Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Kỹ Thuật trồng điều

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (338.61 KB, 29 trang )

NGUYỄN VĂN TUYẾN
GIÚP NHÀ NƠNG LÀM GIÀU
KỸ THUẬT TRỒNG
ĐIỀU
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
13 14
LI ÍCH KINH TẾ TỪ CÂY ĐIỀU
Điều (đào lộn hột) là loại cây nhiệt đới thích
nghi rộng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất
sét, thòt, cát, đất bạc màu đến đất có nhiều sỏi
đá, do đó điều có tiềm năng phát triển trên
nhiều vùng trồng khác nhau trong cả nước.
Trồng điều không cần phải đầu tư nhiều nhưng
mang lại kinh tế cao, đây là cây thích hợp để
cải thiện kinh tế cho nông hộ nghèo.
Để việc trồng điều đạt hiệu quả kinh tế cao,
đòi hỏi bà con phải nắm bắt được kỹ thuật
trồng, chăm sóc và phòng trò sâu bệnh. Những
kiến thức trình bày trong sách đã được chúng
tôi sưu tầm và nghiên cứu từ nhiều nguồn tài
liệu quý giá, sau đó chắc lọc những kiến thức
cần thiết rồi biên soạn thành sách với mục đích
là giúp bà con có thêm kinh nghiệm để trồng
điều đạt hiệu quả cao.
Hy vọng quyển sách sẽ mang lại nhiều điều
bổ ích cho bà con nông dân.
13 14
PHẦN 1
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC
CỦA CÂY ĐIỀU
I. GIỚI THIỆU


Điều có tên khoa học là Anacardium
occidentale L.
Thuộc họ Anacardinaceae; Bộ: Rutales.
Điều còn có tên là đào lộn hột, là cây nhiệt
đới có nguồn gốc xuất xứ từ Brasil, đến thế kỷ
16 được người Bồ Đào Nha đưa vào trồng ở Ấn
Độ và Mozambique với mục đích che phủ đất,
chống xói mòn cho vùng đất dọc duyên hải,
đến thế kỷ 19 thì được phát triển trồng rộng
rãi nhưng vẫn là cây che đất.
Sau đó cây điều đã được phát triển trồng ở
nhiều nước trên thế giới gồm châu Á, châu Phi
và châu Mỹ Latin và trở thành loại cây cho
hạt nhân buôn bán càng lúc càng rộng rãi trên
thế giới.
Tại châu Á, điều từ Ấn Độ phát triển sang
các nước Indonesia và Đông Nam Á. Cây điều
được du nhập trồng tại Việt Nam ở miền Đông
Nam Bộ khoảng 80 năm trước và hiện nay
được trồng nhiều ở các tỉnh Bình Phước, Bình
Dương, Đồng Nai, Bình Thuận và các tỉnh dọc
theo duyên hải Miền trung.
Là loại cây nhiệt đới thích nghi rộng trên
nhiều loại đất khác nhau từ đất sét, thòt, cát,
đất bạc màu đến đất có nhiều sỏi đá, do đó
điều có tiềm năng phát triển trên nhiều vùng
trồng khác nhau ở các tỉnh phía Nam. Không
13 14
cần phải đầu tư nhiều nên là cây thích hợp để
cải thiện kinh tế cho nông hộ nghèo.

Điều có nguồn dinh dưỡng cao, thích hợp cho
khẩu vò nhiều người, hạt điều còn được chế biến
thành nhiều loại thức ăn khác nhau. Phân tích
thành phần dinh dưỡng trong 100 g hạt điều
cho thấy chứa 785 calorie, 21 % protein, 64 %
acid béo no và không no, 41 % chất đường bột
và nhiều chất khoáng và vitamin khác nhau,
đặc biệt giàu Calcie, sắt và phospho.
II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
ĐIỀU TRÊN THẾ GIỚI
1. Tình hình sản xuất điều
Là loại cây cho hạt ăn được xếp đứng hạng
3 trên thế giới, với sản lượng chiếm khoảng 2
triệu tấn/năm, xuất khẩu hạt điều đạt khoảng
1,2 triệu tấn. Được trồng chủ yếu ở 3 vùng trên
thế giới là Nam Mỹ, châu Phi và châu Á. Ấn
Độ và Brazil là nước sản xuất điều quan trọng
chiếm thò phần xuất khẩu 60% và 31% lượng
xuất khẩu trên thế giới.
Giữa thập niên 70, châu Á trở thành khu vực
dẫn đầu sản xuất điều trên thế giới, hiện nay
chiếm hơn 50% tổng sản lượng điều hàng năm,
Ấn Độ là nước có sản lượng cao nhất chiếm 40%
sản lượng xuất khẩu trên thế giới và chiếm 80 -
90% ở khu vực châu Á. Việt Nam và Indonesia
bắt đầu nổi lên là những nước phát triển sản
suất điều từ sau năm 1990 đến nay, kế đến là
Thái Lan, Malaixia và Srilanka…
Sản xuất điều ở Việt Nam phát triển nhanh
hơn thập niên qua, chiếm khoảng 6% sản

lượng của khu vực châu Á, và trở thành nước
đứng hàng thứ 3 trong sản xuất điều ở châu Á,
sau Ấn Độ và Indonesia. Trước kia Việt Nam
xuất khẩu hạt điều thô cho Ấn Độ để chế biến,
nhưng sau đó ngành chế biến hạt phát triển
với nhu cầu cho hạt thô hiện nay khoảng
220.000 tấn hạt/năm. Do đó hàng năm để phục
vụ cho các nhà máy chế biến, Việt Nam trở
thành nước nhập khẩu hạt điều thô từ các nước
châu Phi và Đông Nam Á.
2. Tình hình tiêu thụ hạt điều
Hạt điều chế biến là sản phẩm chính của
điều, do có hàm lượng dinh dưỡng và năng
lượng cao, nên là thực phẩm được ưa chuộng
trên thế giới, nhu cầu tiêu thụ hạt điều gia tăng
13 14
nhanh hơn thập niên qua. Hoa Kỳ là nước tiêu
thụ hạt điều lớn nhất thế giới, chiếm hơn 50%
sản lượng, kế đến là các nước EU và Nhật.
III. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY ĐIỀU
Là cây vùng nhiệt đới, cây lâu năm có chiều
cao trong điều kiện tự nhiên khoảng 12m, tán
rộng đến 25 m. Thích ứng rộng trong điều kiện
khắc nhiệt khác nhau, cây có thể phát triển ở
nhiệt độ cao và hạn chế ở nhiệt độ thấp, vùng
nhiệt đới có thể trồng trên vùng cao nguyên,
tuy nhiên không nên trồng khi cao độ tính từ
mặt biển hơn 500m. Do bộ rễ phát triển nên
cây có thể chống chòu khô hạn tốt, cây có thể
phát triển tốt trên vùng có lượng mưa hằng

