%
0
I
p
H
0
Ì
KATRIN EISMANN
BIÊN DỊCH: LÊ TÀN - LA YẾN
KỸ THUẬT PHỤC HỒI
VÀ CHỈNH SỬÀ ẢNH
• Phục hồi nhừng tâm ảnh cù hoặc hư hỏng
• Chỉnh sửa đường nét và màu sắc của tâm ảnh
• Kỹ thuật ghép ảnh
• Cách làm nổi bật chi tiết của tâm ảnh
• Cách chuyên đổi ảnh trắng đen sang ảnh màu
A F TE R
NHÀ XUẤT BÁN LAO ĐỘNC - XÃ HỘI
KỸ THUẬT PHỤC HỒI
« ■
CHỈNH SỬA HÌNH ẢNH
BẰNG PHOTOSHOP
Biên dịch: LÊ TÂN - LA YẾN
Chịu trách nhiệm xuất bỗn: NGUYẸN ĐÌNH THIÊM
Biên tập: NGUYỄN BÁ NGỌC
Sửa bản in: LÊ TÂN - THU HƯƠNG
Thiết kế bìa: LÊ TÂN
In 1.000 cuồn khổ 14,5 X 20,5 cm tại xưởng in Ban Tư Tưởng Văn Hóa
Thành ủy - 18 Nguyễn Lâm, Q.10, TPHCM. Số đăng ký kế hoạch
xuâ't bản: 67/1437/XB - QLXB của Cục Xuất Bản cáp ngày 03 tháng
12 năm 2002. In xong và nộp lưu chiểu tháng 8 năm 2003.
K. EISMANN
PHUC HÖI VÄ CHINH SVfA ÄNH
BANG PHOTOSHOP
Tapl
Thänh pho H6 Chi Minh, 2003
(£ â i n ó i đ a u
Ảnh kỹ thuật số và việc xử lý ảnh chụp chắc
chắn đã gây chấn động trong lĩnh vực công nghiệp
khoảng mười năm trở lại đây. Người ta đã tranh
cãi nhiều về tương lai và giá trị của thuật nhiếp
ảnh truyền thống khi mà chức năng ghì nhận
những khoảnh khắc thời gian và thể hiện chúng
mỗi khi người ta cần đến đã bị hạn chế do nhiều
yếu tố khác nhau. Và cũng rất nhiều khi chúng ta
phải loại bỏ những bức ảnh cũ đã được những
nghệ nhân xử lý bằng thủ công bời vì chúng mang
đậm những vết sửa chữa quá rõ nét và quá lộ liễu.
Trong khi đó, máy tính đã có thể làm cho những
bức ảnh được chỉnh sửa nhẹ nhàng đến nỗi chúng
ta không biết được rằng chúng đã được xử lý.
Có một điều mà các nhà tiên tri quên nói
đền: đó là máy vi tính
,
ngày nay
,
đang cho phép
chúng ta phục chế và chỉnh sửa các bức ảnh cữ và
đem lại sức sống cho chúng. Thuật nhiếp ảnh là
3
phương tiện giúp chứng ta ghi được những bức
ảnh tại một thời điểm và sau này khi xem lại,
chúng ta vẫn cảm thấy vui thích với những tấm
ảnh ấy. Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là những
tẩm ảnh có thể bị hủy hoại dần theo thời gian do
chất liệu giấy in bị thoái hóa. Và ngành khoa học
bảo tồn hình ảnh. vẫn còn tương đối mới mẻ. Nếu
bạn có thêm được một công cụ giúp bạn bảo tồn
và phục chế những bức ảnh cho tủ sách, thư viện
hoặc tập ảnh gia đình thì đấy quả là một món
quà.
Ảnh kỹ thuật sổ không phải là điều gì quá
ghè gớm. Đơn giản nó chỉ là một công cụ mới có
khả năng giúp chúng ta diễn đạt được cái nhìn
của mình. Việc sử dụng máy vi tính là một cách
thức mới để tự biểu lộ chính mình và sự hoàn hảo
♦ ■ ■
của một tấm ảnh hoàn toàn tùy thuộc vào người
tạo ra nó. Trong cuốn sách này, máy vỉ tính được
xem như công cụ giúp bạn đem lại sức sống cho
những bức ảnh mang tính xã hội hoặc cá nhăn,
nói cách khác, bạn có thể tái tạo lại một phần lừĩh
sử của xã hội hay cá nhân theo phương cách thèm
thắt cho nó chất liệu cuộc sống hiện tại của chứng
ta.
Nhừng kỹ thuật phục hồi chỉnh sửa ảnh
được hướng dẫn trong cuốn sách này đều dựa trên
cơ sở của Photoshop phiên bản 6.0, nhưng nếu các
bạn đang sử dụng nhăng phiên bản trước của
Photoshop, hãy cố gắng đối chiếu theo nội dung và
công dụng của hướng dẫn để thực hiện.
4
CHƯƠNG 1 ! CHỈNH SỨA BANG PHOTOSHOP
I. NHỮNG ĐIỀU Cơ BẲN CỦA PHOTOSHOP
Bạn hây đưa một vân đề cho ba người biết sử dụng
Photoshop giải quyết. Tôi cược với bạn rằng họ sẽ làm theo những
phương cách khác nhau. Sự đa dạng hóa trong phương pháp tiếp
cận mà Photoshop cho phép có thể là một nỗi thất vọng hay một
niềm phấn khỏi, điều đó tùy thuộc vào việc bạn có muốn khám phá
và cảm nhận Photoshop đến đâu. Vậy làm thế nào dể phân biệt
một ngưòi tập tểnh sử đụng Photoshop và một người lão luyện?
