Basic
Network
Management
Tài liệu chuyên đề mạng căn bản.
Trung tâm Đào tạo Tiên Phong
52 Quang Trung, TP. Quảng Ngãi
Tel: 0553-715.168 Fax: 0553-715.169
Website:
Năm 2010
GV: Bùi Vương Long
MCSE,CCNA,MAC OS
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
2
Mục lục
Chương 1: Mạng Máy Tính 5
I. Định nghĩa Mạng Máy Tính 5
II. Lịch sử Mạng máy tính 5
III. Tại sao cần có mạng? 6
IV. Phân loại mạng máy tính 7
1. Mạng cục bộ LAN (Local Area Network) 7
2. Mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network) 7
3. Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network) 8
4. Mạng Internet 8
V. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng 8
VI. Các mô hình xử lý mạng 10
1. Mô hình xử lý m
ạng tập trung 10
2. Mô hình xử lý mạng phân phối 10
3. Mô hình xử lý mạng cộng tác 11
VII. Các mô hình quản lý mạng 11
1. Workgroup 11
2. Domain 11
VIII. Các mô hình ứng dụng mạng 11
1. Mạng ngang hàng ( peer to peer ) 11
2. Mạng khách chủ (Client – Server) 12
IX. Kiến trúc mạng cục bộ 13
1. Hình trạng mạng (Network Topology) 13
2. Mạng hình sao (Star) 13
3. Mạng trục tuyến tính ( Bus ) 13
4. Mạng hình vòng ( Ring ) 14
Chương 2: TCP/IP VÀ ĐỊA CHỈ IP 14
I. Giao thức IP 14
1. Tổng quát 14
2. Các giao thức trong mạng IP 15
3. Các b
ước hoạt động của giao thức IP 15
II. Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP 16
III. Tổng quan về địa chỉ IP 20
IV. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan: 21
V. Giới thiệu các lớp địa chỉ 22
1. Lớp A 22
2. Lớp B 23
3. Lớp C 24
4. Lớp D và E 24
5. Ví dụ cách triển khai đặt địa chỉ IP cho một hệ thống mạ
ng 24
6. Chia mạng con (subnetting) 25
7. Địa chỉ riêng (private address) và cơ chế chuyển đổi địa chỉ mạng (Network Address
Translation –NAT ) 27
Chương 3: CÁC THIẾT BỊ MẠNG 27
I. Card giao tiếp mạng (NIC – Network Interface Card) 27
1. Khái niệm 27
2. Các chức năng chính của NIC 28
3. Giới thiệu các dạng NIC hiện nay đang được sử dụng 28
II. Transceiver 31
III. Repeater 31
IV. Hub 32
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 3
V. Bridge 33
VI. Switch 35
VII. Router 36
VIII. Brouter 37
IX. Gateway 38
X. Modem 38
XI. Các phương tiện truyền dẫn 39
1. Các loại Cáp 40
2. Môi trường Vô tuyến 46
Chương 4: THIẾT KẾ MẠNG LAN 47
I. Các vấn đề cần lưu ý 47
II. Những yêu cầu chung của việc thiết kế mạng 47
III. Khảo sát hiện trạng 47
1. Sơ
đồ cấu trúc các phòng của toà nhà 48
2. Cách phân phối các máy tính 48
3. Mô hình Logic các phòng máy 49
4. Sơ đồ vật lý 50
5. Lựa chọn mô hình mạng 50
6. Thiết bị phần cứng 51
Chương 5: MẠNG DIỆN RỘNG & Wi-fi 54
Phần 1: Các dịch vụ mạng diện rộng 54
I. Mạng chuyển mạch (Circuit Swiching Network) 54
II. Mạng thuê bao (Leased line Network) 56
1. Phương thức ghép kênh theo tần số 56
2. Phương thức ghép kênh theo thời gian 57
III. Mạng chuyển gói tin (Packet Switching NetWork) 57
Phần 2: Các công nghệ
mạng diện rộng 58
I. Tổng quan về ISDN 58
1. Nguyên lý ISDN 58
2. Sự phát triển của ISDN 59
3. Giao diện người sử dụng 59
4. Mục tiêu của ISDN 60
5. Lợi ích từ ISDN 60
II. Tổng quan về FrameRelay 61
1. FrameRelay một công nghệ tiên tiến 62
2. FrameRelay có phải là một công nghệ cuối cùng? 62
3. Các lý do để sử dụng FrameRelay 63
III. Tổng quan về Wi-fi 64
Chương 6: BẢO MẬT MẠNG 67
I. Virus 67
II.
Các loại Virus 67
1. Virus Boot 67
2. Virus File 68
3. Virus Macro 68
4. Con ngựa Thành Tơ-roa - Trojan Horse 68
III. Bức Tường lửa 69
IV. PC-Cillin 70
1. Giới thiệu tác dụng phần mềm PC-cillin 70
2. Cài đặt phầm mềm PC-cillin 70
3. Sử dụng chức năng firewall, Network virus Emergency Centre và URL filter của PC-cillin
71
Chapter 7: Hướng dẫn cài đặt phòng Net (Sử dụng mạng ngang hàng) 73
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
4
I. Yêu cầu 73
II. Lắp đặt 73
1. Lắp đặt cáp trong mạng 73
2. Lắp đặt thiết bị chống sét 74
3. Lắp đặt bộ lọc 74
4. Lắp đặt máy điện thoại và Modem 74
III. Cài đặt Modem và máy tính (xây dựng mạng ngang hàng) 74
1. Cài đặt cho máy tính 74
2. Cấu hình modem Zyxel 76
Chương 8: Tổng quan mô hình OSI 78
I. Giới thiệu 78
1. Tổ Chức Tiêu Chuẩn&Hệ Mở OSI(Open Systems Interconnection Reference Model)78
II. Mô Hình Tham Chiếu OSI 79
III.
Khái Niệm Các Tầng OSI 82
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 5
Chương 1: Mạng Máy Tính
I. Định nghĩa Mạng Máy Tính
Mạng máy tính là một nhóm các máy tính, thiết bị ngoại vi được kết nối với nhau thông qua các
phương tiện truyền dẫn như cáp, sóng điện từ, tia hồng ngoại…giúp cho các thiết bị này có thể
trao đổi dữ liệu với nhau một cách dễ dàng.
II. Lịch sử Mạng máy tính
Vào giữa những năm 50 một số nhà chế tạo máy tính đã nghiên cứu thành công những thiết bị
truy cập từ xa tới máy tính của họ. Một trong những phương pháp thâm nhập từ xa được thực
hiện bằng việc cài đặt một thiết bị đầu cuối ở một vị trí cách xa trung tâm tính toán, thiết bị đầu
cuối này được liên kết với trung tâm bằng việc sử dụng đường dây đ
iện thoại và với hai thiết bị
xử lý tín hiệu (thường gọi là Modem) gắn ở hai đầu và tín hiệu được truyền thay vì trực tiếp thì
thông qua dây điện thoại.