năm từ 800 - 3.200 mm. Hoặc đất đai bạc màu,
đất cát, đất có nhiều sỏi đá. Cây có thể cho
trái sau 4 -5 năm nếu trồng từ hạt và 3 năm
trồng từ cây ghép.
1. Rễ: Hệ thống rễ gồm rễ cái và rễ ngang
phát triển rất mạnh lan rộng và ăn sâu giúp
cây có thể lấy được nước và dinh dưỡng ở tầng
đất sâu. Tuy nhiên khả năng phát triển của rễ
điều còn lệ thuộc vào cơ cấu đất và mực nước
ngầm trong đất.
2. Lá: Thuộc loại lá đơn, khi lá mới nở còn non
có màu xanh nhạt hoặc hồng sau đó chuyển
dần sang xanh thẩm khi già, là cơ quan quang
hợp tạo chất dự trữ cho cây, quyết đònh năng
suất đạt được, số lượng lá khoẻ mạnh trên cây
nhiều là yếu tố cần thiết.
3. Hoa: Thuộc loại hoa chùm, phát triển ở đầu
cành, hoa có màu hồng nhạt, hoa nhỏ gồm 2
loại hoa đực và hoa lưỡng tính, tỉ lệ hoa đực và
lưỡng tính thay đổi nhiều phụ thuộc vào môi
trường và giống. Hoa trỗ vào mùa mưa tháng
11, thời gian ra hoa kéo dài 2-3 tháng.
4. Trái: Thuộc loại trái nhân cứng (hạt điều),
là phần phát triển từ bầu noãn sau khi thụ
phấn sẽ phát triển nhanh và đạt kích thước
trung bình dài 2,6 – 3,1 cm; ngang 2 – 2,3 cm,
còn phần trái giả phát triển sau từ đế hoa.
Thời gian trái phát triển kéo dài từ 2-3 tháng.
13 14
IV. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI

1. Thời tiết khí hậu
1.1 Ánh sáng: Điều là loại cây ưa ánh sáng
trực xạ, nếu cây bò che bóng nhiều sẽ phát
triển kém, cho năng suất thấp.
1.2 Nhiệt độ: nhiệt độ bình quân tháng là
27
0
C, nhiệt độ cực tiểu trong ngày từ 12 –
25
0
C, nhiệt độ cực đại trong ngày từ 25
0
C -
35
0
C. Điều có thể chòu được nhiệt độ 40
0
C, tuy
nhiên ở nhiệt độ này trong giai đoạn phát
triển quả non sẽ làm rụng bông và quả.
1.3 Ẩm độ: Ẩm độ không khí từ 68-77%.
Cây điều trổ bông và kết hạt thuận lợi trong
điều kiện ẩm độ không khí thấp. Nếu ẩm độ
cao trong lúc điều trổ bông sẽ cản trở sự mở
của bao, đầu nhụy không thụ phấn, bông sẽ
thối rụng.
1.4 Lượng mưa: Lượng mưa thích hợp từ
1000-1500mm/năm, tập trung từ 4-6 tháng, có
mùa khô kéo dài tương đương.
Trong năm cần có mùa mưa và mùa khô rõ

rệt để tạo điều kiện cho cây phân hóa mầm hoa.
2. Đất trồng điều
Cây điều có tính thích ứng rộng, sống trên
nhiều loại đất khác nhau, đặc biệt cây điều
được trồng nhiều trên đất có khó khăn về
nguồn nước tưới trong mùa khô.
Tốt nhất nên trồng điều trên vùng đất
thoát nước, đất pha cát, tầng canh tác sâu.
Độ pH thích hợp từ 4,5-6,5.
Cây điều rất mẫn cảm với độ mặn, độ mặn
từ 0,8ppm trở lên là cây sinh trưởng phát triển
kém, gây hiện tượng cây lùn.
13 14
PHẦN 2
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM
SÓC CÂY ĐIỀU
I. GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
1. Giống
Một số giống phổ biến được Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT)
công nhận và nhân rộng, đạt hiệu quả cao,
giống cho năng suất cao và ổn đònh thích hợp
với điều kiện sinh thái của Đông Nam Bộ như
giống PN
1
, MH
4/5
, MH
5/4


2. Kỹ thuật nhân giống
Hiện nay có nhiều phương pháp nhân giống,
nhưng phương pháp ghép đọt có hiệu quả nhất.
2.1. Tiêu chuẩn cây đầu dòng (cây mẹ)
- Đã được cơ quan chức năng công nhận;
- Năng suất đạt trên 15kg hạt/cây/năm (ổn
đònh hàng năm).
- Trọng lượng hạt từ 120 - 160 hạt/kg.
- Tỷ lệ hạt/nhân từ 27% trở lên.
- Chín sớm, chín tập trung, không sâu bệnh.
* Lưu ý: Chọn ở những vườn từ 8 năm tuổi,
chọn nơi có mật độ 100 cây/ha.
2.2. Tiêu chuẩn gốc ghép
Tuổi gốc từ 60-70 ngày, có đường kính gốc
từ 0,7cm trở lên, không sâu bệnh. Cây con gieo
từ hạt trong bầu nilon có kích thước 15 x 25cm.
Đất pha cát + 10% phân hữu cơ hoai mục + 3-5
gram Supe lân. Trước khi gieo ươm, chọn
những hạt chắc, ngâm trong nước 48 giờ, sau
rửa sạch rồi ủ khi mọc mầm gieo ươm.
2.3. Tiêu chuẩn chồi ghép (phải lấy ở cây
đầu dòng)
Cành ghép lấy từ cây đã chọn đạt tiêu
chuẩn, không bò sâu bệnh, chồi bánh tẻ (màu
13 14
nâu nhạt), chiều dài 8-10cm, cành ghép phải
tươi khi ghép, lấy xong phải ghép liền, càng
nhanh càng tốt (không để qua đêm) hoặc nếu
nguồn chồi lấy ở xa phải được bảo quản giữ ẩm
tốt. Thời vụ ghép thích hợp nhất vào tháng 5-8