Trong mọi trường hợp, đó là kinh nghiệm và khả năng hình dung
trước được sự tượng hình của thành phẩm. Đôi với người lão luyện,
Photoshop là trong suốt: mọi giao diện đều biến mất khi anh ta
thao tác phục chế hình ảnh. Còn đối với người mới tập tểnh,
Photoshop lại khiến họ bị lạc lôi trong hàng đông công cụ, mệnh
lệnh và bảng kiểm soát.
Việc học cách di chuyển nhanh sẽ giúp bạn trở thành một
người sử dụng Photoshop tốt hơn vì bạn có thể tập trưng nhiều hơn
vào hình ảnh mà không phải là vào phần mềm. Trong chương này,
bạn hãy học cách làm việc có hiệu quả hơn bằng:
• Làm việc với phím tắt.
• Sử dụng công cụ di chuyển.
• Khám phá sự quan trọng của lớp.
• Phát triển sự tổ chức tập tin và trinh tự diễn tiến công việc.
Phục chế và chỉnh sửa ảnh không chỉ là những cái click
chuột mà thôi. Bạn hãy nhớ rằng những tâm ảnh mà bạn đang xử
lý rất quan trọng đô'i với khách hàng của bạn. Chúng không chỉ là
những chấm (Pixel) trắng và đen mà chúng còn tượng trưng cho
những con người hoặc những biến cố thực sự. Công việc của bạn là
phục hồi lại những kỷ niệm từ những bức ảnh gổc phai mờ, rách
nát và hư hỏng. Đấy là một trách nhiệm nặng nề mà qua đó bạn
sẽ dần cảm thấy trân trọng và thiện cảm với hình ảnh hơn.
7
Photoshop được thiết kế để có thể sử dụng bằng cả hai tay
— một trên bàn phím (keyboard) và một trên chuột (mouse). Tuy
nhiên, nếu nắm vững được những lệnh truy cập băng bàn phím bạn
sẽ tiết giảm thời gian cũng như tránh cho bạn sự mệt mỏi khi phải
liên tục bấm chuột đến đau cả tay.
Photoshop cung cấp cho bạn hàng tá những phương pháp
di chuyển và một lô những phím tắt có hoặc không có liệt kê trong
tài liệu chính thức. Bạn có cần biết hết toàn bộ chúng không? Chắc
chắn là không. Bạn có cần phải học cách kích hoạt những công cụ
mà bạn sử dụng hàng ngày không? Dĩ nhiên rồi. Nếu bạn phải sử
dụng công cụ của Photoshop hay những mệnh lệnh 3 lần hay nhiều
hơn nữa mỗi ngày thì bạn nên học những phím tắt để tiết giảm
thời gian và làm việc hợp lý hơn.
1. Công cụ (Toolbar)
Bạn chỉ cần nhấn một ký tự thích hợp trên bàn phím để
kích hoạt một công cụ đặc trưng của Photoshop. Hầu như, ký tự đầu
Bkif/Shi
I
Mov« (V)
•tagte Wand (W)
She*(K)
Gradìant/Pamt Bucket (O)
Oodge/BunVSponge (O)
Typ* ro
RtctangWOttwr vector shapes (R)
EyedropperiCokw Simpler/Measure (f)
Zoom (Z)
Exchange Colors (X)
Quick Mask (Q)
Cycle Screen Mod»» (F)
tiên trong cái tên của
từng công cụ chính là
phím tắt, chẳng hạn
như ký tự B để kích
hoạt công cụ Brush, M
để kích hoạt công cụ
Marquee. Dĩ nhiên,
vẫn có những ngoại lệ
trong “qui luật ký tự
đầu tiên”, chẳng hạn
như J để kích hoạt
công cự Airbrush và V
là công cụ Move. Hình
1.1 trình bày tất cả
phím tắt của từng công
cụ.
8
Thủ thuật:
Để được thấy và học những mẹo về nhóm công cụ, bạn hãy
chọn Edit>Preference>General và đánh dấu
chọn Show Tool Tip. Khi bạn rà chuột lèn trển
một công cụ, Photoshop sẽ hiển thị tên và phím
tắt như hình 1.2.
Hình 1.2
Bảng 1.1
N hữ ns công cu chính sứa lồng_ vào nhau:
Marquee:
Brush v& Pencil:
Clone Stamp:
History Brush:
Gradient va Paint Bucket:
Tonal:
Sharpen:
Path:
Pen:
Annotation:
Eyedropper v& Measure:
Shift + M: luân chuyển giữa công cụ vẽ
hình vuông và hình Ellipse chọn Lasso,
Polygon và Magnetic Lasso.
Shift + B: chuyển đổi giữa công cụ
Brush và Pencil.
Shift + S: luân chuyển giữa công cụ
Clone Stamp và Pattern Stamp.
Shift + Y: luân chuyển giữa công cụ
History và Art History Brush.
Shift + G: luân chuyển giữa công cụ
Gradient Blend và Paint Bucket.
Shift + O: luân chuyển giữa công cụ
Dodge, Burn và sponge.
Shift + R: luân chuyển giữa công cụ
Sharpen, Blur và Smudge.
Shift + A: luân chuyển giữa công cụ
chọn Path Component và Direct.
Shift + P: luân chuyển giữa công cụ Pen
và Freeform Pen.
Shift + N: luân chuyển giữa công cụ
note và voice annotation.
Shift + I: luân chuyển giữa công cụ
9
Eyedropper, Color samples và Measure.