Trong lúc đưa ra giới thiệu những thiết bị đầu cuối từ xa, các nhà khoa học đã triển khai một loạt
những thiết bị điều khiển, những thiết bị đầu cuối đặc biệt cho phép người s
ử dụng nâng cao
được khả năng tương tác với máy tính. Một trong những sản phẩm quan trọng đó là hệ thống
thiết bị đầu cuối 3270 của IBM. Hệ thống đó bao gồm các màn hình, các hệ thống điều khiển, các
thiết bị truyền thông được liên kết với các trung tâm tính toán. Hệ thống 3270 được giới thiệu
vào năm 1971 và được sử dụng dùng để mở rộng khả năng tính toán c
ủa trung tâm máy tính tới
các vùng xa. Ðể làm giảm nhiệm vụ truyền thông của máy tính trung tâm và số lượng các liên kết
giữa máy tính trung tâm với các thiết bị đầu cuối, IBM và các công ty máy tính khác đã sản xuất
một số các thiết bị sau:
Thiết bị kiểm soát truyền thông:
Có nhiệm vụ nhận các bit tín hiệu từ các kênh truyền thông,
gom chúng lại thành các byte dữ liệu và chuyển nhóm các byte đó tới máy tính trung tâm để xử
lý, thiết bị này cũng thực hiện công việc ngược lại để chuyển tín hiệu trả lời của máy tính trung
tâm tới các trạm ở xa. Thiết bị trên cho phép giảm bớt được thời gian xử lý trên máy tính trung
tâm và xây dựng các thiết bị logic đặc trưng.
Thiết bị kiểm soát nhiều đầ
u cuối: Cho phép cùng một lúc kiểm soát nhiều thiết bị đầu cuối.
Máy tính trung tâm chỉ cần liên kết với một thiết bị như vậy là có thể phục vụ cho tất cả các thiết
bị đầu cuối đang được gắn với thiết bị kiểm soát trên. Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi thiết bị
kiểm soát nằm ở cách xa máy tính vì chỉ cần sử dụng một đường điệ
n thoại là có thể phục vụ cho
nhiều thiết bị đầu cuối.
Hình 1.1: Mô hình trao đổi mạng của hệ thống 3270
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
6
Vào giữa những năm 1970, các thiết bị đầu cuối sử dụng những phương pháp liên kết qua đường
cáp nằm trong một khu vực đã được ra đời. Với những ưu điểm từ nâng cao tốc độ truyền dữ liệu
và qua đó kết hợp được khả năng tính toán của các máy tính lại với nhau. Ðể thực hiện việc nâng
cao khả năng tính toán với nhiều máy tính các nhà sản xuấ
t bắt đầu xây dựng các mạng phức tạp.
Vào những năm 1980 các hệ thống đường truyền tốc độ cao đã được thiết lập ở Bắc Mỹ và Châu
Âu và từ đó cũng xuất hiện các nhà cung cấp các dịnh vụ truyền thông với những đường truyền
có tốc độ cao hơn nhiều lần so với đường dây điện thoại. Với những chi phí thuê bao chấp nhận
đượ
c, người ta có thể sử dụng được các đường truyền này để liên kết máy tính lại với nhau và bắt
đầu hình thành các mạng một cách rộng khắp. Ở đây các nhà cung cấp dịch vụ đã xây dựng
những đường truyền dữ liệu liên kết giữa các thành phố và khu vực với nhau và sau đó cung cấp
các dịch vụ truyền dữ liệu cho những người xây dựng mạng. Người xây dựng mạng lúc này sẽ
không cần xây dựng lại đường truyền của mình mà chỉ cần sử dụng một phần các năng lực truyền
thông của các nhà cung cấp.
Vào năm 1974 công ty IBM đã giới thiệu một loạt các thiết bị đầu cuối được chế tạo cho lĩnh vực
ngân hàng và thương mại, thông qua các dây cáp mạng các thiết bị đầu cuối có thể truy cập cùng
một lúc vào một máy tính dùng chung. Với việc liên kết các máy tính nằm ở trong m
ột khu vực
nhỏ như một tòa nhà hay là một khu nhà thì tiền chi phí cho các thiết bị và phần mềm là thấp. Từ
đó việc nghiên cứu khả năng sử dụng chung môi trường truyền thông và các tài nguyên của các
máy tính nhanh chóng được đầu tư.
Vào năm 1977, công ty DataPoint Corporation đã bắt đầu bán hệ điều hành mạng của mình là
"Attached Resource Computer Network" (hay gọi tắt là Arcnet) ra thị trường. Mạng Arcnet cho
phép liên kết các máy tính và các trạm đầu cuối lại bằng dây cáp mạng, qua đó
đã trở thành là hệ
điều hành mạng cục bộ đầu tiên.
Từ đó đến nay đã có rất nhiều công ty đưa ra các sản phẩm của mình, đặc biệt khi các máy tính
cá nhân được sử dụng một cánh rộng rãi. Khi số lượng máy vi tính trong một văn phòng hay cơ
quan được tăng lên nhanh chóng thì việc kết nối chúng trở nên vô cùng cần thiết và sẽ mang lại
nhiều hiệu quả cho người sử dụng.
III. Tại sao cần có mạng?
Ngày nay với một lượng lớn về thông tin, nhu cầu xử lý thông tin ngày càng cao. Mạng máy tính
hiện nay trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta, trong mọi lĩnh vực như khoa học, quân sự,
quốc phòng, thương mại, dịch vụ, giáo dục Hiện nay ở nhiều nơi mạng đã trở thành một nhu
cầu không thể thiếu được. Người ta thấy được việc kết nối các máy tính thành mạng cho chúng ta
những khả năng mới to l
ớn như:
Sử dụng chung tài nguyên
: Những tài nguyên của mạng (như thiết bị, chương trình, dữ liệu) khi
được trở thành các tài nguyên chung thì mọi thành viên của mạng đều có thể tiếp cận được mà
không quan tâm tới những tài nguyên đó ở đâu.
Tăng độ tin cậy của hệ thống:
Người ta có thể dễ dàng bảo trì máy móc và lưu trữ (backup) các
dữ liệu chung và khi có trục trặc trong hệ thống thì chúng có thể được khôi phục nhanh chóng.
Trong trường hợp có trục trặc trên một trạm làm việc thì người ta cũng có thể sử dụng những
trạm khác thay thế.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác thông tin:
Khi thông tin có thể được dùng chung
thì nó mang lại cho người sử dụng khả năng tổ chức lại các công việc với những thay đổi về chất
như:
Ðáp ứng những nhu cầu của hệ thống ứng dụng kinh doanh hiện đại.