dương lòch.
Thao tác ghép: Trên gốc ghép chừa lại 2 cặp
lá, cắt ngọn ở vò trí cách 2 cặp lá chừa lại từ 5-
10 cm, cắt vạt một đường dài 4 cm. Trên cành
ghép phía dưới gốc, cắt vạt một đường dạng
hình nêm dài 4 cm. Đặt cành ghép vào gốc
ghép, dùng giây nilon (tốt nhất dùng giây
nilon tự hủy) cuốn cố đònh (cuốn chặt) kín vết
ghép và ngọn ghép, không để nước mưa, nước
tưới lọt vào vết ghép.
2.4. Chăm sóc cây ươm và cây ghép
Xếp cây thành luống, tưới nước giữ ẩm
thường xuyên, chú ý ghép xong để cây ra ngoài
nắng, không nên che bóng mát.
Khi chồi đã phát triển khỏe, đủ tiêu chuẩn
có thể đem đi trồng. Trong quá trình chăm sóc
cần đánh tỉa chồi gốc ghép thường xuyên, lưu ý
phòng bệnh lở cổ rễ ở giai đoạn vườn ươm.
2.5. Tiêu chuẩn cây ghép xuất vườn
Khi cây ghép ra 1 đợt lá mới hoàn chỉnh,
sinh trưởng phát triển khỏe, không sâu, bệânh,
có bộ rễ phát triển tốt, có thể đưa đi trồng.
II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
1. Thiết kế vườn trồng
Vườn bằng phẳng, trồng theo hướng Bắc Nam.
Vườn có độ dốc thì trồng theo đường đồng mức.
Cự ly trồng 10 x 5m hoặc 10 x 6m (đất xấu
trồng dầy, đất tốt trồng thưa). Mật độ trồng
200 cây/ha hoặc 170 cây/ha. Hố trồng đào có
kích thước 50 x 50 x 50cm.

Đào hố trước khi trồng 20-30 ngày. Bón lót
phân hữu cơ 10-20kg + 0,7kg Supper lân + 0,2-
0,5kg vôi trộn với lớp đất mặt, lấp xuống hố,
sau 15-20 ngày đem cây giống đi trồng.
2. Kỹ thuật trồng
- Chuẩn bò đất trồng: Điều là loại cây thích
ứng rộng, nên có thể trồng trên nhiều loại chất
đất khác nhau như đất đỏ bazan, đến đất xám
13 14
bạc màu, đất cát giồng ven biển, đất sét nhiều
gley hoặc đất sỏi đá. Trên vùng đất dốc khi
thiết lập vườn cần chú ý trồng theo đường đồng
mực và giữ thảm thực vật để tránh hiện tượng
xói mòn. Trên vùng đất thấp nên chú trọng
thoát nước trong mùa mưa để không ảnh hưởng
đến bộ rễ.
Đối với đất khai hoang để trồng, tiến hành
dọn bỏ những cây gỗ, lùm bụi cho mặt đất
trống sẵn sàng để trồng. Độ pH từ 6,3 -7,3.
- Thời vụ trồng: Có thể trồng quanh năm tuy
nhiên nên tập trung vào 2 vụ đầu mùa mưa và
sau mùa mưa (ở vùng Duyên hải Nam trung bộ
vào đầu mùa mưa khoảng từ tháng 9 – 10 hàng
năm). Trồng vào đầu mùa mưa cho những vùng
không chủ động được nước tưới, cần chú ý
phòng trừ cỏ dại phát triển do trong mùa mưa
lấn át cây con và thoát nước tốt tránh vườn bò
ngập úng. Trồng sau mùa mưa sẽ giúp cây có
điều kiện ánh sáng để phát triển tốt và ít bò cỏ
dại tấn công, cần phải tưới nước bổ xung và tủ

gốc giữ ẩm.
- Mật độ trồng cây: Tùy theo độ phì nhiêu
của đất mà có thể trồng điều với mật độ 100-
300 cây/ha. Trong điều kiện canh tác bình
thường trồng mật độ thích hợp nhất 200
cây/ha, khoảng cách 6m x 8m. Khi cây giao tán
thì tiến hành tỉa thưa và giữ ở mật độ cố đònh
khoảng 100 cây/ha. Nếu thâm canh tốt bằng
phân bón đầy đủ và tỉa cành tốt, giai đoạn đầu
có thể trồng dày để tận dụng đất và có năng
suất cao khi cây bắt đầu cho trái. Khoảng cách
trồng 4 m x 4 m, 5 m x 5 m hoặc 4 m x 6 m
(mật độ 625, 400 và 416 cây/ ha), cho đến năm
8 - 9 tỉa bớt để giữ lại mật độ 8 m x 8 m, 10 m
x 10 m hoặc 6 m x 8m.
Đối với vùng đất xấu như vùng đất cát ven
biển và vùng đất trống đồi núi trọc ở Duyên
hải Nam trung bộ, giữ mật độ 200 hay 300
cây/ha với khoảng cách 6-8m hay 5-6,5m.
- Cách trồng: Đào một lỗ nhỏ giữa hố đã
bón lót, rạch bỏ bầu nilon, cắt rễ già, rễ xoắn.
Đặt cây giữa hố, mặt bầu cây con ngang mặt
đất hoặc thấp hơn một chút (khoảng 5-10cm)
dùng tay lấp đất, nén nhẹ quanh bầu để khỏi
vỡ bầu và vun đất xung quanh giữ cây. Dùng
cây cắm, cột giữ yên cây không để gió lay gốc.
Không có mưa thì phải tưới. Những năm đầu
nên trồng xen cây họ đậu.
13 14
3. Phân bón và kỹ thuật bón phân

3.1. Phân bón
- Thời kỳ xây dựng cơ bản:
Bón phân 3 lần/năm (có điều kiện bón 4-
6 lần/năm với điều kiện có tưới nước trong
mùa khô).
Trước khi bón phân phải làm cỏ xới gốc.
Sau khi bón lấp đất, tránh mất phân.
- Thời kỳ kinh doanh:
Lượng phân bón như sau:
Nếu đất chua thì bón thêm vôi, với lượng từ
500-1000kg/ha/năm.
Bón làm 4 đợt trong năm:
+ Tháng 5 (dương lòch): Dùng 200kg urê +
200kg Lân + 40kg Kali;
+ Tháng 8: Dùng 170kg urê + 300kg Lân +
50kg Kali;
+ Tháng 11: Dùng 150 kg urê + 300kg Lân
+ 60kg Kali;
+ Sau tượng trái: Dùng 130 kg Urê + 50kg
Kali.
3.2 Tưới nước kết hợp với bón phân vô cơ
qua đường ống
Mỗi lần bón phân đều cho vào bồn chứa
phân hòa tan rồi mở hệ thống tưới tiết kiệm
nước cho phân theo nước đến từng gốc cây.
Sau khi đậu trái, bón số phân còn lại cũng
theo hệ thống tưới tiết kiệm nước.
Cây Điều nếu được tưới nước năng suất sẽ
tăng lên đáng kể, mang lại hiệu quả của phân
bón rất cao.