Như bạn thấy qua hình 1.3, một vài công cụ có chứa trong
(lồng trong) nó những công cụ khác, ví dụ công cụ Dodge, Burn,
và Sponge đều nằm chung trong một ô của bảng công cụ.
Để kích hoat những công cụ lồng vào nhau, bạn có thể ấn
đè phím Shift trong khi tuần tự bấm phím
lệnh nhanh tương ứng với công cụ đó cho đến
khi bạn thấy được công cụ mong muôn. Còn
nếu như bạn cảm thấy chỉ muôn bâm một ký
tự lệnh mà không muôn ấn dè phím Shift để
chọn những công cụ lồng vào nhau thì bạn
vẫn có thể chọn Edit > Preference >
General và bỏ dấu chọn Use Shift key for
2. Thanh Tùy Chọn (Options Bar)
Khi sử dụng một công cụ tô màu bất kỳ, nếu bạn muốn
thay đổi độ mờ đục (Opacity), độ ép (Pressure), bạn chỉ cần đánh
một con số' là độ mờ đục hoặc độ ép sẽ thay đổi ngay, nghĩa là bạn
không cần phải kích hoạt ô nhập số. Và bạn có thể dùng phím “dấu
ngoặc ôm - dấu móc” trái hoặc phải để tăng hoặc giảm kích cỡ cọ
tô màu.
3. Bảng và Phím chức nảng (Palettes and Function keys)
Adobe đã ấn định những phím chức năng cho hầu hết
những bảng quan trọng (được liệt kê trong bảng 1.2). Phím chức
năng là hàng tận trên cùng của bàn phím và các phím bắt đầu
bằng chữ F, gọi tắt là phím f. Bạn có thể dùng chúng để giấu đi
hay làm lộ các bảng ra. Bạn nên đặt các bảng ở nơi càng tránh xa
vùng làm việc càng tốt. Nếu các bảng che khuất hình ảnh, bạn hãy
nhấn phím TAB để giấu cả thanh công cụ (Toolbar) lẫn các bảng
Ẹ p i
_A • • ^ 0»*I tm t o
E Ẽ L ig x , •
Hình 1.3
Tool Switch.
10
(Palettes), nhấn TAB lần nữa sẽ làm lộ tất cả trở lại, hoặc nhá
phím f để làm lộ những bảng riêng biệt.
Bạn hãy bỏ chút thời gian để sắp xếp lại các bảng của mini
theo thứ tự ưu tiên, ví dụ: Lớp (Layer), Kênh (Channel), Thông til
(Info) (cái nào dùng nhiều để gần tay bạn hơn v.v.)
Thủ thuật:
• Bạn càng trưng ra càng ít bảng càng tốt.
• Bạn hãy bấm TAB để giấu đi hoặc lộ ra thanh công cụ và các
bảng cùng lúc; Shift + TAB chỉ che giấu các bảng mà thôi.
• Bạn hãy lôi những bảng không cần thiết của từng nhóm và
đóng chúng lại.
• Trong trường hợp bạn đóng một bảng và lại quên phím f để
làm lộ chúng trở lại, hãy mở trình dơn (Menu) Window để
chọn bảng mà bạn cần.
4. Trình đơn theo ngữ cảnh (Context-Sensitive Menu)
Mỗi công cụ Photoshop đều có trình đơn theo ngữ cảnh.
Khi bạn chọn một công cụ và sau đó rà chuột trên hình ảnh và
bấm nút phải chuột thì lập tức một trình đơn theo ngữ cảnh xuất
hiện - nó nhằm đáp ứng nhanh một số nhu cầu mà có thể bạn
đang cần đến. Nó sẽ tiện dụng cho bạn hơn là bạn đi tìm những
lệnh trên thanh Trình đơn. Bạn nên mở một
hình ảnh ra và tham khảo những "Trình đơn
theo ngữ cảnh" của từng công cụ một. Đối với
một vài công cụ, Trình đơn ngữ cảnh sẽ thay
đổi tùy theo tình trạng của công cụ hoặc tập
tin được chọn tại một thời điểm nào đó. Ví
dụ, bạn hãy ghi nhận sự khác biệt giữa các
trình đơn ngừ cảnh của bất kỳ công cụ chọn
nào khi đã có vùng chọn hoặc khi không có
vùng chọn nào (hình 1.5 và 1.6) và sau khi
sử dụng bộ lọc (hình 1.7).
11
H UM to * » * P rth
Layer via Copy
Layar vtaCut
NMfUytr
____
Pr** Tranafofm
Tr»n»form
I22L_
Hình 1.6
Dos«>»cct
Soloct inverse
Fe ath ef™F e a th e r-
__________________
j
Snvc Selection—
Mat o W ork P -I th -
Laypr VB Copy
Lnyt>r V« Cut
_ w Lay°r- -
I_.I y »ri VI.1 V1J1
Ngw^yor
______
Fit«? Transform
Transform Sotoctron
K n ẫ s
Stroko_.
Unsharp Mask
F ad e U n sh a rp
Hình 1.7
5. Ngừ cảnh của công cụ Brush và
Bảng kiểm soát.
Trong khi sử dụng bất kỳ công cụ
tô màu nào (Airbrush, Clone Stamp,
Brush, Pencil, History Brush, hay
Gradient), trình đơn ngữ cảnh có chứa
nhửng tùy chọn (Option) để thay đổi
kích cỡ cọ (Brush) và chế độ pha trộn
(Belending Mode) (hình 1.8). Với tất cả
công cụ Brush, bạn hãy bấm đè Shift
+ click nút phải chuột để làm cho bảng
Brush (Brush Palette) xuất hiện (hình 1.9).