Cung cấp sự thống nhất giữa các dữ liệu.
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 7
Tăng cường năng lực xử lý nhờ kết hợp các bộ phận phân tán.
Tăng cường truy nhập tới các dịch vụ mạng khác nhau đang được cung cấp trên thế
giới.
IV. Phân loại mạng máy tính
1. Mạng cục bộ LAN (Local Area Network)
Mạng LAN là một nhóm các máy tính và các thiết bị truyền thông mạng được nối kết với nhau
trong một khu vực nhỏ như một toà nhà cao ốc, khuôn viên trường đại học, khu giải trí…
Các mạng LAN thường có các đặc điểm sau đây:
Băng thông lớn có khả năng chạy các ứng dụng trực tuyến như xem phim, hội thảo
qua mạng.
Kích thước mạng bị giới hạn bởi các thiế
t bị.
Chi phí các thiết bị mạng LAN tương đối rẻ.
Quản trị đơn giản.
Hình 1.2
2. Mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network)
Mạng MAN gần giống như mạng LAN nhưng giới hạn của nó là một thành phố hay một quốc
gia. Mạng MAN nối kết các mạng LAN lại với nhau thông qua các phương tiện truyền dẫn khác
nhau (cáp quang, cáp đồng, sóng…) và các phương thức truyền thông khác nhau.
Đặc điểm của mạng MAN :
Băng thông mức trung bình, đủ để phục vụ các ứng dụng cấp thành phố hay quốc gia
như chính phủ điện t
ử, thương mại điện tử, các ứng dụng của các ngân hàng…
Do MAN nối kết nhiều LAN với nhau nên độ phức tạp cũng tăng đồng thời việc quản
lý sẽ khó khăn hơn.
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
8
Chi phí các thiết bị mạng MAN tương đối đắt tiền.
3. Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network)
Mạng WAN bao phủ vùng địa lý rộng lớn có thể là một quốc gia, một lục địa hay toàn cầu. Mạng
WAN thường là mạng của các công ty đa quốc gia hay toàn cầu điển hình là mạng Internet. Do
phạm vi rộng lớn của mạng WAN nên thông thường mạng WAN là tập hợp các mạng LAN,
MAN nối lại với nhau bằng các phương tiện như: vệ tinh (satellites), sóng viba (microwave), cáp
quang, cáp điện thoại.
Đặc điểm của mạng WAN
:
Băng thông thấp, dễ mất kết nối thường chỉ phù hợp với các ứng dụng online như e-
mail, web, ftp…
Phạm vi hoạt động rộng lớn không giới hạn.
Do kết nối của nhiều LAN, MAN lại với nhau nên mạng rất phức tạp và có tính toàn
cầu nên thường là các tổ chức quốc tế đứng ra qui định và quản lý.
Chi phí cho các thiết bị và các công nghệ mạng WAN r
ất đắt tiền.
Hình 1.3
4. Mạng Internet:
Mạng Internet là trường hợp đặc biệt của mạng WAN, nó chứa các dịch vụ toàn cầu như Mail,
Web, Chat, FTP và phục vụ miễn phí cho mọi người.
V. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc độ đường
truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng, dạng
chuyển giao thông tin.
Địa phương hoạt động:
Liên quan đến khu vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là mạng liên kết các
máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ. Khu vực có thể bao gồm một tòa nhà hay là một khu
nhà Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của
mạng cục bộ (hạn chế đó còn là hạn chế của khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệ
u). Ngược
lại mạng diện rộng là mạng có khả năng liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 9
một thành phố, một miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hoặc nhiều
khu vực địa lý riêng biệt.
Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của mạng cục bộ được
xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó ít bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên nhiên (như là
sấm chớp, ánh sáng ). Đ
iều đó cho phép mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà
chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách
khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km. Do vậy mạng diện rộng
không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi đó tỷ lệ lỗ
i sẽ trở nên khó chấp nhận được.
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps nếu dùng
cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn nhiều
như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.
(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit được truyền
trong một giây, ví dụ
như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối đa 1 Megabit
trong 1 giây trên đường truyền đó).
Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn trong
mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 - 107
Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy trì các
đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạ
ng diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền
được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu. Tùy theo cấu
trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp
đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia. Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định
của chính phủ các khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ, vi
ệc mã hóa.
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt mạng cục bộ
thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.
Đường đi của thông tin trên mạng: Trong mạng cục bộ thông tin được đi theo con đường xác
định bởi cấu trúc của mạng. Khi người ta xác định cấu trúc của mạng thì thông tin sẽ luôn luôn đi
theo cấ
u trúc đã xác định đó. Còn với mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều
do việc sử dụng các dịch vụ truyền dữ liệu. Trong quá trình hoạt động các điểm nút có thể thay
đổi đường đi của các thông tin khi phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện
có quá nhiều thông tin cần truyền giữa hai điểm nút nào đó. Trên mạng diện rộng thông tin có thể
có các con đường đi khác nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường
truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu.
Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các mạng diện rộng hiện nay được phát triển cho việc
truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau như: video, tiếng nói, dữ
liệu Trong khi đó các mạng cục bộ chủ
yếu phát triển trong việc truyền dữ liệu thông thường.
Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng thông tin như video, tiếng nói trong một khu
vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền qua những khoảng cách lớn.
Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về chủng loại và phát
triển rất nhanh về chất. Trong sự phát triển đó số lượ
ng những nhà sản xuất từ phần mềm, phần
cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng nhanh với nhiều sản phẩm đa dạng. Chính vì
vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những ý nghĩa quan trọng. Tại các nước các cơ quan chuẩn
quốc gia đã đưa ra các những chuẩn về phần cứng và các quy định về giao tiếp nhằm giúp cho
các nhà sản xuất có thể làm ra các sản phẩm có thể kết n
ối với các sản phẩm do hãng khác sản
xuất.
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
10
VI. Các mô hình xử lý mạng
Cơ bản có 3 loại mô hình xử lý mạng bao gồm:
Mô hình xử lý mạng tập trung.
Mô hình xử lý mạng phân phối.
Mô hình xử lý mạng cộng tác.
1. Mô hình xử lý mạng tập trung:
Toàn bộ các tiến trình xử lý diễn ra tại máy tính trung tâm. Các máy trạm cuối (Terminals) được
nối mạng với máy tính trung tâm và chỉ hoạt động như những thiết bị nhập xuất dữ liệu cho phép
người dùng xem trên màn hình và nhập liệu bàn phím. Các máy trạm đầu cuối không lưu trữ và
xử lý dữ liệu . Mô hình xử lý mạng trên có thể triển khai trên hệ thống phần cứng hoặc phần
mềm được cài đặt trên Server.
