, nhân lúc Alexandre Varenne của ñảng Xã hội Cấp tiến Pháp ñược bổ nhiệm làm toàn
quyền ðông Dương với hứa hẹn cải tổ cai trị, Bùi Quang Chiêu lại sang Pháp vận ñộng chính giới
Pháp với loạt bài "Pour le Dominion Indochinois". Ông ñưa ra "Bản yêu sách 9 ñiều khoản" gồm:
1. Tự do ngôn luận
2. Tự do báo chí
3. Tự do hội họp và lập hội
4. Tự do ñi lại
5. Cải cách giáo dục
6. ðiều chỉnh chế ñộ lương bổng cho công bằng giữa người Pháp và người Việt
7. Nới rộng quyền ñại diện chính trị
8. Nâng cao ñời sống lao ñộng
9. Bãi bỏ ñộc quyền kinh tế
Với thanh thế ñó, ông về lại Sài Gòn tranh cử cuộc bầu cử tháng 10 năm 1926. Kết quả là ông cùng
9 ñảng viên ñảng Lập Hiến ñắc cử Hội ñồng Quản hạt Nam Kỳ. Ông ñược bầu làm Phó chủ tịch
Hội ñồng. Năm 1927 nhờ sự vận ñộng của ông cùng các nhân sĩ khác như Phan Văn
Trường, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Vũ ðình Dy và Nguyễn Phan Long, người Pháp
mới bãi bỏ ñiều kiện Pháp tịch cho những học sinh muốn sang Pháp du học Cũng vì quan tâm ñến
việc giáo dục, ông mở tư thục "An Nam Học ñường" ở Sài Gòn. Hoạt ñộng chính trị của ông bị nhà
chức trách cho là bài Pháp nên ông và báo La Tribune Indochinoise bị liệt danh vào "sổ ñen" của
mật thám Pháp.
Năm 1938 ông rời chính trường bỏ về Mỏ Cày một ít lâu rồi lại ra Sài Gòn năm 1943. Ngày 29
tháng 9 năm 1945 ở Chợ ðệm ông bị lực lượng Việt Minh thủ tiêu với tội làm "tay sai cho thực dân
Pháp" vì ông ch
ủ trương tranh ñấu bất bạo ñộng. Cùng bị giết với ông là năm người trong ñó có
người con gái út 16 tuổi.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
5
Trong số các con ông, người ta còn nhắc ñến bà Henriette Bùi ñỗ bằng bác sĩ y khoa Pháp năm
1929. Bà là nữ bác sĩ y khoa Việt Nam ñầu tiên.
NGUYỄN PHAN LONG (1889 – 1960)
Nguyễn Phan Long (1889 – 1960) là một nhà báo, nhà hoạt ñộng chính trị Việt Nam nửa ñầu thế
kỷ 20. Ông sinh trong một gia ñình ñiền chủ lớn lâu ñời ở Nam Kỳ, trú quán lâu năm tại Sài Gòn.
Thuở nhỏ, ông học tại trường Albert Sarraut Hà Nội, sau ñó du học Pháp. Năm 1919, ông cùng
với Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo và một số trí thức người Việt quốc tịch Pháp thành lập
ra Đảng Lập hiến Đông Dương, với mục ñích thành lập một ñảng phái chính trị ñại diện cho
quyền lợi của cho giai cấp tư sản ở Nam Kỳ.
Vào ñầu những năm thập niên 1920, ông về nước, vào Sài Gòn dạy học và mở trường trung học
Nguyễn Phan Long nổi tiếng dạy hay và bắt ñầu nghề làm báo. ðồng thời, ông còn giữ chức Nghị
viên Hội ñồng Quản hạt Nam Kỳ.
Tuy có thời gian mở trường dạy học, nhưng hầu hết cuộc ñời ông gắn liền với nghề báo. Ông từng
làm chủ nhiệm các báo: La Tribune Indochinoise (Diễn ñàn ðông Dương), L'Echo du Việt
Nam (Tiếng vọng Việt Nam), Đuốc Nhà Nam.
Sau năm 1945, ông bị các nhân vật phân li trong chính phủ tự trị Nam Kì kì thị, trấn áp một thời
gian. Năm 1950, Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Quốc gia
Việt Nam, nhưng chính phủ này phải từ chức 3 tháng sau ñó. Từ ñó ông sống bằng nghề dạy học và
viết báo. Tháng 7 năm 1949, ông tham gia nội các Bảo ðại. Tháng 1 năm 1950, ông ñược chỉ ñịnh
làm Thủ tướng.
Ngày 16/7/1960 ông mất tại nhà riêng ở Sài Gòn, thọ 71 tuổi, dư luận ñương thời cho là do Ngô
ðình Nhu ñầu ñộc.
Nguyễn Phan Long từng là bạn học và cùng chung chí hướng chính trị với một số trí thức nổi tiếng
Nam Kỳ như Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo nên ông cũng tham gia hoạt ñộng báo chí cùng
với họ. ðảng Lập hiến ðông Dương thành lập ñầu những năm 1920 ở Pháp, sau ñó về Nam Kỳ hoạt
ñộng, những người ñứng ñầu lập ra một số tờ báo làm cơ quan ngôn luận cho ñảng (sẽ ñược ñề cập
chi tiết ở phần dưới ñây). Nguyễn Phan Long tham gia viết cho các tờ báo ñó, có thời gian ông làm
chủ bút cho một số tờ.
Về sự ra ñời của ðảng Lập hiến ðông Dương, có nhiều số liệu khác nhau về thời gian như tháng
1/1925 hay năm 1923, Bùi Quang Chiêu cùng một số trí thức Tây học như Nguyễn Phan Long,
Dương Văn Giáo thành lập ðảng Lập hiến ðông Dương tại Paris (trong ñó Bùi Quang Chiêu là
người có vai trò quan trọng nhất). Chủ trương của ðảng Lập hiến là ñấu tranh ôn hòa, thỏa hiệp với
thực dân Pháp vào ñầu thập kỷ 20 của thế kỷ 20 nhằm dành quyền lợi về kinh tế cho người Việt,
chủ trương dành ñộc lập dân tộc thông qua việc duy tân, thu nhập và phát triển văn hóa mới theo
phương Tây.
Vào những năm ñầu thập niên uy tín ðảng Lập Hiến rất lớn nhưng do các hạn chế về tầm nhìn vận
ñộng quần chúng lao ñộng, ngần ngại trong việc vận ñộng quần chúng ñấu tranh, chỉ muốn thỏa
hiệp với chính quyền ñể ñạt ñược tiến bộ dân chủ và ñộc lập, trong khi chính quyền thực dân thì giữ
mãi thái ñộ trì hoãn và không thực tâm ñể duy trì quyền lực nên ðảng Lập Hiến bị chính quyền chi
phối. Các ñảng viên vì là công chức vẫn bị lệ thuộc vào chính quyền nên không dám thoát ly hẳn
v
ới chính sách thuộc ñịa. Do vậy sự ñấu tranh chính trị của họ bị hạn chế, không phát triển rộng
khắp nơi ñể ñi sâu vào tầng lớp bị trị.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
6
PHẠM QUỲNH (1892 – 1945)
Phạm Quỳnh (17/12/1892 – 6/9/1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà
văn và quan ñại thần triều Nguyễn. Ông là người ñi tiên phong trong việc
quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng
Pháp - ñể viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút
danh: Hoa ðường, Hồng Nhân.
Ông ñược xem là người chiến ñấu bất bạo ñộng nhưng không khoan
nhượng cho chủ quyền ñộc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục
quyền hành của Triều ñình Huế trên cả ba kỳ, chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương
chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.
Ông quê ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ (nay là huyện) Bình Giang, tỉnh Hải
Dương, nhưng sinh ở Hà Nội. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi.
Sau khi ñỗ ñầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ năm 1908, Phạm Quỳnh
làm việc ở Trường Viễn ðông Bác cổ tại Hà Nội.
Ông làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ năm 1917 ñến năm 1932, tuyên truyền cho tư tưởng "Pháp
Việt ñề huề". Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông còn là giảng viên Trường Cao ñẳng Hà Nội.
Ông còn là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến ñức mà ông tham gia sáng lập và Hội trưởng Hội Trí tri
Bắc Kỳ. Năm 1922, ông ñã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết ở cả Ban
Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp.
Cuối năm 1932, ông vào Huế tham gia chính quyền Bảo ðại, thời gian ñầu làm Ngự tiền Văn
phòng, sau ñó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật ñảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim ñược thành lập. Ông
về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa ðường bên bờ sông ñào Phủ Cam.
Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế.
Ông bị giết sau ñó cùng với nguyên Tổng ñốc Quảng Nam Ngô ðình Khôi (anh ruột Ngô ðình
Diệm) và Ngô ðình Huân (con trai của Ngô ðình Khôi).