Đê thav đổi kích cỡ co:
• Phím ngoặc ôm hay móc đơn trái
(cạnh phím P): giảm kích thước (Size)
trong khi vẫn giữ nguyên độ đậm
(Hardness) và khoảng cách (Spacing).
• Phím ngoặc ôm hay móc dơn phải
(cạnh phím Enter): tăng kích thước
(Size) trong khi vẫn giữ nguyên độ đậm
(Hardness) và khoảng cách (Spacing).
» Shift + Phím ngoặc ôm hay móc đơn
trái: giảm độ đậm (Hardness) trong khi vẫn
giữ nguyên kích thước (Size)
• Shift + Phím ngoặc ôm hay móc đơn phải: tăng độ đậm
(Hardness) trong khi vẫn giữ nguyên kích thước (Size) và
khoảng cách (Spacing).
6. Trình đơn ngữ cảnh của công cụ Toning
Trình đơn ngữ cảnh của
công cụ Dodge và Burn giúp
bạn có thể thay đổi dãy tông
màu cần thiết (hình 1.10) và
ngữ cảnh của công cụ Sponge
cho phép truy cập đến chế độ
Saturate/Desaturate rất
nhanh.
Hinh 1.10
Hình 1.11
m ẹ t m m W M m a
ìtutítìbtssm.
Trình đơn ngữ cảnh của
công cụ Zoom.
Ngoài những kỹ thuật đã
biết về công cụ Zoom, bạn có
thể dùng ngữ cảnh của Zoom
để xem hình ảnh theo đúng ý
muôn một cách nhanh chóng
(hình 1.11).
Công cụ di chuyển nhanh
hình ảnh (Quick Image
Navigation)
Di chuyển trong khu vực
làm việc hoặc phóng lớn thu
nhỏ hình ảnh nhanh chóng
luôn luôn là một kỹ năng cơ bản của một người chỉnh sửa giỏi. Đôi
khi bạn cần phải phóng to hình ảnh đến 100-200% (hình 1.12) để
chỉnh sửa chi tiết có nghĩa là bạn chỉ thây một phần của toàn thể
bức ảnh. Do đó,'bạn phải làm quen với việc phóng to thu nhỏ
hình ảnh dễ dàng để xem chi tiết được sửa chữa cố phù hợp
Hình 1.12
13
với tổng thể bức ảnh hay không ? Bạn hãy sử dụng những kỹ thuật
dưới đây để đi chuyển hình ảnh:
Để phống to 100% hình ảnh:
• Bấm đúp (Double-click) vào công cụ Zoom (có hình kính lúp).
• Nhấn tổ hợp phím Ctrl + Alt + 0 (đây là số không, không
phải chữ O).
• Bấm phím Space + nút phảỉ chuột (ngữ cảnh) và chọn
Actual Pixels.
Để xem toàn bộ hình ảnh:
• Bấm đúp (Double-click) vào công cụ Hand (có hình bàn tay).
• Nhối tổ hợp phím Ctrl + 0 (đây là số không, không phải chữ O).
• Bấm phím Space + nút phải chuột (ngữ cảnh) và chọn Fit
on Screen.
Để phóng to một vùng chỉ định:
• Nhấn tổ hợp phim Ctrl + Space (con trô chuột biến thành
hình kính lúp +), click vào vùng chỉ định.
Để thu nhỏ một vùng chi định:
• Nhấn tổ hợp phím Alt + Space (con trỗ chuột biến thành
hình kính lúp -), click vào vùng chỉ định.
Để lướt qua hình ảnh:
• Bấm đè thanh Space bar để chuyển đổi bất kỳ công cụ nào
mà bạn đang kích hoạt (ngoại trừ công cụ Type được kích
hoạt và đang ở dạng con trỏ văn bản) chuyển thành hình bàn
tay (Hand tool), lúc ấy bạn có thể click chuột và kéo hình ảnh
đến vùng muốn xem. Thao tác này chỉ có thể thực hiện khi
hình ảnh của bạn được phóng lớn hơn màn hình mà thôi.
Sau đây là một số’ tổ hợp phím bằng bàn phím (keyboard)
ỉhác dùng để di chuyển:
• Nhảy đến góc trái phía trên : Home
• Di chuyển xuông một màn hình : Page Down
14
Di chuyển lên một màn hình : Page Up
• Di chuyển qua phải một màn hình : Ctrl + Page Down
• Di chuyển qua trái một màn hình : Ctrl + Page Up
7. Không gian làm việc
Màn hình của bạn chính là không gian mà bạn phải làm
việc. Do đó hãy sắp xếp nó cho gọn gàng và sạch sẽ. Điều đó sẽ
được bù đắp bởi sự tiết giảm thời gian và tránh hư hỏng. Hãy học
cách tận dụng mọi không gian mà màn hình cho phép bạn sử dụng:
• Bạn có thể làm việc ở chế độ “Toàn cảnh” (Full Screen Mode)
với thanh trình đơn hoặc “Toàn cảnh” không có trình đơn.
Bạn hãy bấm phím F để chuyển đổi qua lại giữa hai chế độ.
• Bạn có thể làm việc ở chế độ cửa sổ đôi (hình 1.13): một cửa
3 ***■«'. &«. Ü chiêu sự thay
bên cửa sổ thứ nhất.
Nếu những mẹo về việc di chuyển khiến bạn cảm thấy hơi
sổ chứa bảng
và hình ảnh
thu nhỏ; một
cửa sổ chứa
hình ảnh được
phóng to cho
phép chĩnh sửa
từng Pixels.