Các ưu điểm của phương pháp tưới nước tiết
kiệm và bón phân qua đường ống:
+ Tiết kiệm lượng nước tưới;
+ Tiết kiệm dầu tưới;
+ Tiết kiệm công tưới;
+ Tiết kiệm công làm bồn;
+ Tăng hiệu quả của việc bón phân;
+ Tăng năng suất và chất lượng trái.
- Tùy vào điều kiện cụ thể, nhà vườn có thể
lấp đặt hệ thống tưới nước và bón phân qua
đường ống theo 1 trong 3 mô hình sau:
13 14
* MÔ HÌNH 1
Căn cứ vào hướng dẫn các đợt bón phân vô
cơ trong quy trình kỹ thuật, mỗi đợt bón phân,
lượng phân bón được hòa vào hệ thống tưới 3 –
5 lần, mỗi lần cách nhau 7 - 10 ngày, chia nhỏ
lượng phân ra các lần bón, như thế sẽ góp
phần giảm thất thoát phân bón, nâng cao hiệu
quả sử dụng phân bón của cây trồng.
Pha phân: Khi bón phân cho cây, phân bón
được ngâm trước 1 ngày, thường xuyên khuấy
đều khi ngâm phân để hòa tan hoàn toàn lượng
phân cần tưới vào bồn dung dòch phân (không
nên sử dụng các loại phân khó tan).
Nguyên tắc hoạt động:
- Khi vận hành máy bơm, dưới lực hút của
máy nước từ giếng và dung dòch phân trong
bồn chứa sẽ được hút vào máy bơm và được
khuấy đều trong hệ thống và ra các vòi tưới

cho cây. Chúng ta có thể thay đổi lượng phân
bón trước khi đi vào trong máy bằng khóa
điều chỉnh.
- Từ máy bơm, một lượng lớn nước chứa
phân được đưa đến bộ lọc (tránh nghẹt bét) rồi
đến ống cấp 1. Nếu nước trong bồn bò cạn thì
hệ thống sẽ ngưng hoạt động.
- Từ ống cấp 1m nước chứa phân được đưa
đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào
từng gốc cây.
- Ống cấp 2 được đặt dọc theo các hàng cây,
trên các ống cấp 2 này chúng a lắp đặt hệ
thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước
vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước
cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra
các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh
lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có đòa
hình không đồng đều, đồi dốc
* MÔ HÌNH 2
Nguyên tắc hoạt động:
- Khi vận hành máy bơm, dưới lực đẩy của
máy nước từ giếng và dung dòch phân trong
bồn chứa sẽ được hòa đều trong hệ thống và ra
các vòi tưới cho cây. Chúng ta có thể thay đổi
lượng phân bón trước khi đi vào trong hệ
thống bằng khóa điều chỉnh. Từ máy bơm,
phần lớn nước còn lại sẽ được hòa với dung
13 14
dòch phân trong đường ống rồi đến bộ lọc
(tránh nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1.

- Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến
các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào từng
gốc cây.
- Ống cấp 2 được đặt dọc theo các hàng cây,
trên các ống cấp 2 này chúng ta lắp đặt hệ
thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước
vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước
cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra
các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh
lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có đòa
hình không đồng đều, đồi dốc
* MÔ HÌNH 3
Nguyên tắc hoạt động:
- Nước và dung dòch phân từ các bồn chứa
sẽ được hòa đều trong đường ống, đến bộ lọc
(tránh nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1 và ra
các vòi tưới cho cây. Chúng ta có thể thay đổi
lượng phân bón trước khi đi vào trong hệ
thống bằng khóa điều chỉnh.
- Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến
các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào từng
gốc cây.
- Ống cấp 2 được đặt dọc theo các hàng cây,
trên các ống cấp 2 này chúng ta lắp đặt hệ
thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước
vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước
cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra
các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh
lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có đòa
hình không đồng đều, đồi dốc

Chú ý:
- Bồn chứa nước phải cao để đủ áp lực nước.
- Bồn chứa dung dòch phân cũng phải cao để
nước tưới không bò đẩy ngược lại bồn chứa phân.
4. Trồng cây phủ đất
Có ý nghóa quan trọng trong điều kiện mưa
nhiều, đất đai có độ dốc. Mặt khác trong mùa
khô thảm phủ đất cũng góp phần giảm sự bốc
thoát hơi nước trên lớp đất mặt.
Giữ ẩm trong mùa nắng bằng rơm rạ khô
và cách gốc khoảng 20cm. Biện pháp này cũng
13 14
tránh được cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm
rạ phân hủy sẽ cung cấp cho đất một lượng
dinh dưỡng đáng kể. Trong thời kỳ kiến thiết
cơ bản nên trồng cây phủ đất để tránh bò xói
mòn đất. Trong khoảng thời gian từ năm 1 đến
năm thứ 4 có thể trồng xen canh với một số
loại cây họ Đậu, Bắp, Rau màu, một số nơi có
thể trồng một số loại cỏ để chăn nuôi bò. Thu
nhập từ các loại cây này góp phần rút ngắn
thời gian thu hồi vốn đầu tư cho sản xuất.
Trong điều kiện không trồng các loại cây kể
trên thì nhà vườn có thể trồng các loại cỏ phủ
đất như cỏ lá gừng, hay các loài cỏ họ đậu thấp
cây khác. Trong quy trình này chúng tôi giới
thiệu hai loại cỏ họ đậu phủ đất (Kudzu và đậu
Mucuna) được trồng phủ đất trồng Cao Su rất
có hiệu quả.
4.1. Quy trình trồng cỏ Kudzu và đậu

Mucuna
Kudzu và đậu Mucuna có thể trồng phủ đất
cho cây công nghiệp dài ngày và cây ăn trái,
có khả năng phát triển được trên nhiều loại
đất. Hai loại cỏ này gieo trồng vào đầu mùa
mưa (tháng 5-6).
4.1.1 Giống và xử lý hạt giống
- Hạt giống trước khi gieo phải được sàng
lọc để loại bỏ hạt xấu.
- Xử lý hạt giống: khâu này rất quan trọng,
cần thực hiện đúng cách và đúng thời gian.
+ Kudzu: ngâm nước ấm 70
0
C (2 phần nước
sôi + 1 phần nước lạnh) qua đêm (12 giờ) rồi
gieo vào ngày hôm sau.
+ Mucuna: ngâm nước 70
0
C (2 phần nước sôi
+ 1 phần nước lạnh) trong 5 phút, sau đó cho
thêm một phần nước lạnh ngâm tiếp qua đêm
rồi gieo.
Lưu ý: khi ngâm hạt, phải đổ nước ngập hết
phần hạt giống cần gieo.
4.1.2 Chuẩn bò đất: đất phải được dọn sạch
cỏ dại, cày bừa cho tơi xốp trước khi trồng cây
Điều kết hợp gieo hạt giống cỏ họ đậu.
Đối với đậu Kudzu chỉ trồng một lần, các
năm sau đậu sẽ tự tái sinh vào mùa mưa, đối
13 14