Di hài ông ñược tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và ñược cải táng ngày 9 tháng 2 năm
1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
7
NGUYỄN VĂN VĨNH (1882 – 1936)
Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936), hiệu là Tân Nam Tử, là nhà tân học, nhà báo,
nhà dịch thuật Việt Nam ñầu thế kỉ 20. Quê ở xã Phượng Dực, phủ Thường
Tín, tỉnh Hà ðông (nay là tỉnh Hà Tây). Học Trường Thông ngôn, lần lượt làm
thư kí ở các Toà Công sứ Lào Cai, Kiến An, Bắc Ninh và Toà ðốc lí Hà Nội.
Năm 1906, ñược cử ñi dự hội chợ ở Marseille, trở về, xin thôi việc, mở nhà in,
làm chủ bút nhiều tờ báo: “ðại Nam ñăng cổ tùng báo”, “Lục tỉnh tân
văn”, “ðông Dương tạp chí”, “Trung Bắc tân văn” và một số tờ báo tiếng Pháp:
“Notre Journal” (Tờ báo của chúng ta), “Notre Revue” (Tạp chí của chúng ta),
“l’Annam nouveau” (An Nam mới). Xây dựng tủ sách “Âu Tây tư tưởng”, dịch
nhiều tác phẩm văn học Pháp: “Những người khốn khổ” (1928) của V. Hugo), “Thơ ngụ
ngôn” (1928) của J.de La Fontaine, “Truyện trẻ con” (1928) của Perrault, “Truyện miếng da lừa”
(1928) của H.de Balzac, “Người bệnh tưởng”, “Người biển lận”, “Trưởng giả học làm sang” của
J.B.Molière. Lời văn thông thoát, giản dị, có ảnh hưởng ñến nền quốc văn ñương thời. Nguyễn Văn
Vĩnh còn dịch “Truyện Kiều” của Nguyễn Du sang tiếng Pháp.
Trong hoạt ñộng chính trị, ông ñưa ra thuyết “trực trị” ñể cho Pháp trực tiếp cai trị cả ba kỳ như
một thuộc ñịa hoàn toàn của Pháp; tham gia Hội ñồng Thành phố Hà Nội, ðại Hội ñồng Kinh tế và
Lý tài ðông Dương. Thất bại trong kinh doanh, ñi tìm mỏ vàng và chết ở Xêpôn (Lào).
LÊ HỒNG SƠN (1899 – 1933)
Lê Hồng Sơn (1899 - 1933) là nhà cách mạng chống Pháp, người hỗ trợ cho Phạm Hồng Thái trong
kế hoạch mưu sát toàn quyền ðông dương Merlin.
Lê Hồng Sơn tên thật Lê Văn Phan, còn có các bí danh: Lê Hưng Quốc, Võ Hồng Anh, Lê Tản
Anh. Quê ông ở làng Xuân Hồ, tổng Xuân Liễu, huyện Nam ðàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1920, ông
tham gia vào Việt Nam Quang phục Hội và ñược Phan Bội Châu cử sang Nhật gặp Kỳ Ngoại
Hầu Cường ðể. Năm 1923 Lê Hồng Sơn cùng với 1 số ñồng chí như Phạm Hồng Thái, Hồ Tùng
Mậu, Lê Hồng Phong, Lâm ðức Thụ thành lập Tâm Tâm Xã. Năm 1924, ông là người hỗ trợ
cho Phạm Hồng Thái ám sát toàn quyền Pháp Merlin ở khách sạn Victoria, Sa Diện, Quảng Châu,
nhưng mưu sát không thành. Năm 1925, Lê Hồng Sơn tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng
Đồng chí Hội (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên) và trở thành một cánh tay ñắc lực
của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1926, Lê Hồng Sơn gia nhập ðảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 4
năm 1927, ông bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt, nhưng nhờ có sự can thiệp của Hồ Học Lãm,
ñang làm tham tán trong Bộ chỉ huy quân ñội Quốc dân ðảng ở Vân Nam, ông ñược trả tự do.
N
ăm 1929, Lê Hồng Sơn là người giữ một vai trò quyết ñịnh trong việc thành lập An Nam Cộng
sản ðảng. Ông cùng với Hồ Tùng Mậu góp phần tích cực trong việc hợp nhất các tổ chức cộng sản
Việt Nam ñể thành lập ðảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
8
(Hương Cảng). Ngày 26 tháng 9 năm 1932 ông bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hải giải về Việt
Nam giam ở nhà lao Vinh, sau ñó ñem ra xét xử và bị thực dân Pháp kết án tử hình. Ngày 19 tháng
2 năm 1933, Lê Hồng Sơn bị hành quyết ngay tại làng Xuân Hồ quê hương ông.
HỒ TÙNG MẬU (1896 – 1951)
Hồ Tùng Mậu (15/6/1896 – 21/7/1951) tên thật là Hồ Bá Cự, sinh ra và lớn
lên ở làng Quỳnh ðôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thân sinh của ông
là Hồ Bá Kiện, một chí sĩ trong phong trào Văn Thân, bị thực dân Pháp bắt
giam và bắn chết trong khi vượt ngục tại Lao Bảo.
Năm 1919 ông sang Xiêm với bí danh Hồ Tùng Mậu, rồi sang Trung Quốc ñể
hoạt ñộng chính trị với mục ñích giành ñộc lập cho Việt Nam khỏi chế ñộ
thực dân Pháp. Năm 1923, ông cùng Lê Hồng Sơn tham gia tổ chức Tâm
tâm xã gồm các thanh niên, trí thức yêu nước.
Mùa xuân năm 1924, Hồ Tùng Mậu về nước, nhưng ñến tháng 7 năm 1924, ñược tin Phạm Hồng
Thái mưu sát Toàn quyền Martial Henri Merlin, Hồ Tùng Mậu trở lại Quảng Châu. Năm 1925, ông
gặp Nguyễn Ái Quốc rồi trở thành một cán bộ trong tổ chức Thanh niên Cách mạng ðồng chí Hội.
Tháng 3 năm 1926, ông gia nhập ðảng Cộng sản Trung Quốc. Sau ñó 4 năm, ông là ñảng viên
ðảng Cộng Sản Việt Nam. Ông ñã ba lần bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vào các năm
1927, 1928 và 1929. ðược thả cuối năm 1929, ông ñã góp phần tích cực vào việc hợp nhất các tổ
chức cộng sản Việt Nam tại Hội nghị ngày 3 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Hương Cảng).
Khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt tháng 6 năm 1931, ông ñã cùng Trương Vân Lĩnh
liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế ðỏ nhờ can thiệp và vận ñộng luật sư Loseby bào chữa cho Nguyễn
Ái Quốc. Chính vì thế, ông bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam, nhưng vì không ñủ chứng cứ
buộc tội nên họ trục xuất ông khỏi Hương Cảng. Khi ông vừa ñặt chân lên ñất Thượng Hải ngày 26
tháng 6 năm 1931, thì bị mật thám Pháp bắt và giải về Việt Nam xét xử. Ông bị kết án tù chung
thân, trải qua các nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Trà Khê. Tháng 3 năm 1943,
ông vượt ngục ở Trà Khê và hoạt ñộng ở Trung Bộ.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông ñược phân công giữ các chức vụ Phụ trách trường Quân chính
Nhượng Bạn (Trung Bộ), Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu IV, Ủy viên thường vụ Liên khu
ủy. Năm 1947, ông làm Trưởng Ban Thanh tra Chính phủ, sau ñó còn làm Hội trưởng Hội Việt Hoa
hữu nghị. Năm 1951, ông ñược bầu vào Ban Chấp hành Trung ương ðảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 21 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên ñường ñi vào Liên khu IV công tác, do bị máy bay
Pháp bắn trúng tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ông ñược truy tặng Huân chương
Hồ Chí Minh.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
9
PHẠM HỒNG THÁI (1895 – 1924)
Phạm Hồng Thái (1895 – 19/6/1924) tên thật là Phạm Thành Tích, sinh
trưởng trong một gia ñình có truyền thống hiếu học và yêu nước tại làng
Xuân Nha, tổng Văn Viên, phủ Hưng Nguyên(nay là xã Hưng Nhân, huyện
Hưng Nguyên), tỉnh Nghệ An.
Ông nội là Phạm Trung Truyển, bố là Phạm Thành Mỹ có ñỗ ñạt trong các kỳ
thi nhưng chỉ ñược triều ñình nhà Nguyễn bổ nhiệm những chức quan nhỏ
coi sóc việc học hành. Ông nội và bố Phạm Thành Tích có tinh thần yêu
nước, nhưng họ yên lòng với nghề nghiệp và chí thú với gia ñình. Vì lẽ ñó
nên vua Tự ðức ñã ban thẻ bài ngà cho ông nội anh với 8 chữ: “Quốc sủng
gia phong, khai hoa, kế nghiệp ”. Bố anh tuy làm huấn ñạo, nhưng ông là một thân sỹ tích cực của
phong trào văn thân chống Pháp.