Bạn hãy chọn
View > New
View và bạn
hãy đặt cửa sổ
thứ hai sao cho
bạn có thể đối
Hình 1.13
đổi mỗi khi
bạn chỉnh sửa
15
lộn xộn thì nên nhớ rằng bạn không nhất thiết phải học tất cả
cùng một lúc, nhưng bạn chỉ nên học những gì mà bạn thường
xuyên sử dụng mà thôi, bao gồm các công cụ, cách đóng mở các
bảng v.v.
8. Học về tầm quan trọng của lớp
Với sự ra mắt của Lớp (Layers) trong phiên bản Photoshop
3.0, Adobe đã thực sự đi vào thế giới xử lý ảnh chuyên nghiệp. Đôi
với một chuyên viên chỉnh sửa ảnh, lớp là đặc trưng quan trọng
nhất trong Photoshop và xuyên suô't cuốn sách này, bạn sẽ làm
việc với tám loại lớp khác nhau:
• Lớp nển (Background Layer): đây là dữ liệu nguồn của bạn
và bạn nên xem như là bản dữ liệu gốc và đừng bao giờ chỉnh sửa
trực tiếp trên lớp nền. Để giừ cho lớp nền được toàn vẹn, bạn hãy
sao nó ra (duplicate) hoặc lưii lại như bản sao (Save as) trước khi
thực hiện chỉnh sửa màu sắc v.v.
• Lớp sao chép (Duplicate Layer): bạn có thể sao chép một
lớp bất kỳ bằng cách kéo lớp ây đến biểu tượng New Layer
(phía dưới Layer Palette) để tạo ra một lớp bản sao y hệt.
Qua dó bạn có thể xử lý và chỉnh sửa mà không sợ ảnh hưởng
đến bản gốc.
• Lớp bị sao chép (Copied Layer): Đôi khi bạn không muốn
sao chép toàn bộ lớp vì bạn chỉ cần làm việc trên một phần
của lớp mà thôi. Trong trường hợp đó, bạn hãy dùng công cụ
chọn để chọn vùng mà bạn chỉ định rồi chọn Layer > New >
Layer Via Copy, Photoshop sẽ sao chép vùng được chọn và
dán nó lên một lớp khác với đầy đủ thông tin dữ liệu của lớp
nguồn.
• Lớp k ế t d ính {Merged Layer): khi sô" lượng lớp gia tăng, sẽ
dễ dàng cho bạn hơn nếu các lớp được ép phẳng lại trên cùng
một lớp (flattened layer) thành một lớp tổng hợp.
• Lớp điều chỉnh (Adjustment Layer): được giới thiệu trong
16
phiên bản Photoshop 4.0 cho phép bạn thực hiện chỉnh sửa
tông màu và màu sắc mang tính chọn lọc và toàn diện.
Chúng ta sẽ đề cập sâu hơn vấn đề này ở chương 5, 6, 7.
• Lớp trống (Empty Layer): Photoshop hiển thị lớp trông bàng
nền có mắt lưới, nó có tác dụng ngăn không cho những tác
động của lớp ở trên nó ảnh hưởng đến những lớp bên dưới nói.
• Lớp trung tính (Neutral Layer): Photoshop sẽ khống hiển
thị màu trắng, xám, hay đen thuộc màu trung tính (neutral
color) của chế độ pha trộn (Blenđing mode) khi được áp dụng
cho sự phối hợp với chế độ pha trộn của những lớp riêng biệt.
Chúng ta sẽ dùng lớp Trung' tính cho việc cải thiện mang tính
nhẹ nhàng và ấn tượng trong suốt quá trình chỉnh sửa.
• Lớp màu tô (Fill Layer): là lớp mới của Photoshop 6.0 cho
phép bạn thêm vào những tính chất của G radient, Soỉiđ
color, P atte rn fill v.v như một lớp tách biệt. Lớp màu tồ
theo kiểu Solid color thực sự hữu dụng khi tô màu và chọn sắc
thái màu cho hình ảnh. Khía cạnh nổi bật nhất của lớp chính
là vì tất cả chúng (ngoại trừ lớp nền) đều được hỗ trợ bởi lớp
mặt nạ (mask layer), chế độ pha trộn (blending mode), sự
thay đổi độ ỈĨ1Ờ đục (opacity), và những tùy chọn pha trộn cao
cấp - những tính chất mà bạn sẽ làm việc trong quá trình
chỉnh sửa và phạc chế ảnh.
9. Đặt tên lớp và sự di chuyển
Lớp (layer) cho phép bạn xây dựng việc chỉnh sửa. Đôi khi,
bạn cần tới 5, 10, 20 lớp hay nhiều hơn nữa dể hoàn tất một công
trình chỉnh sửa. Nếu chỉ dựa vào cách đặt tên theo chủng loại của
Photoshop, chẳng hạn như Lớp 1, Lớp 1 copy v.v thì việc xác
định một, lớp quả thật là rối rắm và dễ gây nhầm lẫn khi bạn
muôn tìm một lớp nào đó để xử lý. Dù chỉ tốn một vài giây, thế
nhưng việc đặt tên cho lớp một cách hợp lý (theo ý nghĩa của việc
chỉnh sửa) cho phép bạn xác định chính xác, dẻ dàng và nhanh
chóng một lớp bất kỳ. Hãy xem sự khác biệt giừa 2 lớp: bên trái đo
17
I \ * r j \ k m
~3 » » ka» 1»J
K*rũr/ r + r§
Photoshop đặt tên và một
đã được đặt tên lại (hình
1.14). Điều này giúp bạn
sử dụng và xử lý các lớp
dễ dàng hơn rất nhiều.