Ưu đi
ểm: dữ liệu được bảo mật an toàn, dễ backup và diệt virus. Chi phí các thiết bị thấp.
Khuyết điểm: khó đáp ứng được các yêu cầu của nhiều ứng dụng khác nhau, tốc độ truy xuất
chậm.
Hình 1.4
2. Mô hình xử lý mạng phân phối :
Các máy tính có khả năng hoạt động độc lập, các công việc được tách nhỏ và giao cho nhiều máy
tính khác nhau thay vì tập trung xử lý trên máy trung tâm. Tuy dữ liệu được xử lý và lưu trữ tại
máy cục bộ nhưng các máy tính này được nối mạng với nhau nên chúng có thể trao đổi dữ liệu và
dịch vụ.
Ưu điểm: truy xuất nhanh, phần lớn không giới hạn các ứng dụng.
Khuyết điểm: dữ liệu l
ưu trữ rời rạc khó đồng bộ, backup và rất dễ nhiễm virus.
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 11
Hình 1.5
3. Mô hình xử lý mạng cộng tác:
Mô hình xử lý mạng cộng tác bao gồm nhiều máy tính có thể hợp tác để thực hiện một công việc.
Một máy tính có thể mượn năng lực xử lý bằng cách chạy các chương trình trên các máy nằm
trong mạng.
Ưu điểm: rất nhanh và mạnh, có thể dùng để chạy các ứng dụng có các phép toán lớn
Khuyết điểm: các dữ liệu được lưu trữ trên các vị trí khác nhau nên rất khó đồng bộ và backup,
khả n
ăng nhiễm virus rất cao.
VII. Các mô hình quản lý mạng
1. Workgroup
Trong mô hình này các máy tính có quyền hạng ngang nhau và không có các máy tính chuyên
dụng làm nghiệp vụ cung cấp dịch vụ hay quản lý. Các máy tính tự bảo mật và quản lý tài
nguyên của riêng mình. Đồng thời các máy tính cục bộ này cũng tự chứng thực cho người dùng
cục bộ.
2. Domain
Ngược lại với mô hình Workgroup, mô hình Domain thì việc quản lý và chứng thực người dùng
mạng tập trung tại máy tính Primary Domain Controller. Các tài nguyên mạng cũng được quản lý
tập trung và cấp quyền hạn cho từng người dùng. Lúc đó trong hệ thống có các máy tính chuyên
dụng làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ và quản lý các máy trạm.
VIII. Các mô hình ứng dụng mạng
1. Mạng ngang hàng (peer to peer)
Mạng ngang hàng cung cấp việc kết nối cơ bản giữa các máy tính nhưng không có bất kỳ một
máy tính nào đóng vai trò phục vụ. Một máy tính trên mạng có thể vừa là Client vừa là Server.
Trong môi trường này người dùng trên từng máy tính chịu trách nhiệm điều hành và chia sẻ tài
nguyên của máy tính mình. Mô hình này chỉ phù hợp với tổ chức nhỏ, số người giới hạn (thông
thường nhỏ hơn 10 người) và không quan tâm đến vấn đề bảo mật.
Mạng ngang hàng thường dùng các hệ điều hành sau: Win95, Windows for Workgroup, WinNT
Workstation, Win2000 Proffessional, OS/2…
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
12
Ưu điểm: Do mô hình mạng ngang hàng đơn giản nên dễ cài đặt, tổ chức và quản trị, chi phí
thiết bị cho mô hình này thấp.
Khuyết điểm: Không cho phép quản lý tập trung nên dữ liệu phân tán, khả năng bảo mật thấp rất
dễ bị xâm nhập. Các tài nguyên không được sắp xếp nên rất khó định vị và tìm kiếm.
Hình 1.6
2. Mạng khách chủ (Client – Server)
Trong mô hình mạng khách chủ có một hệ thống máy tính cung cấp các tài nguyên và dịch vụ
cho cả hệ thống mạng sử dụng gọi là các máy chủ (Server). Một hệ thống máy tính sử dụng các
tài nguyên và dịch vụ này được gọi là máy khách (Client). Các Server thường có cấu hình mạnh
(tốc độ xử lý nhanh, kích thước lưu trữ lớn) hoặc là các máy chuyên dụng.
Hệ điều hành mạng dùng trong mô hình Client - Server là WinNT, Novell Netware,
Unix,Win2K…
Ưu điểm: Do các dữ liệu được l
ưu trữ tập trung nên dễ bảo mật, backup và đồng bộ với nhau.
Tài nguyên và dịch vụ được tập trung nên dễ chia sẻ và quản lý và có thể phục vụ cho nhiều
người dùng.
Khuyết điểm: Các Server chuyên dụng rất đắt tiền, phải có nhà quản trị cho hệ thống.
Hình 1.7
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 13
IX. Kiến trúc mạng cục bộ
1. Hình trạng mạng (Network Topology)
Topology mạng: Cách kết nối các máy tính với nhau về mặt hình học mà ta gọi là tô pô của
mạng .
Có 2 kiểu nối mạng chủ yếu đó là:
Nối kiểu điểm – điểm (point – to – point)
Nối kiểu điểm – nhiều điểm (point – to – multipoint hay broadcast)
- Point to Point: Các đường truyền nối từng cặp nút với nhau và mỗi nút đều có trách nhiệm lưu
trữ tạm thời sao đó chuyển ti
ếp dữ liệu đi cho tới đích. Do cách làm việc như vậy nên mạng kiểu
này còn được gọi là mạng “lưu và chuyển tiếp“ (store and forward).
- Point to multipoint: Tất cả các nút phân chia nhau một đường truyền vật lý chung. Dữ liệu gửi
đi từ một nút nào đó sẽ được tiếp nhận bởi tất cả các nút còn lại trên mạng, bởi vậy chỉ cần chỉ ra
địa chỉ đích của dữ
liệu để căn cứ vào đó các nút tra xem dữ liệu đó có phải gửi cho mình không.
2. Mạng hình sao (Star):
Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín
hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích. Tuỳ theo yêu cầu truyền thông trên mạng mà thiết bị
trung tâm có thể là Switch, router, hub hay máy chủ trung tâm. Vai trò của thiết bị trung tâm là
thiết lập các liên kết Point to Point.
Ưu điểm: Thiết lập mạng đơn giản, dễ dàng cấu hình lại mạng (thêm, bớt các tr
ạm), dễ dàng
kiểm soát và khắc phục sự cố, tận dụng được tối đa tốc độ truyền của đường truyền vật lý.