với đậu Mucuna nếu có cày vùi vào đất vào cuối
mùa mưa thì cần phải làm đất lại trước khi
gieo hạt giống.
4.1.3 Mật độ khoảng cách
Cuốc lỗ để gieo theo mật độ quy đònh, sau
đó phủ lên bề mặt một lớp đất tơi xốp.
Chú ý: với Kudzu không gieo quá sâu, tránh
cho hạt khó nẩy mầm.
4.1.4 Chăm sóc
- Thảm phủ sau khi trồng từ 15- 20 ngày
tiến hành làm cỏ đợt một, sau 40 - 45 ngày
làm cỏ đợt 2.
- Riêng đậu Kudzu tốc độ tăng trưởng chậm
do đó có thể làm cỏ đợt 3 khoảng 60 ngày sau
khi gieo.
- Nếu đậu sinh trưởng kém có thể xòt bổ
sung phân urea (nồng độ 1%).
- Khi cỏ đậu phát triển, phát dọn ngọn cỏ
theo các trường hợp sau:
* Vườn cây năm thứ 1: chỉ để cỏ phát
triển bên ngoài thành bồn (đường kính bồn
1m), không cho đậu quấn vào cây ăn trái làm
ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây
ăn trái.
* Vườn năm thứ 2 trở đi: tiếp tục để cho cỏ
đậu phát triển nhưng chú ý thường xuyên phát
dọn ngọn cỏ ở thành và trong bồn (đường kính
khoảng 1 mét) tránh cho leo quấn cây ăn trái.
- Trong thời gian sinh trưởng đậu Mucuna
thường bò châu chấu phá hoại trên lá. Phòng

trừ bằng xòt thuốc Bassa, Applan, Sumialpha…
- Đối với đậu Kudzu, thời gian ra hoa bò rệp
sáp phá hại rất nặng, giai đoạn kết trái,
nhiễm nặng nhất thường là bò sâu đục trái,
phòng trừ bằng thuốc Basudin, Bi 58…
4.1.5 Thu hoạch
+ Đậu Mucuna có thể thu hoạch tháng 11-12
dương lòch khi lớp thảm phủ bắt đầu rụi hết,
trái thu về phơi khô, tách hạt bảo quản.
13 14
+ Đậu Kudzu thu hoạch chậm hơn, có thể
vào tháng 1- 3 năm sau. Đậu Kudzu thu hoạch
phần lớn trái già đã chuyển sang màu vàng (do
trái tự nẻ khi vỏ đã khô) dùng liềm cắt nguyên
phần trái đưa về phơi từ 2 - 3 nắng, đập vỏ lấy
hạt bảo quản.
4.2. Những lưu ý khi trồng cỏ phủ đất
- Những năm đầu của thời kỳ kiến thiết cơ
bản trong vườn cây ăn trái cần ưu tiên trồng
xen các loại cây họ đậu như: đậu xanh, đậu
phộng, đậu nành hoặc các loại cỏ hòa thảo mọc
thấp dùng trong chăn nuôi gia súc, ngoài mục
đích làm thảm phủ đất còn tăng hiệu quả sản
xuất với mục tiêu “lấy ngắn nuôi dài”.
Cỏ họ đậu Kudzu trồng thảm phủ có nhiều
hiệu quả trên cây cao su. Tuy nhiên nếu trồng
làm thảm phủ trong vườn cây ăn trái cần lưu ý
các vấn đề chính như sau:
- Hai loại cỏ họ đậu trên có khả năng sinh
trưởng mạnh, mức độ bò leo quấn vào cây

trồng trong vườn lớn, vì vậy phải thường xuyên
làm cỏ quanh gốc để hạn chế bò leo làm ảnh
hưởng đến cây trồng.
- Đối với cỏ họ đậu Kudzu không tàn lụi
trong mùa nắng vì vậy cần lưu ý dọn sạch cỏ
cách xa gốc để tránh cạnh tranh nước tưới với
cây trồng khác trong mùa nắng.
- Cỏ họ đậu không có khả năng phát triển
được khi vườn cây ăn trái khép tán, cho nên
khi cây trồng đã khép tán phải nghó đến
phương pháp phủ đất khác.
5. Tỉa cành tạo tán
Sau khi thu hoạch vào tháng 5-6, cắt bỏ
cành sâu bệnh, cành giáp tán, cành giữa tán
(cành tăm ), dùng kéo (chuyên dùng), cưa để
cắt tỉa.
Sau thu hoạch 7-8 năm, cành giáp tàn, có
thể chặt bỏ 1 cây, khoảng cách còn 10x10 m
hoặc 10x12 m.
Không cắt cành vào những ngày mưa, tránh
nấm bệnh xâm nhập qua vết cắt, tỉa.
Những cành lớn sau khi cắt phải quét sơn
hoăc dùng Bordeaux 1% xòt lên vết cắt.
13 14
III. KỸ THUẬT THU HÁI
1. Xác đònh độ chín của hạt và trái
Thu trái phải dựa trên nguyên tắc thu được
nguyên liệu (hạt, trái) có chất lượng cao nhất.
Muốn vậy phải phân biệt chín thu hoạch với
chín sinh lý. Chín sinh lý chủ yếu mới hoàn

thành giai đoạn phát triển phôi và chức năng
bảo vệ chưa được kiện toàn. Còn chín thu
hoạch thường hoàn thành sau giai đoạn chín
sinh lý. Khi các biến đổi hóa sinh trong hạt đã
kết thúc, lượng chất khô đã ổn đònh, lượng
nước trong hạt giảm thấp nhất. Hạt bắt đầu
chuyển sang trạng thái ngủ, và vỏ hạt đã đủ
cứng, có tính năng bảo vệ tốt. Do đó thu hoạch
vào giai đoạn này đảm bảo chất lượng nguyên
liệu nhất.
Nhưng khó khăn là cần xác đònh được chính
xác giai đoạn chín để có quyết đònh thu hái mà
không cần phải làm các phương pháp phân
tích hóa học. Các nhà phân loại hình thái đã
có đóng góp trong lónh vực này, sau khi đã
phối hợp với các nhà hóa học tìm mối liên hệ
giữa biến đổi chất lượng nguyên liệu với sự
thay đổi về hình thái, màu sắc, kích thước và
trọng lượng của hạt và trái trong quá trình
phát triển và tới chín hoàn toàn. Vì thế chín
thu hoạch cũng được xác đònh trực tiếp bằng
chín hình thái. Khi hạt chín hoàn toàn, vỏ có
màu xám sáng bóng và trái có màu đỏ, hồng
hay vàng tùy từng giống, mọng nước, da láng
bóng và có mùi thơm ngát đặc trưng của trái
đào lộn hột.
2. Phương pháp thu hái
Việc thu hái hạt và trái phải thật chín mới
đảm bảo chất lượng và giúp cho việc bảo quản
hạt và chế biến hạt dễ dàng.