Ngoài ra, trình đơn ngữ
cảnh (Context-sensitive
menu) của công cụ Move
sẽ giúp bạn truy cập cấp
tốc đến mọi lớp có những
thông tin về Pixel tại vị
trí mà trỏ chuột đang hiện
hữu (hình 1.15); bạn bấm
nút phải chuột, lập tức
trình đơn xổ xuống trình
bày mọi tên lớp của tập
tin mặc dù bạn vẫn chưa
mở Bảng Lớp (Layer
Palette).
Trong Photoshop
6.0, để đặt tên cho lớp,
bạn có thể chọn Layer
Properties từ Đảng Layer
(click hình tam giác nằm
ngang) hoặc bạn bấm
phím Alt và click chuột vào tên lớp để có cùng tác dụng.
TlifliqjftiBjtr
Mlxllĩir,1 Ị-ÉI Éi
Hình 1.14
10. Làm việc với bộ lớp (Layer Set)
Trong Photoshop 6.0, mặc dù bạn có thể tạo đến tối đa
những 8.000 lớp và hiệu ứng lớp, tuy nhiên vẫn cẩn có những
phương pháp tổ chức và quản lý các lớp sao cho có hiệu quả. Bộ lớp
(layer set), như trình bày ở hình 1.16, là những thư mục mà trong
đó bạn có thể đặt những lớp có liên quan chung với nhau. Thư mục
18
này có thể được kéo dãn
ra (expanded) hay thu gọn
lại (collapsed), bạn có thể
di chuyển các lớp lên
hoặc xuống trong Bộ lớp
và bạn cũng có thể di
chuyển Bộ lớp lên hoặc
xuống trong bảng lớp.
Có hai cách để
thành lâp một Bộ lớp:
Hình 1.15
• Chọn New
Layer Set từ menu
của Layer Palette,
đặt tên cho Bộ lớp và
rồi kéo từng lớp có
liên quan vào trong
Bộ lớp.
• Liên kết (Link)
tất cả các lớp có liên
quan (click vào cột
thứ 2 trong bảng để
có hình móc xích) rồi
chọn New Set from
Linked Ở menu của
Layer Palette, tất cả
các lớp liên kết sẽ
được đặt vào một Bộ
lớp mới được tạo ra.
• Kéo Bộ lớp xuống thùng rác (trash can) (biểu tượng thùng rác
phía dưới Bảng) để hủy toàn bộ Bộ lớp mà không cần đưa ra
hộp thoại cảnh báo (Warning dialog box) nào.
m
flat W1P
C h annel Mlxar
hair » hadow*
Skin softening
blu rred face
sh a rp facv
• y n
h air h igh lig ht»
ten «y* whrt»
tyw brtflhtef
Qnfltn«»
Hình 1.16
Có ba cách để hủy một Bộ lớp:
19
• Chọn Delete Layer Set từ menu Layer Palette. Hộp thoại như
hình 1.17 sẽ cung câ'p cho bạn những lựa chọn để hoặc hủy
bỏ việc thi hành, hoặc hủy
Các lớp sẽ được sắp xếp lại theo đúng thứ tự của chúng bên trong
Bộ lớp.
Bạn có thể dùng màu để làm dâu mã cho một lớp nhằm
đánh dấu sự tương quan với các lớp khác và bạn cũng có thể khóa
các lớp để tránh những sửa đổi ngoài ý muốn. Tóm lại, việc tổ chức
Bộ, đặt mã màu, đặt tên cho lớp chỉ tốn rất ít thời gian nhưng lại
tiết kiệm rất nhiều công sức cho việc săn lùng, tìm kiếm những lớp
cần thiết. Việc thành lập và sử dụng các lớp thích hợp cũng như
những qui định về việc đặt tên cho Bộ lớp đều mang tính bắt buộc
nhăm đi đến một trình tự làm việc có hiệu quả. Nếu bạn làm việc
chung với một tập thể thì việc đặt tên cho lớp càng quan trọng
hơn. Thử tưởng tượng bạn đang phụ trách một đề án chỉnh sửa
phức tạp và vì một lý do nào đó, bạn không thể tiếp tục nữa; thế
rồi người kế tục công việc của bạn sẽ phải tiếp nối những gì còn
dang dở. Nếu như tất cả các lớp đã được bạn đặt tên một cách rõ
ràng, ý nghĩa và được sắp xếp theo trình tự lô-gích thì người ấy sẽ
chẳng nhọc công sức lắm để hoàn tất phần còn lại. Bằng ngược lại,
anh ta sẽ phải bới tung tất cả lên để nắm cho được những gì đã
được thực hiện và chắc chắn anh ta sẽ vất vả rất nhiều với phần
còn lại. Nói tóm lại, bạn hãy đặt tên cho lớp theo cách hợp lý
nhất.
II. TỔ CHỨC TẬP TIN VÀ TRÌNH Tự CÔNG VIỆC
Bạn hãy bỏ chút thời gian để tố chức lại thư mục và tập
I Cancel I I Sot Only itsot and Contents!
bỏ Bộ lớp và nội dung chứa
trong đó.
• Bấm đè phím Ctrl và
kéo Bộ lớp đến thùng rác
để chỉ hủy bỏ Bộ và vẫn duy
trì các lớp chứa bên trong.