Khuyết điểm: Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (trong vòng
100m, với công nghệ hiện nay).
Hình 1.8
3. Mạng trục tuyến tính (Bus):
Tất cả các trạm phân chia một đường truyền chung (bus). Đường truyền chính được giới hạn hai
đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator. Mỗi trạm được nối với trục chính qua một đầu
nối chữ T (T-connector) hoặc một thiết bị thu phát (transceiver).
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
14
Mô hình mạng Bus hoạt động theo các liên kết Point to Multipoint hay Broadcast.
Ưu điểm: Dễ thiết kế, chi phí thấp.
Khuyết điểm: Tính ổn định kém, chỉ một nút mạng hỏng là toàn bộ mạng bị ngừng hoạt động.
Hình 1.9
4. Mạng hình vòng (Ring):
Trên mạng hình vòng tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy nhất. Mỗi trạm của
mạng được nối với nhau qua một bộ chuyển tiếp (repeater) có nhiệm vụ nhận tín hiệu rồi chuyển
tiếp đến trạm kế tiếp trên vòng. Như vậy tín hiệu được lưu chuyển trên vòng theo một chuỗi liên
tiếp các liên kết Point to Point giữa các repeater.
Mạng hình vòng có ưu, nhược điểm tương tự nh
ư mạng hình sao, tuy nhiên mạng hình vòng đòi
hỏi giao thức truy nhập mạng phức tạp hơn mạng hình sao.
Ngoài ra còn có các kết nối hỗn hợp giữa các kiến trúc mạng trên như: Star Bus, Star Ring
Chương 2: TCP/IP VÀ ĐỊA CHỈ IP
Giao thức TCP/IP được phát triển từ mạng ARPANET và Internet và được dùng như giao thức
mạng và vận chuyển trên mạng Internet. TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức thuộc
tầng vận chuyển và IP (Internet Protocol) là giao thức thuộc tầng mạng của mô hình OSI. Họ
giao thức TCP/IP hiện nay là giao thức được sử dụng rộng rãi nhất để liên kết các máy tính và
các mạng.
Hiện nay các máy tính của hầu hết các mạng có thể sử dụng giao thức TCP/IP để liên kết với
nhau thông qua nhiều hệ thống mạng với kỹ thuật khác nhau. Giao thức TCP/IP thực chất là một
họ giao thức cho phép các hệ thống mạng cùng làm việc với nhau thông qua việc cung cấp
phương tiện truyền thông liên mạng.
I. Giao thức IP
1. Tổng quát
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 15
Nhiệm vụ chính của giao thức IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên kết mạng
để truyền dữ liệu, vai trò của IP là vai trò của giao thức tầng mạng trong mô hình OSI. Giao thức
IP là một giao thức kiểu không liên kết (connectionless) có nghĩa là không cần có giai đoạn thiết
lập liên kết trước khi truyền dữ liệu.
2. Các giao thức trong mạng IP
Để mạng với giao thức IP hoạt động được tốt người ta cần một số giao thức bổ sung, các giao
thức này đều không phải là bộ phận của giao thức IP và giao thức IP sẽ dùng đến chúng khi cần.
Giao thức ARP (Address Resolution Protocol): Ở đây cần lưu ý rằng các địa chỉ IP được dùng
để định danh các host và mạng ở tầng mạng của mô hình OSI, và chúng không phải là các địa chỉ
vật lý (hay địa chỉ MAC) của các trạ
m trên đó một mạng cục bộ (Ethernet, Token Ring). Trên
một mạng cục bộ hai trạm chỉ có thể liên lạc với nhau nếu chúng biết địa chỉ vật lý của nhau.
Như vậy vấn đề đặt ra là phải tìm được ánh xạ giữa địa chỉ IP (32 bits) và địa chỉ vật lý của một
trạm. Giao thức ARP đã được xây dựng để tìm địa chỉ vật lý từ địa chỉ IP khi cầ
n thiết.
Giao thức RARP (Reverse Address Resolution Protocol): Là giao thức ngược với giao thức
ARP. Giao thức RARP được dùng để tìm địa chỉ IP từ địa chỉ vật lý.
Giao thức ICMP (Internet Control Message Protocol): Giao thức này thực hiện truyền các
thông báo điều khiển (báo cáo về các tình trạng các lỗi trên mạng) giữa các gateway hoặc một
nút của liên mạng. Tình trạng lỗi có thể là: một gói tin IP không thể tới đích của nó, hoặc một
router không đủ bộ nhớ đệm
để lưu và chuyển một gói tin IP, một thông báo ICMP được tạo và
chuyển cho IP. IP sẽ "bọc" (encapsulate) thông báo đó với một IP header và truyền đến cho
router hoặc trạm đích.
3. Các bước hoạt động của giao thức IP
Khi giao thức IP được khởi động nó trở thành một thực thể tồn tại trong máy tính và bắt đầu thực
hiện những chức năng của mình, lúc đó thực thể IP là cấu thành của tầng mạng, nhận yêu cầu từ
các tầng trên nó và gửi yêu cầu xuống các tầng dưới nó.
Đối với thực thể IP ở máy nguồn, khi nhận được một yêu cầu gửi từ tầng trên, nó thực hiện các
bước sau đây:
1. Tạo một IP datagram dựa trên tham số nhận được.
2. Tính checksum và ghép vào header của gói tin.
3. Ra quyết định chọn đường: hoặc là trạm đích nằm trên cùng mạng hoặc một gateway
sẽ được chọn cho chặng tiếp theo.
4. Chuyển gói tin xuống tầng dưới để truyền qua mạng.
Đối với router, khi nhận được một gói tin đi qua, nó thực hiện các động tác sau:
1. Tính chesksum, nếu sai thì lo
ại bỏ gói tin.
2. Giảm giá trị tham số Time - to Live. Nếu thời gian đã hết thì loại bỏ gói tin.
3. Ra quyết định chọn đường.
4. Phân đoạn gói tin, nếu cần.
5. Kiến tạo lại IP header, bao gồm giá trị mới của các vùng Time - to -Live,
Fragmentation và Checksum.
6. Chuyển datagram xuống tầng dưới để chuyển qua mạng.
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
16
Cuối cùng khi một datagram nhận bởi một thực thể IP ở trạm đích, nó sẽ thực hiện bởi các công
việc sau:
1. Tính checksum. Nếu sai thì loại bỏ gói tin.
2. Tập hợp các đoạn của gói tin (nếu có phân đoạn).
3. Chuyển dữ liệu và các tham số điều khiển lên tầng trên.
II. Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP
TCP là một giao thức "có liên kết" (connection - oriented), nghĩa là cần phải thiết lập liên kết
giữa hai thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau. Một tiến trình ứng dụng trong
một máy tính truy nhập vào các dịch vụ của giao thức TCP thông qua một cổng (port) của TCP.