Tùy theo diện tích thu hái nhiều hay ít hoặc
khả năng bảo vệ chống mất mát (hái, nhặt
trộm nguyên liệu) người ta có thể chọn một
trong hai phương pháp sau:
a) Thu hái trên cây
Khi diện tích nhỏ hoặc số cây có ít, đặt biệt
cần thu hạt của một số giống tốt mọc xen với
nhiều loại khác, thì cách tốt nhất là thu hái
trên cây khi hạt chín hoàn toàn. Có thể dùng
tay hay bồng (một loại sào đầu có móc và rổ
13 14
chứa hạt) để hái. Phương pháp thu hoạch này
thường tốn công, nhưng không sợ lẫn hạt
giống, không sợ mất mát và thu hoạch cả trái
lành lặn.
b) Thu nhặt dưới đất
Là phương pháp thu phổ biến ở các cơ sở
trồng đào lộn hột lớn trên thế giới. Khi trái
chín mọng tự động rơi xuống đất. Công nhân
hàng ngày tới từng gốc cây đã được dọn sạch
cỏ, nhặt trái từ đất ngắt lấy hạt, còn trái tập
trung thành đống cho bộ phận chế biến trái
(nước giải khát, rượu thực phẩm, thức ăn gia
súc) lượm về sử dụng hàng ngày. Trường hợp
thiếu nhân lực có thể vài ngày tới gốc cây nhặt
hạt một lần không sợ hạt biến phẩm chất,
nhưng trái đã thối rữa, chỉ có thể được dùng
làm phân bón.
IV. BẢO QUẢN HẠT
1. Làm sạch và phơi nắng

Sau khi thu hái phải làm sạch phần thòt
trái đã dính ở cuống hạt, và có thể rửa nước
cho thật sạch. Sau đó đem phơi hạt ngoài nắng
2-3 ngày cho thật khô (bấm móng tay vào vỏ
hạt không có vết) rồi dùng sàng (rổ sàng 1 cm)
loại bỏ những dò vật lẫn trong hạt. Hạt được sơ
bộ phân hạng theo 3 loại kích thước và trọng
lượng: lớn, trung bình và nhỏ, cũng như loại bỏ
các hạt xấu, lép sâu bệnh trước khi đóng bao
chuyển vào kho.
2. Kho bảo quản
Đối với gia đình có lượng hạt ít, chỉ cần
phơi khô cho vào bao bố để nơi khô thoáng
mát là được. Còn các cơ sở trồng lớn cần phải
có kho bảo quản trước khi chuyển đến xí
nghiệp chế biến hoặc đơn vò thu mua. Riêng
trái chín muốn dự trữ để chế biến dòch chiết,
nước giải khát hoặc các loại rượu phải có kho
lạnh bảo quản.
Kho bảo quản hạt phải được xây dựng nơi
cao ráo, mát mẻ. Móng kho phải chắc, nền cao,
tường dày và có điều kiện thông gió.
13 14
Dụng cụ để hạt có thể là bao bố, hòm gỗ,
thùng thiếc và kê cao khỏi mặt nền kho ít
nhất 30-40 cm.
Riêng đối với hạt giống cần có bao bì riêng
cho từng loại thậm chí cho từng cây, tốt nhất
đựng trong các thùng có nắp đậy kín. Nếu hạt
lưu kho, để tự nhiên chỉ 6 tháng sau là giảm

khả năng nẩy mầm.
Kho phải quét dọn khô ráo, thường xuyên
kiểm tra sâu bệnh và được sát trùng đònh kỳ.
Thuốc sát trùng thường dùng là Bêkaphốt
(Gastoxin), thành phần chính của Bêkaphốt là
photphua nhôm 66%, hơi photphua rất độc đối
với sâu, mọt và chuột nhưng cũng rất nhanh bò
oxy hóa thành axit metaphotphoric hoặc axit
photphoric, nên thời gian hiệu lực ngắn (9-10
ngày). Thuốc ít độc với người, gia súc và không
làm ảnh hưởng hương vò của hạt. Lượng thuốc
12-20g cho 1m
3
hạt. Trong khi xử lý thuốc cần
bòt kín kho trong 3 ngày đêm, sau đó được xả
hơi thuốc trong 10-12 giờ và chôn bã thuốc.
13 14
PHẦN 3
SÂU BỆNH VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỪ
I. SÂU HẠI
1. Bọ xít muỗi đỏ: Helopeltis antonii
Là loài sâu hại nghiêm trọng ở hầu hết các
khu vực trồng điều ở nước ta.
a) Nhận dạng
- Bọ trưởng thành có màu nâu đỏ, đầu đen,
ngực đỏ, bụng trắng.
- Trứng rất nhỏ, hình bàu dục, màu trắng
trong. Ấu trùng không có cánh, mình thon dài,
đuôi nhọn màu hồng nhạt.

b) Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bọ trưởng thành hoạt động sáng sớm hoặc
chiều mát, ngày âm u ít nắng hoạt động cả
ngày. Muỗi cái đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm
3-4 trứng trên ngọn hoặc lá non. Trứng đẻ sâu
trong cây để lộ ra các sợi lông dài. Một con cái
đẻ 30-50 trứng, mỗi lần đẻ khoảng 10 trứng.
Thường xuất hiện lúc cây ra cành non, nụ
bông và tập trung cao nhất lúc cây trổ bông.
Trưởng thành và ấu trùng dùng vòi chích hút
nhựa ở lá non, chồi non, hoa, trái và hạt non.
Các vết chích chảy nhựa màu trắng trong, sau
tạo thành những chấm màu đen. Nhiều vết chích
liên kết lại với nhau tạo thành vết sẹo, nếu bò
nặng thì chồi và chùm hoa có thể chết khô, lá bò
xoăn biến dạng. Hạt non bò chích trên vỏ có các
đốm vảy màu nâu đen, rụng sớm hoặc giảm kích
thước và phẩm chất. Nguy hại hơn nữa là các vết
chích của bọ xít muỗi là nơi xâm nhập gây hại
của một số loài nấm như Gleosporium sp,
Colletotrichum sp, Phomospsis sp.
c) Biện pháp phòng trừ
Vệ sinh vườn điều, dọn sạch cỏ dại, hun
khói vào sáng sớm hoặc chiều tối.
13 14
Phun thuốc vào lúc cành non phát triển
nhiều (tháng 10 dương lòch), lúc cây bắt đầu ra
bông (tháng 12) và lúc trái non ra rộ (tháng 2-
3). Nếu mật độ bọ xít cao nên phun lúc sáng
sớm hoặc chiều mát. Các loại thuốc trừ sâu