Hình 1.17
20
tin. Điều đó sẽ giúp bạn làm việc hiệu quả hơn, tiết giảm được thời
gian tìm kiếm và cũng giảm bớt nguy cơ hủy nhầm những tập tin
quan trọng. Mỗi khi bắt tay vào một đề án nào, bạn nên tạo ra một
thư mục cái chứa trong đó là
3 thư mục con : tập tin quét
Scan, tập tin chế biến
(W.I.P), tập tin thành phẩm
(hình 1.18). Như bạn thấy,
những tập tin quét từ máy
Scan dùng để cung cấp tư liệu
mà thôi; tập tin chế biến
gồm những lớp xuất xứ từ những tập tin khác nhau, tạo ra bởi
những phiên bản Photoshop khác nhau và những bước diễn tiến
của việc chỉnh sửa; còn thư mục thứ ba là những tập tin đã được
gọt dũa, định kích thước, ép phẳng và chỉ do một phiên bản duy
nhất tạo ra mà thôi.
1. Trình tư chỉnh sửa
Mỗi đề án chỉnh sửa là duy nhất, nó đòi hỏi một đôi mắt
nhạy bén và một con chuột đồng cảm. Và dĩ nhiên bạn cũng phải
là duy nhất vì bạn phải nghĩ ra một trình tự làm việc cho đề án
của riêng bạn.
Những bước cơ bản trong trình tự chỉnh sửa thông thường như
sau:
• Khảo sát ảnh nguồn: nghiên cứu ảnh nguồn và xác định
những vấn đề hoặc khu vực cần xử lý, tu sửa hoặc thay thế.
Đừng bao giờ nhấp chuột mà không bỏ ra vài phút để xác
định tính chất của cả hình ảnh lẫn con người trong bức ảnh.
• Nguồn nhập: hãy quét (scan) ảnh nguồn. Để có thêm thông
tin về việc quét ảnh, bạn có thể đến Website
www.digitaIretouch.org và tải tập tin “Scanning and
Resolution.PDF” xuống.
• Triển khai chiến lược: lập một kế hoạch để phác thảo
Oatc Modified kind
y Finals
Today. 13:35 folder
• kátón .for x lv p íd
Wed, Al>r 12. 2000. 18:14
13.9 MB
photoshop file-
■ Q O rtOtaal
• katrm_orK)»nal t>ff fn. Feb 4. 2000.17:10
17 .9 MB
document
S fc i WIP
Today. 19:32
-
folder
katrtn pfu3 Wed. Apr 12. 2000,18:13
14.9 MB
photoshop file
Wod. Apr 12. 2000, 18:17
74 1 MB
photoshop IHc
Hình 1.18
21
những bước cho việc chình sửa. Hãy bắt đầu với những vấn
đề lớn - độ sáng, màu sắc, độ tương phản - và rồi tiếp đến
những vấn đề như : chấm hạt, nấm mốc, vết trầy hoặc loại bỏ
những đường gạch, nếp nhăn hoặc vết lem. Bạn hãy ghi chú
ra giấy như đã trình bày
à chương 10 “Chỉnh sửa vẻ đẹp và
thời trang*. Cấu trúc của cuốn sách nhằm phản ánh chiến
lược chình sửa của riêng tác giả - nó bắt đầu với những vấn
đề lớn và rồi đi dần đến những sắc thái tỉ mỉ của việc phục
chế và chỉnh sửa.
• Chỉnh sửa: bạn hãy lên kế hoạch chỉnh sửa. Như nói ở trên,
bạn hãy làm việc trên bản sao của hình quét ảnh nguồn và sử
dụng lớp để xây dựng công việc của bạn.
• Nguồn xuất và giao hàng: bạn hãy in ra và giao tập tin
cho khách hàng.
• Lưu trữì bạn hãy sao lưu tất cả những tập tin có liên quan
trong một đề án
2. Kết luận
Điều duy nhất mà không cuốn sách vi tính hoặc một khóa
học nào có thể cho bạn, đó là niềm say mê trong thực hành, học
hỏi và sự cảm nghiệm với kỹ năng và kỷ thuật để có thể trở nên
một chuyên viên chĩnh sửa giỏi. Vỉệc chinh sửa ảnh không chỉ là
việc loại bỏ chấm hạt hoặc lấp đầy những nếp nhăn ở chỗ này hay
ở chỗ kia mà nó còn giúp bạn đem lại cho ai đố những kỷ niệm
thân thương từ những tấm ảnh đã phai mờ. Việc chỉnh sửa phục
hồi ảnh là một 8Ở thích kỳ lạ và là một nghề nghiệp đầy thách đô';
do dó chúng ta hãy chuẩn bị và lao vào công việc đi thôi I
CHƯƠNG 2 : SỬA CHỮ A TÔNG MẢ u
ĐỎ PHƠI SÁNG VÀ MẨU SẨC
L CẲI THIỆN TỔNG MÀU VÀ ĐỘ TƯƠNG PHẢN
Nếu bạn phải chọn đi đến giữa một cãn phòng đầy ánh
sáng và một không có ánh sáng, bạn sẽ chọn thế nào ? Tôi nghĩ
rằng bạn sẽ chọn căn phòng đầy ánh sáng, trừ phi bạn là một
người thích loại phim kinh dị.
Làm việc với tông màu và độ tương phản cũng giống như
việc thắp sáng cho một cán phòng. Sự hài hòa giữa vùag sáng và
tôi của một bức ảnh có khả nàng biến đổi một bức ảnh tẻ nhạt,
buồn chán trở nên sống động và ưa nhìn. Điều chình tông màu và
độ tương phản là một bước rất quan trọng dể dem lại sinh khí cho
một bức ảnh. Mặc dù công việc này không lôi cuốn và gây ấn tượng
như việc thay thế một cáí đầu người hoặc loại bồ một sợi dây điện
thoại phiền toái, nhưng việc chỉnh sửa tông màu và độ tương phản
bằng Levels và C urves là một kỹ năng cơ bản.