Số hiệu cổng TCP được thể hiện bởi 2 bytes.
Hình 2.1: Cổng truy nhập dịch vụ TCP
Một cổng TCP kết hợp với địa chỉ IP tạo thành một đầu nối TCP/IP (socket) duy nhất trong liên
mạng. Dịch vụ TCP được cung cấp nhờ một liên kết logic giữa một cặp đầu nối TCP/IP. Một đầu
nối TCP/IP có thể tham gia nhiều liên kết với các đầu nối TCP/IP ở xa khác nhau. Trước khi
truyền dữ liệu giữa 2 trạm cần phải thiế
t lập một liên kết TCP giữa chúng và khi không còn nhu
cầu truyền dữ liệu thì liên kết đó sẽ được giải phóng.
Các thực thể của tầng trên sử dụng giao thức TCP thông qua các hàm gọi (function calls) trong
đó có các hàm yêu cầu: để yêu cầu, để trả lời. Trong mỗi hàm còn có các tham số dành cho việc
trao đổi dữ liệu.
Các bước thực hiện để thiết lập một liên kết TCP/IP: Thiết lập một liên kết mới có thể
được
mở theo một trong 2 phương thức: chủ động (active) hoặc bị động (passive).
Phương thức bị động, người sử dụng yêu cầu TCP chờ đợi một yêu cầu liên kết gửi
đến từ xa thông qua một đầu nối TCP/IP (tại chỗ). Người sử dụng dùng hàm passive
Open có khai báo cổng TCP và các thông số khác (mức ưu tiên, mức an toàn)
Với phương thức chủ động, người sử d
ụng yêu cầu TCP mở một liên kết với một đầu
nối TCP/IP ở xa. Liên kết sẽ được xác lập nếu có một hàm Passive Open tương ứng đã
được thực hiện tại đầu nối TCP/IP ở xa đó.
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 17
Bảng liệt kê một vài cổng TCP phổ biến.
Số hiệu cổng Mô tả
0 Reserved
5 Remote job entry
7 Echo
9 Discard
11 Systat
13 Daytime
15 Nestat
17 Quotd (quote odd day)
20 ftp-data
21 ftp (control)
23 Telnet
25 SMTP
37 Time
53 Name Server
102 ISO - TSAP
103 X.400
104 X.400 Sending
111 Sun RPC
139 Net BIOS Session source
160 - 223 Reserved
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
18
Khi người sử dụng gửi đi một yêu cầu mở liên kết sẽ được nhận hai thông số trả lời từ TCP.
Thông số Open ID được TCP trả lời ngay lập tức để gán cho một liên kết cục bộ (local
connection name) cho liên kết được yêu cầu. Thông số này về sau được dùng để tham
chiếu tới liên kết đó. (Trong trường hợp nếu TCP không thể thiết lập được liên kết yêu
cầu thì nó ph
ải gửi tham số Open Failure để thông báo).
Khi TCP thiết lập được liên kết yêu cầu nó gửi tham số Open Sucsess được dùng để
thông báo liên kết đã được thiết lập thành công. Thông báo này được chuyển đến trong
cả hai trường hợp bị động và chủ động. Sau khi một liên kết được mở, việc truyền dữ
liệu trên liên kết có thể được thực hiện.
Các bước thực hiện khi truyền và nhận dữ li
ệu: Sau khi xác lập được liên kết người sử dụng
gửi và nhận dữ liệu. Việc gửi và nhận dữ liệu thông qua các hàm Send và Receive.
Hàm Send:
Dữ liệu được gửi xuống TCP theo các khối (block). Khi nhận được một
khối dữ liệu, TCP sẽ lưu trữ trong bộ đệm (buffer). Nếu cờ PUSH được dựng thì toàn
bộ dữ liệu trong bộ đệm được gửi, kể cả khối dữ liệu mới đến sẽ được gửi đi. Ngược
lại cờ PUSH không được dựng thì dữ liệu được giữ lạ
i trong bộ đệm và sẽ gửi đi khi
có cơ hội thích hợp (chẳng hạn chờ thêm dữ liệu nữa để gửi đi với hiệu quả hơn).
Hàm receive:
Ở trạm đích dữ liệu sẽ được TCP lưu trong bộ đệm gắn với mỗi liên
kết. Nếu dữ liệu được đánh dấu với một cờ PUSH thì toàn bộ dữ liệu trong bộ đệm (kể
cả các dữ liệu được lưu từ trước) sẽ được chuyển lên cho người sử dụng. Còn nếu dữ
liệu đến không được đánh dấ
u với cờ PUSH thì TCP chờ tới khi thích hợp mới chuyển
dữ liệu với mục tiêu tăng hiệu quả hệ thống.
Nói chung việc nhận và giao dữ liệu cho người sử dụng đích của TCP phụ thuộc vào việc cài đặt
cụ thể. Trường hợp cần chuyển gấp dữ liệu cho người sử dụng thì có thể dùng cờ URGENT và
đánh dấu dữ liệu bằng bit URG để
báo cho người sử dụng cần phải xử lý khẩn cấp dữ liệu đó.
Các bước thực hiện khi đóng một liên kết: Việc đóng một liên kết khi không cần thiết được
thực hiên theo một trong hai cách: dùng hàm Close hoặc dùng hàm Abort.
Hàm Close: Yêu cầu đóng liên kết một cách bình thường. Có nghĩa là việc truyền dữ
liệu trên liên kết đó đã hoàn tất. Khi nhận được một hàm Close TCP sẽ truyền
đi tất cả
dữ liệu còn trong bộ đệm thông báo rằng nó đóng liên kết. Lưu ý rằng khi một người
sử dụng đã gửi đi một hàm Close thì nó vẫn phải tiếp tục nhận dữ liệu đến trên liên kết
đó cho đến khi TCP đã báo cho phía bên kia biết về việc đóng liên kết và chuyển giao
hết tất cả dữ liệu cho người sử dụng của mình.
Hàm Abort: Ng
ười sử dụng có thể đóng một liên kết bất kỳ và sẽ không chấp nhận
dữ liệu qua liên kết đó nữa. Do vậy dữ liệu có thể bị mất đi khi đang được truyền đi.
TCP báo cho TCP ở xa biết rằng liên kết đã được hủy bỏ và TCP ở xa sẽ thông báo
cho người sử dụng của mình.
Một số hàm khác của TCP:
Hàm Status: cho phép người sử
dụng yêu cầu cho biết trạng thái của một liên kết cụ
thể, khi đó TCP cung cấp thông tin cho người sử dụng.