Phạm Thành Tích từ nhỏ rất chăm làm, chăm học. Năm 14, 15 tuổi anh ra Thất Khê ở với bố ñể học
thêm. Sau ñó, anh xin sang học chữ Pháp tại trường Pháp - Việt; nhưng ñược mấy năm thì anh bỏ
học vì thấy người Pháp lấy giáo dục nô lệ làm chính. Về quê, anh ñi làm ñể giúp ñỡ gia ñình và
cũng bắt ñầu quá trình thực hiện chí hướng lớn của mình.
Từ 1919, Phạm Thành Tích ñổi tên là Phạm Thành Khôi. Anh xin vào làm công nhân trong các nhà
máy ở Vinh Bến- Thuỷ như nhà máy ðiện, nhà máy Diêm và nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi.
Anh trở thành nhân tố tích cực trong việc vận ñộng công nhân ñình công và biểu tình. Bị bọn chủ
các nhà máy sa thải, anh lên tận tỉnh Bắc Cạn làm công nhân mỏ kẽm rồi xuống Hải Phòng làm
công nhân nhà máy xi măng. Với ñời thợ dù chỉ 6 tháng hoặc một vài năm, nhưng ở ñâu anh cũng
tìm ñọc các tài liệu và báo chí tiến bộ trong và ngoài nước, bí mật tổ chức giác ngộ cho anh em
công nhân hiểu về tình cảnh ñời thợ, bản chất bóc lột của bọn chủ xưởng và chính sách cai trị của
thực dân Pháp. Ngày 17/2/1924, Phạm Thành Khôi ñổi tên là Phạm Hồng Thái cùng một số thanh
niên yêu nước trong vùng bí mật sang Xiêm. Tới Trại Cày của ðặng Thúc Hứa, anh ñược giới thiệu
qua Quảng Châu(Trung Quốc). Tại Quảng Châu, anh gia nhập tổ chức “Tâm Tâm xã” do một nhóm
7 người thanh niên yêu nước Việt Nam thành lập năm 1923.
Tổ chức “Tâm Tâm xã” chủ trương gây một tiếng nổ lớn ñể thức tỉnh quốc dân ñồng bào trong
nước và chấn ñộng dự luận Quốc tế. Nhân dịp Toàn quyền Mec lanh trên ñường ñi Nhật ghé qua
Trung Quốc, Tâm tâm xã chuẩn bị kế hoạc ám sát viên toàn quyền và Phạm Hồng Thái xung phong
nhận nhiệm vụ ñó.
Ngày 19/6/1924, Méc lanh dự tiệc chiêu ñãi của nhà ñương cục Pháp tại khách sạn Vích to ria,
thuộc tô giới của Pháp. Mặc dù khách sạn ñược canh phòng cẩn mật, nhưng trong vai một ký giả,
Phạm Hồng Thái ñã lọt qua vọng gác. Khi bữa tiệc bắt ñầu, anh ném một quả tạc ñạn vào bàn tiệc
làm chết và bị thương khoảng chục vị quan khách nhưng Méc lanh chỉ bị thương nhẹ.
Trước sự vây bắt của kẻ thù, anh nhảy xuống sông Châu Giang. Nhưng do ở khu vực này dòng chảy
quá xiết, anh ñã hy sinh anh dũng. Thi hài Phạm Hồng Thái ñược chính phủ Tôn Trung Sơn cải táng
tại ngọn núi trước Hoàng Hoa Cương, là nơi phần mộ của 72 liệt sỹ cách mạng Trung Quốc.
Tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái ñã gây nên niềm kính phục và thức tỉnh lòng yêu nước
của hàng vạn ñồng bào trong nước. Chính ý nghĩa ñó, mặc dầu không tán thành chủ trương ám sát
cá nhân của Tâm Tâm xã nhưng ñồng chí Nguyễn Ái Quốc vẫn ñánh giá rất cao hành ñộng dũng
cảm của Phạm Hồng Thái; Người viết: “… Việc ñó tuy nhỏ, nhưng nó báo hiệu bắt ñầu thời ñại ñấu
tranh dân t
ộc, như chim én báo hiệu mùa xuân ”.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
10
TÔN QUANG PHIỆT (1900 – 1973)
Tôn Quang Phiệt (1900 - 1973), là nhà hoạt ñộng chính trị, nhà nghiên cứu lịch
sử Việt Nam. Quê ở Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Học Cao ñẳng Sư phạm
Hà Nội, ông cùng ðặng Thai Mai, Phạm Thiều lập ra Việt Nam Nghĩa hoà
Đoàn, tham gia ñấu tranh ñòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu (giữa 1925).
Hội trưởng Hội Phục Việt. Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,
gia nhập ðảng Cộng sản Việt Nam. Bị thực dân Pháp bắt, giam ở nhà tù Buôn
Ma Thuột. Năm 1934, ra tù và bị quản thúc, rồi dạy học ở Vinh và Huế. Tham
gia phong trào cách mạng những năm 1936 - 45 và khởi nghĩa ở Huế (1945), giữ
chức chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Lâm thời thành phố Huế. ðại biểu Quốc hội các
khoá I - IV, phó trưởng ban Thường vụ Quốc hội khoá I, tổng thư kí khoá III,
IV. Ông cũng ñã nghiên cứu sử học và văn học.
Ông mất ñột ngột vào ngày 1 tháng 12 năm 1973 trong một chuyến công tác tới Bắc Kinh, Trung
Quốc, ở tuổi 73. Tôn Quang Phiệt ñã ñược truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Hiện nay tên ông
ñã ñược ñặt cho những con ñường ở Huế và thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm chính: "Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh", "Phan Bội Châu và một giai ñoạn trong lịch
sử chống Pháp", "Thơ văn chữ Hán của Phan Bội Châu".
ĐẶNG THAI MAI (1902 – 1984)
Đặng Thai Mai (1902 – 1984), là nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam. Quê ở làng Lương
ðiền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sinh trưởng trong một gia ñình có truyền thống Nho
học, yêu nước, con của phó bảng ðặng Nguyên Cẩn. Bắt ñầu hoạt ñộng văn hoá thời kì Mặt trận
Dân chủ ðông Dương (1936 - 39), viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu
gương các chiến sĩ cách mạng buổi ñầu ("Cô câm ñã lên tiếng", "Người ñàn bà ñiên", "Chú bé" ).
Nổi tiếng với tác phẩm "Văn học khái luận" (1944), cuốn sách ñầu tiên trình bày có hệ thống nhiều
vấn ñề lí luận văn học theo quan ñiểm tiến bộ, như ñiển hình và cá tính, nội dung và hình thức,
truyền thống và hiện ñại.
ðặng Thai Mai cũng là người có công giới thiệu văn học hiện ñại Trung Quốc qua các công trình
"Lỗ Tấn" (1944), "Tạp văn Trung Quốc" (1944), các bản dịch kịch "Lôi Vũ", "Nhật xuất" của Tào
Ngu, "Lịch sử văn học Trung Quốc hiện ñại", tập I (1958). Sau Cách mạng tháng Tám, giảng dạy ở
bậc ñại học và nghiên cứu phê bình văn học "Văn thơ cách mạng Việt Nam ñầu thế kỉ 20" (1960),
"Trên ñường học tập và nghiên cứu" (tập I, 1959; tập II, 1965; tập III, 1973). ðặng Thai Mai có vốn
Nho học uyên thâm và am hiểu văn học cổ ñiển Pháp, văn học hiện ñại Trung Quốc, văn học cận
ñại Việt Nam. ðặng Thai Mai là nhà lí luận phê bình sắc sảo. Từng giữ các chức vụ: bộ trưởng Bộ
Giáo dục, chủ tịch Uỷ ban Hành chính và Kháng chiến Thanh Hoá, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học
và Nghệ thuật Việt Nam, viện trưởng Viện Văn học. Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
11
TRẦN HUY LIỆU (1901 – 1969)
Trần Huy Liệu (5/11/1901 – 28/7/1969) là một nhà văn, nhà hoạt ñộng cách mạng, nhà sử học, nhà
báo Việt Nam. Ông là chủ tịch ñầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện sĩ Viện Hàn lâm
Khoa học ðông ðức.
Ông quê ở làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam ðịnh. Ông có bút danh chính là Nam Kiều và
nhiều bút hiệu khác như ðẩu Nam, Hải Khánh, Côi Vị, Ẩm Hân Kiếm Bút.
Thuở nhỏ ông học thầy Bùi Trình Khiêm ở Nam ðịnh, Hà Nội. Từ năm 1924, ông vào Nam công
tác với các báo Nông cổ mín đàm, Rạng đông, làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo.
Tháng 6 năm 1927 ông bị Pháp bắt, kết án tù vì có chân trong các tổ chức yêu nước. Năm 1928 ông
thành lập Cường học thư xã chuyên xuất bản sách cổ võ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí.
Cũng trong năm này, ông tham gia nhập Việt Nam Quốc dân ñảng và tổ chức ñảng bộ trong Nam.
Rồi bị Pháp bắt vào khoảng tháng 8 năm 1928, bị kết án 5 năm tù và ñày ra Côn ðảo. Trong tù, vì
tiếp xúc với người cộng sản ông tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, tuyên bố li khai Quốc dân ñảng, tự
nguyện ñứng vào hàng ngũ những người cộng sản.
Năm 1935, ông ra tù, bị trục xuất về miền Bắc. Từ năm 1936, ông ñược kết nạp vào ðảng Cộng sản
ðông Dương, tích cực hoạt ñộng cho ñảng. Tháng 10 năm 1939 lại bị bắt ñày ñi Sơn La, Bá
Vân, Nghĩa Lộ. ðến tháng 3 năm 1945, tham gia phá trại giam Nghĩa Lộ, vượt ngục trở về Hà Nội
làm công tác cách mạng.
Tháng 8 năm 1945, ông dự ðại hội Quốc dân ở Tân Trào và ñược bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban dân
tộc giải phóng, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời. Ngày 30 tháng 8 năm
1945 ñược cử thay mặt Chính phủ cùng ñi với Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào Huế chấp
nhận sự thoái vị của vua Bảo ðại. Sau ñó, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị cục trưởng trong
Quân sự Ủy viên hội, Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc.
Từ năm 1953, ông chuyển sang công tác nghiên cứu khoa học, làm Trưởng ban Ban nghiên cứu
Văn Sử ðịa trực thuộc Trung ương ðảng. Sau ñó ông lần lượt ñảm nhiệm các chức vụ Viện
trưởng Viện Sử học, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.
Ngày 28 tháng 7 năm 1969 ông mất tại Hà Nội, thọ 68 tuổi.
Năm 1963, Trần Huy Liệu ñược nước Cộng hòa Dân chủ ðức tặng thưởng huân chương danh dự.
Năm 1996, ông ñược nhà nước Việt Nam truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Tên ông
ñược ñặt cho nhiều con ñường tại Việt Nam.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
12
NGUYỄN AN NINH (1900 – 1943)
Nguyễn An Ninh (1900 – 1943) là một nhà báo, một nhà văn và một nhà yêu
nước tiến bộ nổi tiếng ñầu thế kỉ 20. Ông sinh ở quê mẹ - xã Long Thượng,
huyện Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc Long An) và lớn lên ở quê cha –
xã Mỹ Hòa, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia ðịnh. Thân phụ ông là nhà thơ yêu
nước Nguyễn An Khương. Nguyễn An Ninh là một trí thức có học vấn cao
rộng, từng học ñại học trong nước rồi sang Pháp học ở ðại học Sorbonne, ñỗ
Cử nhân năm 1920. Năm 1922, về nước, sáng lập báo “Chuông rè”. Cổ
ñộng thanh niên học tập, tích cực ñấu tranh ñòi dân chủ. Từ 1930, hợp tác
chặt chẽ với những người cộng sản trên mặt trận báo chí và ñấu tranh ñòi dân
chủ: tham gia làm báo “Trung lập”, “Tranh ñấu” , “Dân chúng”. ðề
xướng phong trào ðông Dương ñại hội năm 1936, ứng cử Hội ñồng Quản hạt Nam Kỳ. Là tác giả
các tập sách “Tuồng Hai Bà Trưng”, “Vấn ñề tôn giáo” và là người Việt Nam ñầu tiên dịch một
phần cuốn J.J.Rousseau. Ông từng tìm hiểu nhiều nước châu Âu và có quan hệ mật thiết với các nhà
yêu nước nổi tiếng như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc. Trong suốt thời gian
hoạt ñộng của mình, ông từng bị thực dân nhiều lần khủng bố, bắt bớ, tù ñày, hành hạ và cuối cùng
ñã mất tại Côn ðảo hai năm trước ngày Cách mạng tháng tám thành công (14/8/1943).
TÔN ĐỨC THẮNG (1888 – 1980)
Tôn Đức Thắng (20/8/1888 – 30/3/1980), nhà hoạt ñộng nổi tiếng của ðảng
Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Quê: làng Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên,
nay thuộc tỉnh An Giang. Học Trường Kĩ nghệ Viễn ðông (1906 - 09), làm
công nhân Nhà máy Ba Son của hải quân Pháp ở Sài Gòn; tổ chức công nhân
bãi công (1912). Bị bắt lính sang Pháp, làm thợ máy cho một ñơn vị hải quân
Pháp (1914), tham gia phản chiến chống lại cuộc can thiệp của ñế quốc Pháp
vào nước Nga Xô Viết (1919). Năm 1920, về nước, xây dựng cơ sở Công hội;
vận ñộng công nhân ñấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son
(8.1925). Tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, uỷ viên Ban Chấp
hành Kỳ bộ Nam Kỳ (1927). Bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn (1928), kết án 20
năm tù khổ sai, ñày ra Côn ðảo (1930 - 45). Gia nhập ðảng Cộng sản Việt Nam tại Côn ðảo (1930).
Sau Cách mạng tháng Tám, trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến, bí thư Xứ uỷ Nam Bộ (1945). Uỷ
viên Ban Chấp hành Trung ương ðảng các khoá II - IV.
Phó ban Thường trực Quốc hội (1946 - 55), trưởng ban (1955 - 60). Bộ trưởng Bộ Nội vụ (5.1947 -
11.1947); thanh tra ñặc biệt toàn quốc (8.1947). Phó chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
(1960 - 69), chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau này là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (1969 - 80).
Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951 - 55), chủ tịch ðoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 - 77), chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977 -
80). ðại biểu Quốc hội các khoá I - VI. Huân chương Sao vàng và nhiều huân chương cao quý khác.
Tôn ðức Thắng là một chiến sĩ cách mạng kiên cường và tiêu biểu, "gương mẫu ñạo ñức cách mạng,
suốt ñời cần kiệm liêm chính, suốt ñời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân" (lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
13
NGUYỄN ÁI QUỐC (1890 – 1969)
Nguyễn Ái Quốc là bí danh, bút hiệu của Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành (19/5/1890 – 2/9/1969),
là lãnh tụ vĩ ñại của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, người
sáng lập ðảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, các lực lượng vũ trang
nhân dân Việt Nam và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản
quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ 20; danh nhân văn hoá thế giới.
Quê Người ở làng Kim Liên, huyện Nam ðàn, tỉnh Nghệ An. Mất tại Hà Nội. Sinh ra trong gia ñình
nhà nho yêu nước, lớn lên trong thời kì phong trào cứu nước sôi nổi. Học Trường Quốc học Huế,
rồi làm giáo viên tiểu học. Tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp tàu buôn ñô ñốc
Latouche Tréville của Pháp, rời Việt Nam tìm ñường cứu nước, qua Pháp, Hoa Kì, Anh; cuối 1917,
trở lại Pháp. Gia nhập ðảng Xã hội Pháp (1919). Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại
Pháp, với tên Nguyễn Ái Quốc, gửi ñến Hội nghị Vecxay (Versailles) bản Yêu sách ñòi Chính phủ
Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình ñẳng của nhân dân Việt Nam (1919). Năm 1920,
tại ðại hội Tua (Tours) của ðảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và
tham gia thành lập ðảng Cộng sản Pháp. Tham gia thành lập Hội Liên hiệp Thuộc ñịa (1921); xuất
bản báo "Le Paria" "Người cùng khổ" ở Pháp (1922). Năm 1923, ñược bầu vào Ban Chấp hành
Quốc tế Nông dân. Năm 1924, tham dự ðại hội V Quốc tế Cộng sản; cán bộ Ban phương ðông của
Quốc tế Cộng sản. Năm 1925, tại Trung Quốc, tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp
bức; thành lậpViệt Nam Thanh niên Cách mạng ðồng chí Hội ở Quảng Châu với tổ chức nòng cốt
là Cộng sản ñoàn, ñào tạo cán bộ và truyền bá chủ nghĩa Mac - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị thành
lập ðảng Cộng sản Việt Nam; xuất bản tác phẩm "Bản án chế ñộ thực dân Pháp" (1925), báo
"Thanh niên" (1926), "ðường kách mệnh" (1927).
ðầu 1930, chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập ðảng Cộng sản
Việt Nam, quyết ñịnh chính cương, ñiều lệ, sách lược vắn tắt của ðảng. Tháng 6.1931, bị ñế quốc
Anh bắt giam tại Hồng Kông (Hong Kong), ñược trả lại tự do (1933). Mùa xuân 1934, sang Liên
Xô, vào học Trường ðại học Lênin, rồi làm nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn ñề Dân tộc
và Thuộc ñịa của Quốc tế Cộng sản tại Matxcơva. Năm 1935, tham gia ðại hội VII Quốc tế cộng
sản với tư cách ñại biểu tư vấn. Tháng 9.1938, rời Viện Nghiên cứu các vấn ñề Dân tộc và Thuộc
ñịa ñể về nước.
Ngày 28.1.1941, Hồ Chí Minh về Cao Bằng. Chủ trì Hội nghị VIII của Ban Chấp hành Trung
ương ðảng Cộng sản ðông Dương (5.1941) - hội nghị quyết ñịnh ñường lối giải phóng dân tộc Việt
Nam, thành lập Việt Nam ðộc lập ðồng minh (tức Mặt trận Việt Minh). Năm 1942, bị chính quyền
của Tưởng Giới Thạch bắt giam ở nhiều nhà tù của tỉnh Quảng Tây; trong hoàn cảnh ñó, Hồ Chí
Minh ñã viết tập thơ "Nhật kí trong tù". Lập ñội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng
quân (12.1944), xây dựng căn cứ ñịa Việt Bắc. Chủ trì Hội nghị toàn quốc của ðảng (13 -
15.8.1945) và ðại hội Quốc dân Tân Trào (16 - 17. 8.1945) tại Sơn Dương, Tuyên Quang, quyết
ñịnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước; ñược ðại hội Quốc dân bầu làm chủ tịch Uỷ
ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà).
Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba ðình, Hà Nội, Hồ Chí Minh ñọc Tuyên ngôn ñộc lập khai sinh
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
14
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước dân chủ nhân dân ñầu tiên ở ðông Nam Á. ðại
biểu Quốc hội khoá I, II, III và ñược Quốc hội liên tục bầu làm chủ tịch nước (3.1946 - 9.1969). Từ
2.1951 ñến 9. 1969, chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương ðảng Lao ñộng Việt Nam (khoá II, III).
Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp, Kháng chiến chống Mĩ cứu
nước và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các tác phẩm, các bài viết ñược in
thành bộ sách "Hồ Chí Minh toàn tập" (gồm 12 tập). Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
ñiểm toàn diện và sâu sắc về những vấn ñề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac - Lênin vào ñiều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. ðó là tư tưởng về giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về ñộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời ñại; về sức mạnh của nhân dân, của khối ñại
ñoàn kết dân tộc gắn liền với ñoàn kết quốc tế; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước
thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về
phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao ñời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về
ñạo ñức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho ñời sau; về xây dựng ðảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ ñảng viên vừa là người lãnh ñạo, vừa
là người ñầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng cho cuộc ñấu tranh
của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của ðảng và dân tộc ta.
Cuộc ñời Hồ Chí Minh là tấm gương chói lọi về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về tinh thần ñộc
lập tự chủ, sáng tạo, lòng yêu dân thắm thiết, gắn bó với nhân dân; về tinh thần ñoàn kết, về ñạo ñức
giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, nhà tư
tưởng vĩ ñại của dân tộc Việt Nam; là một vĩ nhân ñược UNESCO phong danh hiệu "Anh hùng giải
phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn". Hồ Chí Minh ñể lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. ðó
là "Thời ñại Hồ Chí Minh, thời ñại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. ðó là kỉ
nguyên ñộc lập tự do của Tổ quốc, kỉ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta", "Dân tộc ta, nhân dân ta,
non sông ñất nước ta ñã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ ñại, và chính Người ñã
làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông ñất nước ta" (ðiếu văn của Ban Chấp hành Trung
ương ðảng). Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của dân tộc ta.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
15
Bài 15: PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1925 - 1930
NGUYỄN THÁI HỌC (1940 – 1930)
Nguyễn Thái Học (1904 – 1930), là thủ lĩnh của Việt Nam Quốc dân ðảng. Quê ở làng Thổ Tang,
tổng Lương ðiền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh
Vĩnh Phúc). Sinh viên Trường Cao ñẳng Thương mại. Năm 1925 - 1926, hai lần gửi thư cho toàn
quyền ðông Dương Varen (Varenne) yêu cầu phát triển công thương nghiệp, tự do mở trường học,
ñều bị từ chối. Xin ra tạp chí “Nam Thanh” cũng bị từ chối. Năm 1927, quan hệ với
nhóm Nam của Phạm Tuấn Tài. Ngày 25.12.1927, thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng, là chủ tịch
Tổng bộ Việt Nam Quốc dân ðảng ở Bắc Kỳ, tập hợp các nhóm yêu nước ở Bắc Ninh (Nguyễn Thế
Nghiệp), Bắc Giang (Nguyễn Khắc Nhu). Lãnh ñạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2.1930), nhưng
cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt. Một số chiến sĩ khuyên ông ra nước ngoài ñể tránh sự truy
lùng, nhưng ông ñã kiên quyết ở lại ñể cải tổ Việt Nam Quốc dân ðảng, tiếp tục ñấu tranh cách
mạng. Ngày 20.2.1930, bị bắt tại ấp Cổ Vịt, Chí Linh, Hải Dương. Ngày 17.6.1930, ông cùng 12
ñồng chí bị Pháp xử chém tại Yên Bái. Khi bước lên máy chém, ông hô to: “Việt Nam vạn tuế”.
PHẠM TUẤN TÀI (1905 – 1937)
Phạm Tuấn Tài (1905 – 1937), nhà giáo yêu nước Việt Nam. Quê ở
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam ðịnh. Dạy học ở Nam ðịnh, Tuyên Quang, Hà
Nội. Cùng anh ruột là Phạm Tuấn Lâm sáng lập Nam Đồng thư xã. Cùng
nhóm Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc dân ðảng. Sau vụ ám
sát tên mộ phu Bazanh (Bazin), bị kết án ñày ñi Côn ðảo. Bị lao nặng, vẫn
ra báo “Tiếng gọi”, “Tiếng rên”, “Tiếng gào”. Năm 1936 ra tù và 1937,
chết ở Nam ðịnh.
PHÓ ĐỨC CHÍNH (1907 – 1930)
Phó Đức Chính (1907 – 1930), là thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân ðảng. Quê ở làng ða Ngưu, huyện
Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tốt nghiệp Cao ñẳng Công chính. Sáng lập viên Việt Nam Quốc dân
ðảng. Bị bắt ở Lào sau vụ ám sát viên trùm mộ phu người Pháp Bazanh (Bazin). Bị kết án tù treo
và bị bãi chức tham tá công chính. Từ 9-12-1928, làm phó chủ tịch ðảng. Chỉ huy cuộc nổi dậy ở
Chùa Thông, Sơn Tây nhưng bại lộ, bị bắt và xử chém tại Yên Bái ngày 17-6-1930. Trên máy
chém, ñòi ñược nằm ghế ñể xem lưỡi dao chặt xuống như thế nào.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
16
Bài 16: PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1935
TRẦN PHÚ (1904 – 1931)
Trần Phú (1904 – 1931), là nhà hoạt ñộng xuất sắc của ðảng Cộng sản
Việt Nam. Quê ở làng Tùng Ảnh, nay là xã Tùng Ảnh, huyện ðức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh. Học Trường Quốc học Huế, ñỗ cao ñẳng tiểu học (1922). Dạy học ở
Trường Tiểu học Cao Xuân Dục (Vinh). Sớm giác ngộ cách mạng, tham gia
Hội Phục Việt (1925), sau ñổi thành Tân Việt Cách mạng ðảng. Năm 1926, sang
Quảng Châu (Trung Quốc), ñược Nguyễn Ái Quốc huấn luyện về lí luận cách
mạng; sau ñó ñược cử sang học Trường ðại học Phương ðông ở Matxcơva
(1927), làm bí thư nhóm cộng sản Việt Nam học ở ñây.
Tháng 4.1930, về nước, ñược bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Lâm
thời Đảng Cộng sản Việt Nam (7.1930), dự thảo bản "Luận cương chính trị của Đảng". Chủ trì
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Hương Cảng (10.1930), Hội nghị
quyết ñịnh ñổi tên ðảng Cộng sản Việt Nam thành ðảng Cộng sản ðông Dương, thông qua bản
"Luận cương chính trị của ðảng", lập Ban Chấp hành Trung ương chính thức do Trần Phú làm tổng bí
thư. Chủ trì Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương tại Sài Gòn (3.1931). Bị thực dân Pháp
bắt (4.1931) ở Sài Gòn. Bị tra tấn dã man, song không khuất phục, ñã từ trần tại bệnh viện Chợ Quán
(6.9.1931). Trước khi tắt thở, Trần Phú ñã dặn lại với các ñồng chí của mình "Hãy giữ vững chí khí
chiến ñấu".
Trần Phú, tổng bí thư ñầu tiên của ðảng Cộng sản Việt Nam, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất
khuất ñã cống hiến trọn ñời mình cho sự nghiệp cách mạng của ðảng và nhân dân Việt Nam.
LÊ HỒNG PHONG (1902 – 1942)
Lê Hồng Phong (1902 – 1942), tên thật là Lê Huy Doãn, là nhà hoạt ñộng
nổi tiếng của ðảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cộng sản quốc tế. Quê ở
tổng Thông Lãng (nay là xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ
An. Lê Hồng Phong làm công cho một hãng buôn ở Vinh,làm công nhân
Nhà máy diêm Bến Thuỷ, bị ñuổi vì tội vận ñộng công nhân ñấu tranh. ðầu
năm 1923, sang Xiêm (Thái Lan), sau ñến Trung Quốc. Tham gia thành lập
Tâm Tâm xã; gặp Nguyễn Ái Quốc và ñược kết nạp vào nhóm bí mật gồm 9
hội viên làm hạt nhân cho việc lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Học Trường Quân sự Hoàng Phố, sau sang Liên Xô (1927), học Trường
Hàng không (Lêningrat); tham gia Hồng quân Liên Xô, cấp bậc trung tá rồi vào học Trường ðại
học Phương ðông Matxcơva của Quốc tế Cộng sản. Cuối 1931, về Trung Quốc. Năm 1932, tìm
cách liên lạc với tổ chức ðảng Cộng sản trong nước khôi phục phong trào cách mạng, thảo chương
trình hành ñộng của ðảng. ðầu 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương ra
ñời do Lê Hồng Phong làm trưởng ban. Trưởng ñoàn ðoàn ñại biểu ðảng cộng sản ðông Dương ñi
dự ðại hội VII Quốc tế Cộng sản; tháng 7.1935, ñược bầu làm uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế
Cộng sản. Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương ðảng Cộng sản ðông Dương (3-1935- giữa
1936). Cùng với Hà Huy Tập triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ðảng (7.1936), chủ
trương ñấu tranh chống bọn phản ñộng thuộc ñịa và tay sai, chống chiến tranh ñế quốc, ñòi các
quyền dân chủ, tự do, cơm áo, hoà bình, mở ñầu cho cao trào dân chủ ở ðông Dương. Tại hội nghị
này, Hà Huy T
ập ñược cử giữ chức tổng bí thư của ðảng thay Lê Hồng Phong. Tháng 11.1937, về
Sài Gòn cùng Ban Chấp hành Trung ương trực tiếp chỉ ñạo cách mạng. Tháng 3.1938, tham gia Hội
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
17
nghị Trung ương ðảng. Bị Pháp bắt tại Sài Gòn (6.1939), kết án 6 tháng tù. Tháng 2.1940, bị bắt
lần 2, ñày ra Côn ðảo. Mất tại nhà tù Côn ðảo (5.9.1942).
Lê Hồng Phong thuộc lớp học trò hạt nhân cách mạng ñầu tiên của Hồ Chí Minh, người chiến sĩ
cộng sản kiên cường, bất khuất, sống, chiến ñấu và hi sinh vì lí tưởng cộng sản, vì ñộc lập tự do của
Tổ quốc.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
18
Bài 17: PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 - 1939
HÀ HUY TẬP (1902 – 1941)
Hà Huy Tập (1902 – 1941), là nhà hoạt ñộng ðảng Cộng sản Việt Nam. Quê ở
làng Kim Nặc, nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Năm
1923, tốt nghiệp Trường Quốc học Huế, ñược bổ dạy học. Năm 1925, tham
gia Hội Phục Việt sau ñổi thành Tân Việt. Cuối 1928, ñược cử sang Quảng Châu
bàn việc hợp nhất Hội Tân Việt với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và
chuyển sang hoạt ñộng trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929,
sang Liên Xô học Trường ðại học Phương ðông của Quốc tế Cộng sản. ðầu
1934, Hà Huy Tập về Ma Cao (Trung Quốc) tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của
ðảng. Tháng 3.1935, Hà Huy Tập giữ cương vị bí thư Ban Chỉ huy ở ngoài của
ðảng Cộng sản ðông Dương, trực tiếp chủ trì ñại hội của ðảng họp ở Ma Cao,
Trung Quốc từ 27 ñến 31.3.1935. Tháng 7.1936, cùng với Lê Hồng Phong chủ trì Hội nghị I của
Ban Chấp hành Trung ương ðảng, quyết ñịnh lập Mặt trận Nhân dân phản ñế rộng rãi, sau ñổi
thành Mặt trận Thống nhất dân chủ, chống phát xít, chống phản ñộng thuộc ñiạ và tay sai, ñòi tự do,
dân chủ, cơm áo và hòa bình. Tại hội nghị này, Hà Huy Tập ñược cử giữ chức tổng bí thư Ban Chấp
hành Trung ương ðảng Cộng sản ðông Dương. Sau hội nghị, Hà Huy Tập trở về nước trực tiếp chỉ
ñạo phong trào cách mạng. ðến hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3.1938, Nguyễn Văn
Cừ giữ chức tổng bí thư ðảng, Hà Huy Tập là uỷ viên thường vụ Ban Chấp hành Trung ương ðảng.
Ngày 1.5.1938, bị bắt và bị kết án tù. Hết hạn tù bị trục xuất về nguyên quán. Ngày 30.3.1940, bị
bắt lại và giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Ngày 25.3.1941, bị Pháp buộc tội là người chịu trách nhiệm
tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và kết án tử hình. Ngày 28.8.1941, bị bắn tại Hóc Môn (Gia
ðịnh). Tác giả nhiều bài viết trên tờ "Tranh ñấu" (La Lutte). Tác phẩm: "Sơ thảo lịch sử phong trào
cộng sản ðông Dương" (bút danh Hồng Thế Công); "Trôtxkit và phản cách mạng" (bút danh Thanh
Hương). Hà Huy Tập là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, ñã hi sinh anh dũng vì nền ñộc lập, tự
do của ñất nước, vì lí tưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
19
Bài 18: PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 1939 - 1945
NGUYỄN VĂN CỪ (1912 – 1941)
Nguyễn Văn Cừ (1912 – 1941), nhà hoạt ñộng xuất sắc của ðảng Cộng sản
Việt Nam. Quê ở làng Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1926,
tham gia lễ truy ñiệu Phan Châu Trinh và bị ñuổi học. Gia nhập Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên và trở thành ñảng viên ðông Dương Cộng sản ðảng
(1929). Hoạt ñộng tại vùng mỏ, phụ trách các chi bộ ðảng ở Mạo Khê, Cửa
Ông, Cẩm Phả (những năm 1929 - 30). Bị bắt, bị kết án tù chung thân
(1.1931), giam ở Hoả Lò; sau ñó, bị ñày ñi Côn ðảo (ñến 1932). Tích cực
tham gia các lớp học lí luận cách mạng ñược bí mật tổ chức trong nhà tù; phụ
trách tờ báo “Người tù ñỏ”; viết bài cho tạp chí “Ý kiến chung”. Năm 1936, ra
tù; trở về Hà Nội, tiếp tục hoạt ñộng, tham gia khôi phục Xứ uỷ Bắc Kỳ. Năm
1937, tham gia Xứ uỷ Bắc Kỳ, trực tiếp lãnh ñạo phong trào Mặt trận Dân chủ. Uỷ viên thường vụ
Ban Chấp hành Trung ương ðảng Cộng sản ðông Dương (9.1937). Tháng 3.1938, ñược cử làm
tổng bí thư của ðảng. Cuối 1938, hoạt ñộng ở Sài Gòn và bị trục xuất. Tác phẩm “Tự chỉ trích” với
bút danh Trí Cường, “Tự do dân chủ với nhân dân ðông Dương” với bút danh Trí Thành. Chủ trì
Hội nghị VI của Ban Chấp hành Trung ương ðảng (11.1939) ở Hóc Môn, Gia ðịnh, hội nghị quyết
ñịnh nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng ñầu, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc
Phản ñế. Bị bắt (1.1940) và bị thực dân Pháp kết án tử hình. Bị bắn ở Hóc Môn (28.8.1941).
Nguyễn Văn Cừ là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, ñã cống hiến trọn ñời mình cho sự
nghiệp cách mạng của ðảng và nhân dân ViệtNam.
ĐỘI CUNG (? – 1941)
Đội Cung (? - 1941), tên thật là Trần Công Cung, là người lãnh ñạo và chỉ huy cuộc khởi nghĩa ðô
Lương 1941 (binh biến ðô Lương) . Là ñội lính khố xanh trong Lực lượng Cảnh sát ñặc biệt
Toàn ðông Dương. Quê ở Thanh Hoá. Ngày 8.1.1941, từ Vinh (Nghệ An) lên thay ñồn trưởng Chợ
Rạng, ñã giác ngộ 11 lính dưới quyền làm binh biến (13.1.1941). Bị Pháp bắt 10.4.1941 và bị xử tử
cùng 10 nghĩa quân.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
20
Bài 19: CAO TRÀO KHÁNG NHẬT CỨU NƯỚC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG 8 NĂM
1945. NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA RA ðỜI
TRẦN TRỌNG KIM (1883 – 1953)
Trần Trọng Kim (1883 – 1953), là một học giả danh tiếng, thủ tướng của ðế quốc Việt
Nam (1945), tác giả của Việt Nam Sử Lược.