Trong chương này bạn sẽ làm việc với những bức ảnh
thang xám (Grayscale) và học cách để:
• Đánh giá sắc thái của một bức ảnh,
• Dùng levels để cải thiện vùng sáng và vùng bống tối.
• Dùng curves để diều chỉnh độ tương phản của hình ảnh.
• Dùng chế độ pha trộn (blending modes) để tiết giảm thời gian.
• Chia sẻ bằng lớp điều chinh để tiết kiệm sức lực.
• Áp dụng sự cải thiện tông màu cổ chọn lọc cho những vùng
đặc trưng của một bức ảnh.
ư. ĐÁNH GIÁ SẮC THÁI CỦA MỘT BỨC ẢNH
1. Ý nghĩa:
Việc dành một khoảnh khắc để đánh giá sắc thái của một
bức ảnh là đặc biệt quan trọng. Trong khoảnh khắc ấy, bạn nêi
xác định tính chất tông màu của bức ảnh sẽ như thế nào sau kh
việc chỉnh sửa hoàn tất. Kỹ thuật này, được gọi là “sự hình dun£
trước”, do Ansel Adams và Edward Westen, hai nhiếp ảnh gia phiir
trắng đen, triển khai. Bằng cách tưởng tượng ra bức ảnh thành
phẩm, bạn sẽ tạo ra một mục tiêu và tập trung để hướng đến đó. Ví
dụ, bạn mở một bức ảnh tối tăm và bạn sẽ hình dung trước là “Tôi
muốn bức ảnh này sáng sủa hơn”. Có được cái nhìn về mục tiêu sẽ
giúp bạn tập trung hơn và không mất thời giờ cho những tùy chọn
khác của Photoshop. Tính chất tông màu của một bức ảnh có thể là
sáng, tối, hoặc trung
bình - còn gọi là
khóa cao (high-key),
khoá thá'p (low-key)
hoặc khóa trung
bình (Medium-key).
Tùy theo chủ đề của
bức ảnh và sô' lượng
ánh sáng trên bức
ảnh gốc mà bạn xác
định tông màu của
nó. Nếu bạn không
chắc chắn về một
loại tông màu nào đó
thì bạn có thể tham
khảo mục Image >
Histogram hoặc Le-
vels Adjustm ent
Layer, chúng sẽ cho bạn vài sự trợ giúp hữu ích.
Histogram là một dạng đồ thị tượng trưng cho những
Pixels của một bức ảnh chuyển từ vùng đen (bên trái) sang vùng
trắng (bên phải). Số lượng Pixels tại một đoạn càng nhiều thì
đường Histogram tại đoạn ấy càng lớn. Do đó, chúng ta có thể
Hinh 2.1
24
M*í
Hình 2.2
132.76 i**> 133
•***>■• ÍS J 4 '« # * W31
•Vtoi 1« r««M* 44.30
'em, «*»*»»* í
Hình 2.3
nhìn vào H istogram
của một bức ảnh để
biết thông tin về sự
phân bố tông màu
của những Pixels.
Như hình 2.1, đường
Histogram của bức
ảnh khóa cao dồn về
bên phải vì bức ảnh
chủ yếu được tạo nên
bởi những Pixel sáng
hơn. Còn trong hình
2.2, đường H isto
gram khoá thấp ngã
về bên trái vi bức
ảnh chủ yếu gồm
những Pixel tối hơn.
Và trong hình 2.3,
đường Histogram
khóa trung bình trải
dài ra tập trung vào
khoảng giữa. Dĩ
nhiên, cũng có
những bức ảnh với
đường H istogram
phức tạp hơn như
hình minh họa 2.4 :
bức ảnh có 2 nhóm
Histogram.
Trong khi
chỉnh sửa, thật hữu
ích nếu bạn biết rõ
về loại tông màu của bức ảnh đang được xử lý vì bạn sẽ không để
25
việc chỉnh sửa đi đến
chỗ quá đáng. Ví dụ,
nếu bạn đang xử lý
một bức ảnh mà
đường Histogram có
khuynh hướng
nghiêng về bên phải
(trắng); thật là vô ích
nếu bạn cố làm cho
tính châ't tông màu
của ảnh có bóng tối
(đường Histogram
ngã về bên trái). Để
làm quen với những
con số tượng trưng
cho giá trị của tông màu - vùng bóng, vùng midtones hoặc vùng
sáng của một bức ảnh - bạn phải biết vùng nào trên đường
Histogram cần được chỉnh sửa để làm cho bức ảnh sáng hơn hoặc
tôi hơn.
Ghi chú:
Khi làm việc với ảnh trắng đen, hộp thoại Image >
Histogram và Levels sẽ giống nhau. Nhưng với ảnh màu, chúng
sẽ có sự khác biệt:
• Hộp thoại Image > Histogram sẽ trình bày cả thông tin về
độ sáng lẫn thông tin về từng màu R, G, B.
• Hộp thoại Levels chỉ thông báo thông tin về kênh tổng hợp
RGB và từng kênh R, G, B riêng lẻ.
ỉ. Đánh giá sắc thái với công cụ m easure
Đánh giá hình ảnh trên một màn hình định chuẩn và
rong một môi trường làm việc có kiểm soát là điều cơ bản cho việc
MNft T4 *l IM 12S
«147 ÙM* 11070
MMho 44 fercamlt 72.42
1440400 ( M M I , _
Hình 2.4
26