Hàm Error: thông báo cho người sử dụng TCP về các yêu cầu dịch vụ bất hợp lệ liên
quan đến một liên kết có tên cho trước hoặc về các lỗi liên quan đến môi trường.
Đơn vị dữ liệu sử dụng trong TCP được gọi là segment (đoạn dữ liệu), có các tham số với ý
nghĩa như sau:
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 19
Hình 2.2 Dạng thức của segment TCP
Source Port (16 bits): Số hiệu cổng TCP của trạm nguồn.
Destination Port (16 bits): Số hiệu cổng TCP của trạm đích.
Sequence Number (32 bits): số hiệu của byte đầu tiên của segment trừ khi bit SYN
được thiết lập. Nếu bit SYN được thiết lập thì Sequence Number là số hiệu tuần tự
khởi đầu (ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN+1.
Acknowledgment Number (32 bits): số hiệu của segment tiếp theo mà trạm nguồn
đang chờ để nhận. Ngầm ý báo nhận tốt (các) segment mà trạm đích đã gửi cho trạm
nguồn.
Data offset (4 bits): số lượng bội của 32 bit (32 bits words) trong TCP header (tham số
này chỉ ra vị trí bắt đầu của nguồn dữ liệu).
Reserved (6 bits): dành để dùng trong tương lai.
Control bit (các bit điều khiển):
o URG: Vùng con trỏ khẩn (Urgent Poiter) có hiệu lực.
o ACK: Vùng báo nhận (ACK number) có hiệu lực.
o PSH: Chức năng PUSH.
o
RST: Khởi động lại (reset) liên kết.
o SYN: Đồng bộ hóa số hiệu tuần tự (sequence number).
o FIN: Không còn dữ liệu từ trạm nguồn.
Window (16 bits): cấp phát credit để kiểm soát nguồn dữ liệu (cơ chế cửa sổ). Đây
chính là số lượng các byte dữ liệu, bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK
number, mà trạm nguồn đã sẵn sàng để nhận.
Checksum (16 bits): mã kiểm soát lỗ
i cho toàn bộ segment (header + data).
Urgemt Poiter (16 bits): con trỏ này trỏ tới số hiệu tuần tự của byte đi theo sau dữ liệu
khẩn. Vùng này chỉ có hiệu lực khi bit URG được thiết lập.
Options (độ dài thay đổi): khai báo các option của TCP, trong đó có độ dài tối đa của
vùng TCP data trong một segment.
Paddinh (độ dài thay đổi): phần chèn thêm vào header để đảm bảo phần header luôn
kết thúc ở một mốc 32 bits. Phần thêm này gồm toàn số 0.
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
20
TCP data (độ dài thay đổi): chứa dữ liệu của tầng trên, có độ dài tối đa ngầm định là
536 bytes. Giá trị này có thể điều chỉnh bằng cách khai báo trong vùng options.
III. Tổng quan về địa chỉ IP
Trước khi khảo sát cấu tạo, tính chất, nhiệm vụ của địa chỉ IP ta xét những tiền đề tạo nên nó:
Đơn vị thông tin cơ bản trong máy tính được biểu diễn dưới dạng số nhị phân bao gồm 2 giá trị
đếm là 0 và 1. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác nó còn được biểu diễn bằng số bát phân,
hay số thập lục phân.
Hệ thống số đó được miêu tả ở bảng dưới đây l
ấy số thập phân làm so sánh tường minh:
Thập phân Nhị phân Bát phân Thập lục phân
0 0000 0 0
1 0001 1 1
2 0010 2 2
3 0011 3 3
4 0100 4 4
5 0101 5 5
6 0110 6 6
7 0111 7 7
8 1000 10 8
9 1001 11 9
10 1010 12 A
11 1011 13 B
12 1100 14 C
13 1101 15 D
14 1110 16 E
15 1111 17 F
Thông thường muốn chuyển từ số nhị phân, bát phân, thập lục phân qua lại với nhau ta phải
chuyển qua một bước trung gian về số thập lục phân.
Quy tắc chuyển các số nhị phân, bát phân, thập lục phân về cơ số 10:
Chuyển số nhị phân: 101101
2
= X
10
: 1x2
5
+0x2
4
+1x2
3
+1x2
2
+0x2
1
+1x2
0
=45
10
.
Chuyển bát phân: 736
8
= X
10
: 7x8
2
+3x8
1
+6x8
0
=478
10
.
Chuyển thập lục phân: F3
16
= X
10
: Fx16
1
+3x16
0
= 15x16+16x3 = 243
10
.
Qui tắc chuyển từ hệ số thập phân về các hệ số khác, ở đây ta lấy ví dụ đối với số nhị phân:
13
10
=X
2
:
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 21
13/2 = 6 dư 1
6/2 = 3 dư 0
3/2 = 1 dư 1
1/2 = 0 dư 1
Ta lấy số dư của phép chia cho 2 theo thứ tự từ dưới lên trên.
Vậy ta được số nhị phân của số 13 thập phân là: 1101
2
Với các hệ số khác ta cũng thực hiện như vậy.
Cấu trúc địa chỉ IP gồm 32bits, được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 8 bits được biểu diễn như
sau:
1 1 1 1 1 1 1 1
128 64 32 16 8 4 2 1
Vậy giá trị 8 bits khi tất cả được bật lên 1, hiểu ở giá trị thập phân là: 255.
Vậy những giá trị thập phân mà ta có thể gán 4 nhóm của 32 Bit là:
00000000-
11111111
00000000-
11111111
00000000-
11111111
00000000-
11111111
0-255 0-255 0-255 0-255
Vậy địa chỉ IP có cấu trúc được chia làm hai hoặc ba phần là network_id & host_id hoặc
network_id & subnet_id & host_id.
Là một con số có kích thước 32 bits. Khi trình bày người ta chia con số 32 bits này thành bốn
phần, mỗi phần có kích thước 8 bits, gọi là octet hoặc byte. Có các cách trình bày sau:
Ký pháp thập phân có dấu chấm (dotted-decimal notation). Ví dụ: 172.16.30.56.
Ký pháp nhị phân. Ví dụ: 10101100 00010000 00011110 00111000.
Ký pháp thập lục phân. Ví dụ: 82 39 1E 38.
Không gian địa chỉ IP (gồm 232 địa chỉ) được chia thành 5 lớp (class) để dễ quản lý đó là: A, B,
C, D và E. Trong đó các lớp A, B và C
được triển khai để đặt cho các host trên mạng Internet,
lớp D dùng cho các nhóm multicast, còn lớp E phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
IV. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan:
Địa chỉ host là địa chỉ IP có thể dùng để đặt cho các interface của các host. Hai host nằm cùng
một mạng sẽ có network_id giống nhau và host_id khác nhau.