Trần Trọng Kim, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ
thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã ðan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất thân trong một gia ñình Nho giáo, ông học chữ Hán từ nhỏ. Năm 1897, ông học Trường Pháp-
Việt Nam ðịnh, học chữ Pháp. Năm 1900, ông thi ñỗ vào Trường thông ngôn và ñến 1903 thì tốt
nghiệp. Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương
mại ở Lyon, sau ñược học bổng vào trường Thuộc ñịa Pháp. Năm 1909, ông vào học trường Sư
phạm Melun và tốt nghiệp ngày 31 tháng 7 năm 1911 rồi về nước. Ông lần lượt dạy Trường trung
học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm.
Ông giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: Thanh tra Tiểu học (1921),
Trưởng ban Soạn thảo Sách Giáo khoa Tiểu học (1924), dạy Trường Sư phạm thực hành 1931,
giám ñốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1939). Trần Trọng Kim còn là Phó trưởng ban Ban
Văn học của Hội Khai trí tiến ñức và Nghị viên Hội ñồng Dân biểu Bắc Kỳ. Một năm sau khi ông
về hưu (1943), Nhật Bản kéo vào ðông Dương và bí mật ñưa ông cùng Dương Bá Trạc ra nước
ngoài. 1945, ông ñược ñưa về nước. Từ thập niên 1910 ñến thập niên 1940, ông cũng viết nhiều
sách về sư phạm và lịch sử.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật ñảo chính Pháp, ñộc chiếm thuộc ñịa ðông Dương. ðể tranh thủ sự
ủng hộ của người Việt, Nhật tuyên bố "trao trả ñộc lập" cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945,
triều ñình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền
Việt Nam. Trần Trọng Kim ñược giao thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 năm 1945. ðây
là chính phủ ñầu tiên của nước Việt Nam "ñộc lập" trên danh nghĩa và Trần Trọng Kim trở
thành Thủ tướng ñầu tiên của Việt Nam.
Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim ñặt quốc hiệu là ðế quốc Việt Nam; ñặt quốc thiều
là bài "ðăng ñàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu ñỏ thẫm".
Chính phủ Trần Trọng Kim thực chất vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân ñội Nhật chiếm ñóng ðông
Dương, vì vậy có nhiều người cho rằng ñây chỉ là một chính phủ bù nhìn thân Nhật và không có
ñược sự ủng hộ của dân chúng. Khi quân Nhật ñầu hàng ðồng Minh, chính phủ Trần Trọng
Kim c
ũng chỉ tồn tại ñược ñến ngày 23 tháng 8 năm 1945 thì sụp ñổ. Tuy nhiên, trong thời gian
ngắn ngủi, chính phủ này cũng ñã làm ñược một việc quan trọng là thống nhất về mặt danh nghĩa
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
21
ñất Nam Kỳ vào ñất nước Việt Nam; và thay chương trình học bằng tiếng Pháp sang chương trình
học bằng tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn biên soạn. Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan Anh ñã
thành lập ñoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên tiền tuyến ñã ñào tạo
ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
Sau khi Việt Minh giành ñược chính quyền và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ñược thành lập,
Trần Trọng Kim lưu vong ra nước ngoài. Sau nhiều năm tháng long ñong ở Quảng Châu và Hồng
Kông, ngày 6 tháng 2 năm 1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh ðình Thảo.
Năm 1948, ông qua Phnom Penh và sống với người con gái. Sau ñó, ông lại trở về Việt Nam sống
thầm lặng và mất tại ðà Lạt vào ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi.
Trần Trọng Kim ñược ñánh giá là một học giả uyên thâm cả tân học và cựu học, là người tận tụy
cho ngành giáo dục Việt Nam ñầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân
tộc - bảo hoàng. Tác phẩm Việt Nam sử lược ñược ñánh giá là một trong những quyển sử Việt Nam
có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, ñược tái bản nhiều lần.
BẢO ĐẠI (1913 – 1997)
Bảo Đại là niên hiệu của vua Nguyễn Vĩnh Thụy (1913 - 1997), vị vua thứ 13 và cuối cùng triều
Nguyễn, con vua Khải ðịnh. Năm 1922, ñược phong ðông cung hoàng thái tử, rồi sang Pháp du
học. Sau khi vua Khải ðịnh chết (1925), trở về nước nối ngôi, lấy niên hiệu Bảo ðại từ 1.1926, lại
tiếp tục sang Pháp học. Năm 1932, trở về nước chấp chính. Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi,
Bảo ðại thoái vị; ñược giữ chức cố vấn tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng
9.1946, tham gia phái ñoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giao hảo với Chính phủ Tưởng
Giới Thạch (Jiang Jieshi). Nhân chuyến ñi này, Bảo ðại ở lại Trung Quốc, sống ở Hồng Kông
(Hongkong). Sau ñó, ñược Pháp ñưa về làm quốc trưởng của chính quyền thân Pháp trong vùng bị
tạm chiếm. Sau Hiệp ñịnh Giơnevơ về ðông Dương (1954), bị Ngô ðình Diệm phế truất (10.1955).
Từ ñó, Bảo ðại sống lưu vong ở Pháp.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
22
VÕ NGUYÊN GIÁP (1911)
Võ Nguyên Giáp (sinh 1911), nhà hoạt ñộng nổi tiếng của ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam,
nhà chỉ huy và nhà lí luận quân sự xuất sắc của Việt Nam. Quê ở xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh
Quảng Bình. Sớm hoạt ñộng cách mạng, tham gia lãnh ñạo phong trào học sinh Huế (1925), tham
gia Tân Việt Cách mạng ðảng. Bị thực dân Pháp bắt (1930), ñưa về quê quản thúc. Ra Hà Nội, tham
gia hoạt ñộng trong phong trào Mặt trận dân chủ. Tham gia sáng lập báo "Lao ñộng", "Tiếng nói
chúng ta"; biên tập báo "Tin tức", "Dân chúng". Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào
ðông Dương ñại hội. Gia nhập ðảng Cộng sản ðông Dương (1940). Gây dựng cơ sở cách mạng, tổ
chức Việt Minh ở Cao Bằng (1941); tổ chức Ban Xung phong Nam tiến (1942). ðược lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc giao tổ chức ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (12.1944); chỉ huy ñội ñánh thắng
hai trận ñầu ở Phai Khắt (25.12.1944) và Nà Ngần (26.12.1944). Uỷ viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng
Bắc Kỳ, tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân, uỷ viên Ban Chỉ huy Lâm thời khu giải phóng Việt Bắc,
tham gia Uỷ ban Khởi nghĩa Toàn quốc, uỷ viên Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (8.1945).
Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, sau ñó là uỷ viên thường vụ Ban Chấp hành Trung ương ðảng
(1945). Bộ trưởng Bộ Nội vụ, bí thư ðảng ðoàn Chính phủ (8.1945). Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội
(4.1946), phó trưởng ñoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ñàm phán với Pháp tại Hội nghị
trù bị ðà Lạt (1946). Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương ðảng các khoá II - VI; uỷ viên Bộ Chính trị
các khoá II - IV. Bí thư Tổng Quân uỷ, sau này là Quân uỷ Trung ương (1946 - 77).
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1946 - 47), ñại tướng (1948), tổng chỉ huy Quân ñội Quốc gia và Dân
quân Việt Nam, tổng tư lệnh Quân ñội Nhân dân Việt Nam (ñến 1975); uỷ viên Hội ñồng Quốc phòng
(1948). Trong Kháng chiến chống Pháp, trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn, ñặc biệt là Chiến dịch
ðiện Biên Phủ (1954). Trong Kháng chiến chống Mĩ, chỉ ñạo nhiều chiến dịch lớn, ñặc biệt là Chiến
dịch Hồ Chí Minh (1975).
Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1955 - 80). Phó chủ tịch Hội ñồng Bộ trưởng (1981 -
91). ðại biểu Quốc hội các khoá I - VII.
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
23
Bài 20: NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TỪ SAU 2-9-1945 ðẾN TRƯỚC 19-12-1945
NGUYỄN HẢI THẦN (1878 – 1959)
Nguyễn Hải Thần (1878(?) – 1959) là một nhà cách mạng chống Pháp, người sáng lập và lãnh
ñạo Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách). Nguyễn Hải Thần tên thật là Vũ Hải Thu,
quê quán ở Hà Nội (làng ðại Từ, ðại Kim). Thuở nhỏ Nguyễn Hải Thần học chữ Hán. Hưởng
ứng phong trào ðông du ông theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc hoạt ñộng chống Pháp, hoạt
ñộng trong Việt Nam Quang phục Hội (1912-1924). Ông ñã học tại trường Chấn Vũ (Tokyo, Nhật
Bản). Nguyễn Hải Thần ñược ñưa vào Trường Võ bị Hoàng Phố và trở thành giảng viên môn chính
trị tại trường này. Ông còn nổi tiếng với nghề thầy bói.
Khoảng năm 1912 – 1913 Nguyễn Hải Thần về nước mưu sát Toàn quyền ðông Dương Albert
Sarraut nhưng không thành, ông quay trở lại Trung Quốc.Ngày 13 tháng 3 năm 1915, Nguyễn Hải
Thần cùng Hoàng Trọng Mậu và Phan Sào Nam mộ quân từ Quảng Tây ñánh ñồn Tà Lùng, Lạng
Sơn. Sự việc cũng thất bại.Năm 1927, Nguyễn Hải Thần lãnh ñạo ñảng "Việt Nam toàn quốc cách
mạng" ở Quảng ðông.
Năm 1936, Nguyễn Hải Thần ñược Hồ Học Lãm, một nhà yêu nước ñang làm võ quan trong quân
ñội Tưởng Giới Thạch, mời lên Nam Kinh tham gia thành lập Việt Nam ðộc lập ðồng minh Hội,
gọi tắt là Việt Minh. Năm 1940, ông cộng tác với lực lượng Việt Nam Kiến quốc quân của Trần
Trung Lập tấn công Pháp ở ðồng ðăng, Lạng Sơn gần biên giới Trung–Việt.
Khoảng năm 1940 ông cùng Lý ðông A lập ðảng Duy dân. Năm 1941, Nguyễn Hải Thần hoạt
ñộng ở Tĩnh Tây, (Quảng Tây, Trung Quốc). Tháng 10 năm 1942 tại Liễu Châu (Trung Hoa),
Nguyễn Hải Thần cùng với Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Nông Kinh Du, sáng lập Việt Nam
Cách mệnh ðồng minh Hội gọi tắt là Việt Cách.
Tháng 9 năm 1945 Việt Cách về nước theo 200.000 quân Trung Hoa Dân quốc do tướng Lư
Hán chỉ huy sang với danh nghĩa giải giới quân ñội Nhật. Theo hồi ký của Võ Nguyên Giáp,
Nguyễn Hải Thần cho người ñi rải truyền ñơn ở Hà Nội, dùng loa phóng thanh tuyên truyền Việt
Minh là ñộc tài và ngồi trên xe ô tô con, trên nóc xe có hai lính gác nằm với khẩu trung liên, hai
lính khác ngồi phía trước cầm tiểu liên ñi thị uy trên ñường phố Hà Nội. Tướng Tiêu Văn của Trung
Hoa Dân quốc ñòi Hồ Chí Minh phải dàn xếp với Việt Cách và cho ñại diện của Việt Cách có hai
ghế cao cấp trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại phiên họp ngày 27 tháng 9 năm
1945, Hội ñồng Chính phủ ñã bàn bạc và nhất trí ñể Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch Chính
phủ. Ngày 23 tháng 10, Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần ký thỏa ước chấp nhận hai bên ñoàn kết
và hợp tác, nhưng sau ñó ít ngày thỏa thuận trên bị bãi bỏ. ðầu năm 1946 Việt Cách tham gia Quốc
hội Liên hiệp và Chính phủ Liên hiệp của Việt Minh. Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch
trong Chính phủ Liên hiệp này, ñồng thời là ñại biểu Quốc hội ñặc cách không qua bầu cử của
nhóm Việt Cách. Tháng 7 năm 1946, khi tranh chấp giữa Việt Minh và các phe phái ñối lập xảy ra,
Việt Minh tấn công lực lượng của Việt Cách. Nguyễn Hải Thần phải bỏ trốn sang Trung Quốc.
Năm 1947 ông lấy vợ thứ hai ở Trung Quốc tên là Hao Hai Le. Nguyễn Hải Thần mất
năm 1959 Quảng Châu (Trung Quốc).
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
24
XANHTƠNI (1907 – 1978)
Jean Sainteny (1907 – 1978), nhà hoạt ñộng chính trị, nhà ngoại giao Pháp.
ðứng ñầu phái ñoàn quân sự Pháp tại Trung Quốc (1945), ñại diện của Cộng
hoà Pháp tại Miền Bắc ViệtNam (10.1945 - 12.1947). Thay mặt phía Pháp kí
Hiệp ñịnh sơ bộ 6.3.1946 với Việt Nam, trong ñó Pháp công nhận Việt Nam
là một quốc gia tự do và nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Giữ quan ñiểm
nhất quán nước Pháp cần phải giải quyết cuộc chiến tranh ðông Dương
thông qua thương lượng. Sau Hiệp ñịnh Giơnevơ 1954, là tổng ñại diện của
Pháp tại Bắc Việt Nam. Dẫn ñầu ðoàn ðại biểu Phái bộ Pháp sang
Việt Nam tìm hiểu tình hình và gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh (1962). Viết
một số sách báo về Việt Nam, tiêu biểu là 2 tác phẩm: "Lịch sử của một
nền hoà bình bị bỏ lỡ", "ðông Dương 1945 - 1947".
Nhân v
ật lịch sử Việt Nam lớp 12
Sưu tầm
25
Bài 21: NHỮNG NĂM ðẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN
PHÁP (1946 – 1950)
TRƯỜNG CHINH (1907 – 1988)
Trường Chinh tên thật là ðặng Xuân Khu (1907 – 1988), nhà hoạt ñộng xuất
sắc của ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, nhà lí luận, nhà báo lớn
Việt Nam. Quê ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam ðịnh. Học
Trường Cao ñẳng Thương mại Hà Nội. Tham gia ñấu tranh ñòi thực dân Pháp ân
xá Phan Bội Châu (1925), lãnh ñạo bãi khoá truy ñiệu Phan Châu Trinh (1926).
Gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1927). Vận ñộng thành lập
ðông Dương Cộng sản ðảng (1929), uỷ viên Ban Tuyên truyền Cổ ñộng Trung
ương ðảng Cộng sản ðông Dương (1930). Bị thực dân Pháp bắt, kết án 12 năm
tù cầmcố, ñày ñi Sơn La (1930). ðược trả tự do, về hoạt ñộng hợp pháp và nửa
hợp pháp ở Hà Nội (1936 - 39). Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, phụ trách tuyên truyền, báo chí, chủ bút báo
"Giải phóng" (1940). Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương ðảng, bí thư lâm thời của ðảng (11.1940).
Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương (5.1941), trưởng ban Tuyên huấn, chủ bút báo "Cờ giải phóng"
và "Tạp chí cộng sản". Năm 1943, bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Chủ trì Hội nghị thường
vụ Trung ương (mở rộng), ra Chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành ñộng của chúng ta" (3.1945). Dự
Hội nghị toàn quốc của ðảng ở Tân Trào, phụ trách Uỷ ban Khởi nghĩa Toàn quốc. Uỷ viên Uỷ ban
Dân tộc Giải phóng Việt Nam (8.1945). Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá II - V. Tổng bí thư Ban Chấp
hành Trung ương ðảng (2.1951 - 10.1956 và 7.1986 - 12.1986). Phó thủ tướng Chính phủ kiêm chủ
nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1958). Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1960 - 81). Giám
ñốc Trường Nguyễn Ái Quốc (1961 - 66). Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử ðảng, trưởng ban Lí luận
của Trung ương, chủ tịch Uỷ ban Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội (1976). Chủ tịch Hội ñồng Nhà
nước và Hội ñồng Quốc phòng nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1981 - 87). Cố vấn Ban
Chấp hành Trung ương, phó trưởng ban Soạn thảo Cương lĩnh và Chiến lược Kinh tế kiêm trưởng
ban Soạn thảo Cương lĩnh của ðảng (12.1986 - 8.1988). ðại biểu Quốc hội các khoá II - VII.
Các tác phẩm chủ yếu: "ðề cương văn hoá Việt Nam", "Cách mạng tháng Tám", "Kháng chiến nhất
ñịnh thắng lợi", "Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam", "Bàn về cách mạng Việt Nam", "Thực hiện
cải cách ruộng ñất", "Phương châm chiến lược của ðảng ta", "Nắm vững mối quan hệ giữa chiến
tranh và cách mạng ở Việt Nam ñể hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước", "Cách
mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa", vv. Huân chương Sao vàng và nhiều huân
chương cao quý khác.
Cuộc ñời hoạt ñộng của Trường Chinh gắn liền với quá trình cách mạng Việt Nam từ những năm 20
ñến những năm 80 thế kỉ 20. Trường Chinh là một trong những người lãnh ñạo xuất sắc, mẫu mực,
góp phần rất quan trọng vào sự lãnh ñạo của ðảng, ñưa cách mạng ñến thắng lợi.