như Dibamerin 10EC, Cyperan 10EC, Karate
2.5EC, Tiper 25EC, Phironin 50SC, Permecide
50EC đều có hiệu quả trừ bọ xít muỗi.
Ngoài cây điều bọ xít muỗi còn gây hại trên
cây chè, ca cao, thầu dầu. Vì vậy nếu chung
quanh vườn điều có trồng các loại cây trên thì
phải phòng chống đồng thời để tiêu diệt đồng
loạt, nhất là khi có dòch bọ xít muỗi.
2. Sâu đục ngọn (vòi voi đục thân)
a) Nhận dạng
- Trưởng thành dài 10-12mm, màu nâu đen,
trên cánh cứng có nhiều chấm lõm nhỏ, đầu
nhỏ và kéo dài về phía trước.
- Trứng hình bầu dục, dài 1mm, màu trắng
sữa. Sâu non màu trắng ngà, đầu màu nâu.
- Nhộng trần có mầm vòi rõ, màu trắng ngà.
b) Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bọ trưởng thành chậm chạp, ít bay, có tính
giả chết khi bò động. Bọ dùng vòi đục vào nõn
non để đẻ trứng vào đó, sâu non nở ra đục sâu
vào nõn, đùn phân ra cửa lỗ đục. Ngọn bò sâu
đục khô héo.
Sâu phát sinh quanh năm trên vườn điều,
gây hại nhiều vào thời kỳ cây ra nõn nhiều.
c) Biện pháp phòng trừ
- Cắt bỏ các chồi bò hại, tập trung tiêu hủy
để diệt sâu non và nhộng.
- Khi cây điều ra đọt nhiều hoặc phát hiện
có sâu non thì phun thuốc Sherbush 25ND,
Tungmectin 1.9EC.

3. Xén tóc nâu: Plocaederus obesus
a) Nhận dạng
- Trưởng thành là loài cánh cứng, thân dài
35-45mm, màu nâu đen, bao phủ lớp lông nhung
mòn. Râu dài hơn thân, cong về phía sau. Trứng
hình bàu dục, dài 5mm, màu trắng ngà.
13 14
- Sâu non mới nở màu trắng ngà, đầu màu
nâu. Nhộng trần màu nâu vàng, dài 45mm.
c) Tập quán sinh sống và cách gây hại
Trưởng thành hoạt động ban ngày, ít bay.
Trứng đẻ rải rác trên vỏ thân và cành cây,
thường ở các kẽ nứt của vỏ. Sâu non mới nở
đục vào phần vỏ mềm ăn mô vỏ, lớn lên sâu
đục vào phần gỗ bên trong tạo thành đường
hầm nhiều ngõ ngách. Nhựa cây cùng với phân
mùn của sâu đùn ra từ lỗ đục. Một cây có thể
bò nhiều sâu non gây hại. Sâu non sống và phá
hại trong thân tới 6-7 tháng, khi lớn sâu đục
ra phần vỏ cây hóa nhộng.
Sâu đục trong thân, cành và cả rễ làm cây
sinh trưởng kém, lá vàng úa, cành bò khô chết.
Cây còn nhỏ bò hại có thể chết.
c) Biện pháp phòng trừ
- Do sâu đục bên trong thân và rễ cây nên
rất khó trò, cần chú ý phát hiện sâu ngay lúc
mới đục ở phần vỏ, bóc chỗ vỏ có sâu đục để
diệt sâu. Nếu thấy trên thân chảy mủ màu
trắng, gạt lớp mủ sẽ thấy lỗ sâu đục, dùng dây
kẽm moi theo đường đục để diệt sâu hoặc trộn

thuốc trừ sâu với đất sét trét vào lỗ đục. Bắt
nhộng, sâu non và trứng bằng tay cũng hạn
chế được thiệt hại do xén tóc.
- Quét vôi lên gốc thân từ 1 m trở xuống
vào đầu mùa khô (tháng 12 dương lòch) để
phòng sâu đục thân đẻ trứng gây hại.
4. Bọ tró
a) Nhận dạng
- Bọ trưởng thành rất nhỏ, dài 1 - 1,5mm.
cơ thể hẹp, đuôi nhọn, màu nâu hoặc đen, cánh
dạng sợi, chung quanh có nhiều lông tơ. Bọ non
hình dạng giống trưởng thành, không cánh,
màu trắng sữa hoặc vàng nhạt.
- Phát hiện bọ tró bằng cách rũ chùm bông
điều lên trên một tờ giấy trắng, nếu có bọ tró
sẽ rơi xuống tờ giấy và di chuyển rất nhanh.
c) Tập quán sinh sống và cách gây hại
- Bọ tró xuất hiện khi cây điều ra bông, đẻ
trứng trong mô mặt dưới lá. Cả ấu trùng và
trưởng thành tập trung ở mặt dưới lá, trên
chùm bông chích hút nhựa cây làm lá biến
màu và nhăn, bông điều bò cháy khô có màu
nâu vàng, rụng nhiều.
13 14
- Thiệt hại do bọ tró thường đi đôi với thiệt
hại do bệnh thán thư, cần phân biệt kỹ để có
biện pháp phòng trò đạt hiệu quả.
- Trên những vườn điều ra bông muộn
thường bò gây hại nặng. Nhất là vườn điều xả
nhò sau Tết nguyên đán.

c) Biện pháp phòng trừ
- Chăm sóc cây.
- Có thể xử lý các loại thuốc trừ sâu như đối
với bọ xít muỗi. Phun trước khi điều xả nhò.
5. Nhóm sâu gây hại lá
Gồm rất nhiều loài: sâu róm đỏ, sâu đục
nõn, sâu bao, châu chấu xanh và sâu đục lá còn
gọi là sâu phỏng lá, thường xuất hiện sau mùa
thu hoạch và mùa mưa, gây thiệt hại trên lá
non và cây con trong vườn ươm.
Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh vườn điều, dọn sạch cỏ dại.
- Phun khi thấy mật độ dòch hại tăng cao.
Có thể dùng các loại thuốc như phun trừ bọ
xít muỗi.
II. BỆNH HẠI
1. Bệnh thán thư
Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây
ra. Bệnh có thể gây hại trên nhiều loài cây
trồng khác nhau.
a) Triệu chứng
Nấm gây hại trên lá, chồi non, bông và
trái. Trên lá, vết bệnh ban đầu là những chấm
nhỏ màu nâu tím, sau lớn dần hơi tròn, giữa có
màu nâu xám, chung quanh viền nâu vàng.
Trên vết bệnh có những chấm đen nhỏ đó là
các ổ bào tử. Nhiều vết bệnh liên kết nhau làm
lá bò cháy khô từng mảng.
Trên cành non bệnh tạo các vết nâu làm
khô vỏ, cành héo. Bông bò bệnh biến nâu khô,

rụng nhiều. Vết bệnh trên quả là những đốm
nâu, hơi ướt, bên trong bò thối.
Bệnh nặng làm đọt và lá khô vàng, hoa và
quả thối rụng, cây sinh trưởng kém, năng suất
giảm nghiêm trọng.
b) Điều kiện phát sinh, phát triển
Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời
tiết nóng ấm, ẩm độ không khí cao. Cây chăm
sóc kém, sinh trưởng yếu, bò tác hại nặng.
13 14
c) Biện pháp phòng trừ
- Tăng cường chăm sóc vườn cây, tạo cho
vườn thông thoáng.
- Khi bệnh phát sinh, điều kiện thuận lợi
cho bệnh phát triển có thể sử dụng thuốc trừ
bệnh có hoạt chất Carbendazim như Bavitin
50WP; Carbenda 60WP, 50SC; Derosal 50SC,
60WP để phun.
2. Bệnh đốm lá nâu (vết cháy trên lá)
Bệnh do một số nấm (Phyllosticta sp,
Pestalotia sp, Phomopsis sp, Collectotrichum
sp) gây ra.
a) Triệu chứng
Bệnh phát sinh trên lá, đôi khi có trên
cành. Đầu tiên là những chấm nhỏ màu nâu
vàng sau lan rộng gây những vết cháy trên lá,
có khi đến 2/3 lá và làm rụng lá. Trên cành
vết bệnh màu nâu xám, vỏ cành bò khô, đôi khi
bệnh cũng làm khô hoa.
b) Điều kiện phát sinh, phát triển

Nấm thường phát triển nhiều trên các cây
điều thiếu dinh dưỡng, bò suy yếu. Bệnh lây lan
nhanh trong điều kiện ẩm độ không khí cao,
thiếu ánh sáng.
c) Biện pháp phòng trừ
- Cũng như đối với bệnh thán thư.
Chú ý: Phun sớm khi mới phát hiện bệnh,
phun đều lên tán lá non, chùm hoa sắp trổ.
3. Bệnh nấm hồng (mốc hồng)
Do nấm Corticium salmonicolor gây ra.
a) Triệu chứng
Trên vỏ cây ở thân hoặc cành xuất hiện
những đốm trắng, đó là những sợi nấm đan
dầy. Về sau các đốm trắng lớn dần chuyển dần
sang màu hồng, bao phủ một phần hoặc quanh
khắp vỏ cây. Trên cành bệnh thường ở chỗ
nhánh giáp với thân. Khi bệnh phát triển
mạnh, vỏ cây bò bong ra và cành bò bệnh lá
vàng và chết khô dần từ ngọn trở vào.
b) Điều kiện phát sinh, phát triển
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện
nhiệt độ cao, mưa nhiều, cây rậm rạp ít ánh
13 14
nắng. Sợi nấm và bào tử tồn tại ở các cành bò
hại, gặp điều kiện thích hợp phát triển tiếp
tục lây nhiễm.
c) Biện pháp phòng trừ
- Thực hiện vệ sinh vườn điều, tỉa bớt cành
lá vô hiệu, chặt bỏ những cành bò bệnh đem
đốt, dùng các thuốc gốc đồng bôi vào mặt cắt

để ngăn nấm xâm nhập trở lại.
- Cạo sạch các vết bệnh ở thân cây, bôi
thuốc gốc đồng.
- Ở các vùng thường bò bệnh, phun phòng
bệnh bằng các loại thuốc gốc đồng.
4. Bệnh chảy mủ thân cành
Do nhiều loại nấm Pellicularia
salmonicolor, Diplodia natalensis, Ceratocystis
sp … gây hại.
a) Triệu chứng
Khi cây bò bệnh, thân cành xuất hiện các
đường nứt dọc, chảy nhựa, lúc đầu có màu nâu
nhạt sau đen sẫm dần. Nếu bò nặêng cây suy
kiệt và chết.
b) Điều kiện phát sinh phát triển
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt
độ cao, mưa nhiều, cây rậm rạp ít ánh nắng.
c) Biện pháp phòng trừ
- Tạo vườn thông thoáng, thoát nước tốt.
- Thường xuyên phun ngừa Bordeaux 1% vào
đầu mùa mưa và quét Bordeaux 2% từ dưới đất
lên 1m.
- Khi cây bò bệnh, nên cạo sạch vết bệnh
rồi quét Bordeaux.
5. Bệnh thối cổ rễ
Bệnh do nấm Rhizoctonia sp gây hại.
a) Triệu chứng
Bệnh hại phổ biến trên cây giống ở các
vườn ương và cây điều con khi mới trồng ra
vườn sản xuất. Ở chỗ cổ rễ giáp mặt đất xuất

hiện các vết màu nâu, lúc đầu nhỏ sau lan rộng
ra xung quanh gốc, vỏ cây chỗ bò bệnh thối khô
13 14
và bong ra để trơ phần lõi gỗ cũng bò thâm
đen. Cây mới bò bệnh sinh trưởng kém, sau đó
lá vàng, sau cùng cả cây héo chết.
Một số trường hợp cùng với nấm
Rhizoctonia còn có nấm Fusarium cùng xâm
nhập gây hại làm cây mau suy yếu và chết.
b) Điều kiện phát sinh phát triển
Trong điều kiện cây sinh trưởng kém và bò
vết thương ở phần gốc thân nơi tiếp giáp với
rễ tạo thuận lợi cho nấm bệnh xâm nhập vào
cây gây hại.
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời
tiết ẩm ướt, vườn ương không thông thoáng,
đất thoát nước kém.
c) Biện pháp phòng trừ
- Xử lý đất và ruột bầu bằng Formol 40% (pha
50cc Formol với 5 lít nước phun cho 1m
2
đất).
- Chăm sóc cây con đầy đủ, tránh gây
thương tích cho cây.
- Không để ngập luống ương cây con khi
tưới. Kiểm tra thường xuyên, khi phát hiện cây
con bò bệnh thì loại bỏ ngay khỏi vườn ương.
Khi bệnh phát sinh trong điều kiện thuận lợi
cho bệnh phát triển thì dùng thuốc trừ bệnh
để phun trừ.

Để việc phòng trừ sâu bệnh cho cây điều đạt
hiệu quả cao cần tác động một số thời điểm:
- Sau thu hoạch (từ tháng 4 - 5) dọn vườn,
cắt tỉa và đốt các cành bò sâu bệnh.
- Thời kỳ điều ra chồi non (từ tháng 7 - 11)
giai đoạn này điều ra từ 1 - 3 đợt chồi, xuất
hiện một số sâu bệnh như nhóm sâu ăn lá,
bệnh thán thư, nếu mức gây hại nặng thì mới
phun thuốc phòng trừ.
- Thời kỳ điều ra hoa đậu trái (tháng 12 -
3). Đây là giai đoạn phòng trừ sâu bệnh quan
trọng nhất và có hiệu quả kinh tế cao nhất
trong năm, giai đoạn này thường xuất hiện bọ
xít muỗi phá hại nặng và bệnh thán thư gây
khô cành non, bông và rụng trái non.
- Bọ xít muỗi chích hút mở đường cho nấm
bệnh xâm nhập gây hại như là tác nhân thứ
cấp. Do đó để phòng trừ có hiệu quả nên kết
13 14

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×