Địa chỉ mạng (network address): là địa chỉ IP dùng để đặt cho các mạng. Phần host_id của địa
chỉ chỉ chứa các bit 0. Địa chỉ này không thể dùng để đặt cho một Interface. Ví dụ 172.29.0.0
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
22
Địa chỉ Broadcast: là địa chỉ IP được dùng để đại diện cho tất cả các host trong mạng. Phần host
id chỉ chứa các bit 1. Địa chỉ này cũng không thể dùng để đặt cho một host được. Ví dụ
172.29.255.255
Các phép toán làm việc trên bit :
Phép AND Phép OR
A B A and B A B A or B
1 1 1
1 0 0
0 1 0
0 0 0
1 1 1
1 0 1
0 1 1
0 0 0
Ví dụ sau minh hoạ phép AND giữa địa chỉ 172.29.14.10 và mask 255.255.0.0
172.29.14.10 = 10101100 00011101 00001110 00001010 AND
255.255.0.0 = 11111111 11111111 00000000 00000000
172.29.0.0 = 10101100 00011101 00000000 00000000
172.29.1.0
Mặt nạ mạng (Network Mask): là một con số dài 32 bits, là phương tiện giúp máy xác định
được địa chỉ mạng của một địa chỉ IP (bằng cách AND giữa địa chỉ IP với mặt nạ mạng) để phục
vụ cho công việc routing. Mặt nạ mạng cũng cho biết số bit nằm trong phần host_id. Được xây
dựng bằng cách bật các bit t
ương ứng vớp phần network_ id và tắt các bit tương ứng với phần
host_id.
Mặt nạ mặc định của các lớp không chia mạng con
Lớp A 255.0.0
Lớp B 255.255.0.0
Lớp C 255.255.255.0
V. Giới thiệu các lớp địa chỉ:
1. Lớp A
Dành một byte cho phần network_id và ba byte cho phần host_id.
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 23
Hình 2.3
Để nhận biết lớp A, bit đầu tiên của byte đầu tiên phải là bit 0. Dưới dạnh nhị phân, byte này có
dạng 0XXXXXXX . Vì vậy, những địa chỉ IP có byte đầu tiên nằm trong khoảng từ 0
(00000000) đến 127 (01111111) sẽ thuộc lớp A. Ví dụ : 50.14.32.8
Byte đầu tiên này cũng chính là network_id, trừ đi bit đầu tiên làm ID nhận dạng lớp A, còn lại 7
bits để đánh thứ tự các mạng, ta được 128 (27) mạng lớp A khác nhau. Bỏ đi hai trường hợp đặc
bi
ệt là 0 và 127. Kết quả là lớp A chỉ còn 126 địa chỉ mạng, 1.0.0.0 đến 126.0.0.0
Phần host_id chiếm 24 bits, tức có thể đặt địa chỉ cho 16,777,216 host khác nhau trong mỗi
mạng. Bỏ đi địa chỉ mạng (phần host_id chứa toàn các bit 0) và một địa chỉ Broadcast (phần
host_id chứa toàn các bit 1) như vậy có tất cả 16,777,214 host khác nhau trong mỗi mạng lớp A.
Ví dụ đối với mạng 10.0.0.0 thì những giá trị host hợp lệ là 10.0.0.1 đến 10.255.255.254
Hình 2.4
2. Lớp B
Dành 2 bytes cho mỗi phần network_id và host_id.
Hình 2.5
Dấu hiệu để nhận dạng địa chỉ lớp B là byte đầu tiên luôn bắt đầu bằng hai bit 10. Dưới dạng nhị
phân, octet có dạng 10XXXXXX. Vì vậy những địa chỉ nằm trong khoảng từ 128 (10000000)
đến 191 (10111111) sẽ thuộc về lớp B. Ví dụ 172.29.10.1 là một địa chỉ lớp B .
Phần network_id chiếm 16 bits bỏ đi 2 bits làm ID cho lớp, còn lại 14 bits cho phép ta đánh thứ
tự 16,384 (214) mạng khác nhau (128.0.0.0 d8ến 191.255.0.0).
Phần host_id dài 16 bits hay có 65536 (216) giá trị khác nhau. Trừ
đi 2 trường hợp đặc biệt còn
lại 65534 host trong một mạng lớp B. Ví dụ đối với mạng 172.29.0.0 thì các địa chỉ host hợp lệ là
từ 172.29.0.1 đến 172.29.255.254
Mạng căn bản-Tài liệu sử dụng nội bộ
24
Hình 2.6
3. Lớp C
Dành 3 bytes cho phần network_id và một byte cho phần host_id
Hình 2.7
Byte đầu tiên luôn bắt đầu bằng 3 bits 110 và dạng nhị phân của octet này là 110XXXXX. Như
vậy những địa chỉ nằm trong khoảng từ 192 (11000000) đến 223 (11011111) sẽ thuộc về lớp C.
Ví dụ: 203.162.41.235
Phần network_id dùng 3 byte hay 24 bit, trừ đi 3 bit làm ID của lớp, còn lại 21 bit hay 2,097,152
(2 21) địa chỉ mạng ( từ 192.0.0.0 đến 223.255.255.0).
Phần host_id dài 1 byte cho 256 (28) giá trị khác nhau. Trừ đi hai trường hợp đặc biệt ta còn 254
host khác nhau trong một mạng lớp C. Ví dụ, đối với m
ạng 203.162.41.0, các địa chỉ host hợp lệ
là từ 203.162.41.1 đến 203.162.41.254
Hình 2.8
4. Lớp D và E
Các địa chỉ có byte đầu tiên nằm trong khoảng 224 đến 256 là các địa chỉ thuộc lớp D hoặc E. Do
các lớp này không phục vụ cho việc đánh địa chỉ các host nên không trình bày ở đây.
5. Ví dụ cách triển khai đặt địa chỉ IP cho một hệ thống mạng
Trung tâm đào tạo Tiên Phong- 52 Quang Trung, TP. Quảng ngãi 25
Hình 2.9
6. Chia mạng con (subnetting)
Giả sử ta phải tiến hành đặt địa chỉ IP cho hệ thống có cấu trúc như sau:
Hình 2.10
Theo hình trên, ta bắt buộc phải dùng đến tất cả là 6 đường mạng riêng biệt để đặt cho hệ thống
mạng của mình, mặc dù trong mỗi mạng chỉ dùng đến vài địa chỉ trong tổng số 65,534 địa chỉ
hợp lệ > một sự phí phạm to lớn. Thay vì vậy, khi sử dụng kỹ thuật chia mạng con, ta chỉ cần
sử dụng một đường mạng 150.150.0.0 và chia đường mạng này thành sáu mạ
ng con theo hình
bên dưới: