DANH SÁCH NHÓM 7
STT HỌ VÀ TÊN PHẦN TRĂM HOẠT ĐỘNG
1 Nguyễn Tấn Đạt 100%
2 Phạm Quốc Hải 100%
3 Nguyễn Thị Thúy Hằng (5-3) 100%
4 Nguyễn Thị Thúy Hằng (23-9) 100%
5 Nguyễn Thị Thu Lệ 100%
6 Ngô Thị Minh Nguyệt 100%
7 Trần Thị Mỹ Trinh 100%
8 Nguyễn Thị Thanh Truyền 100%
9 Dương Tường Vi 100%
!"#
$%
&'()*+(,-'+./0123)4+5,06.078 ,94+5,2:).'+;.0<*+)=>06.?@+,A%
B3)4+5,06.078%
1
C94+5,2:).'+;.06.?@+,ADEEFEGHIEGEJK
+)=>06.?@+,AL
6)*+7.'M/)N723)4+5,06.078 ,O4+5,2:).'+;.-P706.?@+,A0<*+8=>06.?@+,ABB
B6)*+7.'M/)N723)4+5,Q1.0780<*+)=>06.?@+,ABB
C6)*+7.'M/)N7,94+5,2:).'+;.06.?@+,A0<*+)=>06.?@+,ABR
6)*+7.'M/)N7S78T+,6U23)4+5,Q1.078 ,94+5,2:).'+;.06.?@+,A0<*+)=>06.?@+,A
BV
WEX !"#$
EHHXDCYYZFCYBYJCB
'[-,\]./23)4+5,Q1.078 ,94+5,2:).'+;. *+)=>06.?@+,A^)M,7=,\_.//)7)?_].')M.
.78 CB
B3)4+5, CB
BB'[-,\]./CB
C94+5,2:).'+;.06.?@+,AC
+)=>06.?@+,AZ
'[-,\]./=6)*+7.'M/)N723)4+5, ,94+5,2:).'+;.0<*+)=>?@+,A%%
B6)*+7.'M/)N723)4+5,0<*+)=>?@+,A%%
C6)*+7.'M/)N7,94+5,2:).'+;.0<*+)=>06.?@+,A%V
U`aba !"#$
ZY
(-/)c)d'(d01*+)=>06.?@+,AZY
B(-/)c)d'(d=7./e.'0f=>ZY
C(-/)c)d'(d\)g./?6)0h),i././+j.06.ZC
)c)d'(d0123)4+5,Z%
]=d'(,?3-kl5+')M+g=lm+ ,\_./n').')1+l_7.'./')Md0o.,')T+06. .'A./0o..g.QTd
,p-(dlp./-'q.'4(-','r,-'s,Q1.,M 'q.'d'P0o.QTd,p-n)t=4_(,/)(=u,46=s,'<./
,')T,8T+ .';d4)g+0o.2h. -(.-v.,'Aw./=])0o.Su)-') ?s-S)M, ,'x)/)7.,h)2<-'+ny,z./
/)(-P7.z=QTd,p-l+8,\{-'q.'4(-','r,-'s,Q1.,M2<-@.,')T,,\_./,'x)/)4'4(-'-k,'t/)|d
}~2•?A:--c.')1+d'q7Z%
B)c)d'(d01,94+5,2:).'+;.06.?@+,AZ%
C6)?7'k72:).'+;.Z%
z./'M46*+780€./06.Z%
&•ZZ
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hơn một thập kỉ qua, vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện
trên trường quốc tế. Thành tựu đó đạt được nhờ tiềm năng kinh tế to lớn cũng như
hoạt động đầu tư và thương mại không ngừng gia tăng của Việt Nam đối với các
nước trên thế giới.
Năm 2010 là một năm thành công đối với nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù sau
khủng hoảng, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi
tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao, GDP 2010 ước tính đạt 104,6 tỷ
USD. Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm 2006-2010, tổng vốn FDI
thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký
mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7
lần so với giai đoạn 2001-2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn
1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16%
Những con số trên đã góp phần tạo dựng hình ảnh Việt Nam như một điểm đến hấp
dẫn đối với các nhà đầu tư. Điều này còn cho thấy qui mô vốn có tác động quan
trọng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong khi đó, bản thân vốn đầu tư chịu
tác động của rất nhiều các nhân tố, trong đó lãi suất tiền vay và tỷ suất lợi nhuận vốn
đầu tư là hai yếu tố quan trọng quyết định đến quy mô vốn đầu tư. Vậy bản chất lý
luận trên ra sao và thực trạng mối quan hệ trên ở Việt Nam như thế nào? Những vấn
đề trên đòi hỏi việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận
và qui mô vốn đầu tư dưới góc độ lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể đưa đến một cái nhìn tổng
quát và mới mẻ hơn về qui mô vốn đầu tư đặt trong mối quan hệ với lãi suất tiền vay
và tỷ suất lợi nhuận từ đó có thể đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng qui mô vốn đầu
tư
3
CHƯƠNG I . LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT TIỀN
VAY, TỶ SUẤT LỢI NHUẬN VÀ QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ.
I. Khái quát chung về lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận và qui mô vốn đầu
tư
1. Lãi suất vốn vay
1.1. Khái niệm
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của vốn – giá cả của quan
hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các
dạng hình thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người
cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của
số tiền lãi trên số vốn gọi là lãi suất
1.2. Vai trò của lãi suất
Ở tầm kinh tế vi mô, lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết
kiệm, đầu tư số vốn tích lũy được vào danh mục đầu tư khác,…
Ở tầm kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất
nhạy bén và hiệu quả: thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời
kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư,
do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng,
sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước.
Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính sách
lãi suất còn được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng
vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định
của tỷ giá. Điều này không những tác động trực tiếp đến đầu tư phát triển kinh tế mà
còn tác động đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước đó
đối với nước ngoài.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
Cung cầu các quĩ cho vay
4
Lãi suất là giá cả của tín dụng, do vậy, bất kì sự thay đổi nào của cung cầu
quĩ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi lãi suất trên thị trường.
Tuy nhiên, mức độ biến động của lãi suất ít nhiều còn phụ thuộc vào các
quyết định của chính phủ và NHTW. Điều đó cho thấy, chúng ta có thể tác động vào
cung hay cầu vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu
chiến lược từng thời kì.
Lạm phát kì vọng
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất,
yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của
vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát.Theo
Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ
cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực
kỳ cao.
Hình 1: Ảnh hưởng của lạm phát đến lãi suất
Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng. Điều này có một ý nghĩa
quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát
tăng.Trên cơ sở đó, có một chính sách lãi suất hợp lý. Khi lạm phát cao, nhà nước
cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc nhà nước
5
tung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát. Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị
rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi
suất.
- Bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách của NHTW sẽ trực tiếp làm cho cầu của quĩ cho vay tăng
làm tăng lãi suất, tăng lạm phát gây ra áp lực làm tăng lạm phát.
Về phía Chính phủ, khi bội chi NSNN thì Chính phủ thường gia tăng phát
hành trái phiếu làm cung trái phiếu trên thị trường tăng, giá trị trái phiếu có xu
hướng giảm xuống. Chính điều này đã làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên.
Về phía các NHTM, tài sản có của họ tăng ở mục trái phiếu Chính phủ, dự
trữ vượt quá của họ bị giảm. Do đó, lãi suất ngân hàng tăng lên.
- Những thay đổi về thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất
giống như khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh
nghiệp luôn tác động đến lợi nhuận của họ. Cho nên nếu các hình thức thuế này tăng
lên cũng có nghĩa là nó sẽ điều tiết bớt một phần thu nhập của cá nhân doanh nghiệp
làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán tức là các NHTM và các
công ty Chứng khoán.
Thông thường, ai cũng quan tâm đến thu nhập thực tế hơn thu nhập danh
nghĩa thì đương nhiên các tổ chức kinh doanh chứng khoán phải cộng thêm vào lãi
suất cho vay những sự thay đổi về thuế làm lãi suất tăng lên.
- Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố kể trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu tác động của
những sự thay đổi trong đời sống xã hội. Ví dụ như sự phát triển của thị trường tài
chính với các công cụ tài chính đa dạng.
6
Thêm nữa, tình hình về kinh tế, chính trị của cũng như những biến động tài
chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng
vốn đầu tư ra vào đối các nước đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất của các
nước khác.
Tất cả các vấn đề này đều gợi ý cho tất cả những nghiên cứu, soạn thảo và
điều hành về chính sách lãi suất phải có sự nhìn nhận và đánh giá một cách tổng thể
trước khi đưa ra bất kì kết luận hoặc quyết định nào đến lãi suất.
2. Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư ( RR- RATE OF RETURN)
2.1. Khái niệm
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thuần tính cho từng năm hoặc tính cho
cả đời dự án thu được từ 1 đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng.
- Nếu tính cho từng năm:
W
ipv
RR
i
=
I
VO
Trong đó:
RR
i
: Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư năm i.
W
ipv
: lợi nhuận thuần năm i tính đến thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động
I
VO
: Vốn đầu tư tính tại thời điểm dự án đi vào hoạt động.
Dựa vào RR
i
từng năm mà ta co thể so sánh giữa các năm và thấy được sự
khác biệt này ở các dự án khác nhau.
- Nếu tính bình quân năm của cả đời dự án:
W
RR =
I
VO
Trong đó:
7
W : Lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án theo mặt bằng hiện tại.
Tuy nhiên trong thực tế để cho dễ tính ta có thể lấy lợi nhuận thuần của 1 năm
hoạt động ở mức trung bình trong đời dự án thay cho lợi nhuận. Khi tính cho cả đời
dự án, chỉ tiêu này lại phản ánh mức thu nhập thuần tính trên 1 đơn vị vốn đầu tư.
2.2. Vai trò của tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng
để nhà đầu tư đưa ra lựa chọn quyết định đầu tư vào dự án nào. Nó phản ánh tốc độ
thu hồi vốn, nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ khả năng thu hồi vốn càng
nhanh và sau đó là lợi nhuận dư ra càng cao. Nếu cùng vốn đầu tư như nhau thì
những dự án có tỷ suất lợi nhuận càng lớn càng thu hút được sự quan tâm của nhà
đầu tư, bởi nó hàm chứa lợi nhuận càng cao - đó là mục đích cuối cùng của nhà đầu
tư.
Tuy nhiên chỉ dựa vào tỷ suất lợi nhuận thôi chưa đủ, nhà đầu tư quyết định
đầu tư dựa trên hiệu quả biên của vốn ( tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư).
Tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư phản ánh lợi nhuận tăng thêm khi gia tăng
thêm 1 đơn vị vốn đầu tư. Điều đáng nói ở đây là tỷ suất lợi nhuận biên vốn đầu tư
giảm dần theo quy mô vốn đầu tư.
Dễ thấy để có được 1 đơn vị vốn đầu tư gia tăng đó nhà đầu tư phải đi vay,
phải trả lãi suất cho vay (nếu bản thân vốn tự có thì đó là chi phí cơ hội của đồng
vốn đó) và nó chính là giá của vốn vay. Do vậy nhà đầu tư sẽ tiếp tục đầu tư thêm
vốn tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn giá của vốn vay.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
- Lợi nhuận thuần
Dựa vào công thức dễ dàng nhận thấy ảnh hưởng của lợi nhuận thuần tới tỷ
suất lợi nhuận. Với cùng một số vốn đầu tư như nhau, dự án nào càng thu về nhiều
lợi nhuận thuần càng chứng tỏ tỷ suất lợi nhuận cao, và dự án càng trở nên hấp dẫn.
Lợi nhuận thuần là một chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh,
ngoài những hoạt động tốt hay xấu, doanh thu thu được nhiều hay ít, lợi nhuận thuần
8
bị phụ thuộc không nhỏ vào các yếu tố khác như: lãi suất, chính sách thuế, đặc biệt
là thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản hỗ trợ…
Trong đó ta đặc biệt nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất tiền vay: với bất kỳ
khoản vay nào đều phải trả chi phí của nó đó là lãi suất cho vay, do đó khi tăng lãi
suất cho vay đồng nghĩa với chi phí về vốn tăng dẫn đến lợi nhuận thuần giảm, và
ngược lại.
+ Khi lãi suất tăng, chi phí vốn lớn. Điều này sẽ làm lợi nhuận thuần giảm.
+ Khi lãi suất giảm, chi phí vốn giảm. Điều này sẽ làm lợi nhuận thuần tăng.
- Vốn đầu tư
Vốn đầu tư tác động đến tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư không chỉ đơn thuần
theo công thức đã trình bày ở trên mà nó còn thể hiện ở chỗ:
Khi gia tăng quy mô vốn đầu tư, đồng nghĩa với cầu vốn đầu tư tăng, tất yếu
dẫn đến lãi suất cho vay hay chi phí vốn vay tăng ( do dịch chuyển đường cầu) do
đó lợi nhuận thuần thu được sẽ giảm, tất yếu tỷ suất lợi nhuận giảm. Chúng ta sẽ
xem xét cụ thể vấn đề này ở phần sau.
3. Qui mô vốn đầu tư
3.1. Khái niệm vốn đầu tư
- Vốn đầu tư
"Capital - vốn ( tư bản): một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh
tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu
vào cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai
và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản
chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của
nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB
Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr. 129).
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá:
9
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên phương
diện nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí
đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động).
Theo Luật Đầu tư năm 2005, vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực
hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
- Qui mô vốn đầu tư
Trong hoạt động kinh tế, quy mô vốn đầu tư là một chỉ tiêu phản ánh tốc độ
tăng trưởng và sức mạnh của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Qui mô vốn đầu tư trong một thời kì nhất định được biểu hiện bằng đơn vị
giá trị thông qua lượng tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh ( bao gồm tài
sản cố định và lưu động ).
3.2. Vai trò của vốn đầu tư
Vốn đầu tư phần lớn được chi dùng vào việc tái sản xuất mở rộng, nhằm mục
đích phát triển và tăng trưởng nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Hoạt động đầu tư là một trong những lĩnh vực chuyển hóa của nền kinh tế và
được coi là một bộ phận vận hành của nền sản xuất vật chất xã hội, để từ đó tạo nên
tiền đề cơ sở vật chất và điều kiện sản xuất kinh doanh sinh lợi. Về mục tiêu đầu tư
thường được xét trên 2 góc độ cơ bản sau:
− Xét theo góc độ vĩ mô: Quyết định đầu tư phải gắn liền với tầm phát triển
chung của nền kinh tế đất nước về các mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, văn
hóa xã hội, môi trường sinh thái…
− Xét theo góc độ vi mô: Quyết định đầu tư cần xuất phát những mục tiêu cụ
thể, nhất là về mặt tài chính với mục đích cơ bản là mang lại hiệu quả kinh tế thiết
thực.
3.3. Đặc trưng của vốn đầu tư
- Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản. Vốn được biểu hiện bằng giá trị
của những tài sản hữu hình và vô hình.
10
- Vốn phải vận động sinh lời. Để biến tiền thành vốn thì tiền phải thay đổi hình
thái biểu hiện, vận động và có khả năng sinh lời.
- Vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới có thể phát huy
tác dụng.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Khi xác định rõ chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được
sử dụng hiệu quả.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian. Vốn luôn vận động sinh lời và giá trị của vốn
biến động theo thời gian.
II. Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và
quy mô vốn đầu tư
1. Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay và qui mô vốn đầu tư
1.1. Tác động của lãi suất tiền vay đến qui mô vốn đầu tư
Nhân tố cơ bản quyết định đến đầu tư là lãi suất. Đầu tư phụ thuộc lãi suất vì
các quyết định đầu tư được đưa ra trên cơ sở hướng về tương lai. Các doanh nghiệp
có một số cơ hội đầu tư khác nhau với mức kỳ vọng khác nhau. Các doanh nghiệp
so sánh thu nhập kì vọng từ các dự án với chi phí vay tiền để tài trợ cho chúng, nói
cách khác là với lãi suất. Lãi suất thực tế chính là chi phí của đầu tư.
Lãi suất này được đăng báo và niêm yết tại các ngân hàng là lãi suất danh nghĩa.
11
b : Độ nhạy cảm của lãi suất
r : lãi suất trung bình năm i.
Trong thời kì có lạm phát, lãi suất danh nghĩa không phải là thước đo chính
xác chi phí thực của việc vay tiền.
Các doanh nghiệp căn cứ vào lãi suất thực tế khi đưa ra quyết định đầu tư. Họ
so sánh thu nhập thực tế của một dự án đầu tư với chi phí thực. Do đó chúng ta viết:
I= I (r)
I=I
o
+br
Trong đó r là lãi suất thực tế. Các mô hình chỉ ra rằng đầu tư phụ thuộc âm
vào lãi suất, do đó phù hàm với hàm đầu tư đơn giản đã được sử dụng khi xây dựng
các mô hình kinh tế vĩ mô .
I: Đầu tư
Io: Đầu tư tự định
12
I = Io – br
Nhìn chung, lãi suất có tác động ngược chiều với đầu tư, nói cách khác lãi
suất thấp kích thích đầu tư và ngược lại, trong đó tác động của lãi suất đến đầu tư
của khu vực tư nhân là nhạy cảm hơn đầu tư khu vực Nhà nước. Điều này là do các
doanh nghiệp của Nhà nước được tiếp cận nhiều nguồn vốn ngoài ngân hàng hơn
các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và được hưởng nhiều nguồn vốn ưu đãi với
mức lãi suất thấp hơn so với khu vực tư nhân.
Lãi suất trên thị trường nội địa cao hơn tương đối so với mức lãi suất quốc tế
đồng nghĩa với việc hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các chính sách
thu hút đầu tư nước ngoài của nhà nước trước hết đều phải đảm bảo một môi trường
kinh doanh ổn định, trong đó việc điều tiết lãi suất một cách hợp lí có ảnh hưởng rất
quan trọng.
Tuy nhiên, bản thân yếu tố lãi suất cũng có yếu tố hai mặt, đó là khi tăng lãi
suất cũng có nghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn. Điều này sẽ làm
giảm phần lợi nhuận thực của các nhà đầu tư. Tác động kích thích huy động vốn với
lãi suất phải hết sức cẩn trọng để xác định mức lãi suất phù hợp, có tác động tích cực
đến hiệu quả huy động vốn.
Lãi suất là giá cả của vốn nên một sự dù thay đổi nhỏ của lãi suất sẽ tác động
đến qui mô vốn đầu tư thông qua những tác động đến giá cả, hành vi người tiêu
dùng. Tác động này trên hai phương diện:
- Chi tiêu dùng và đầu tư:
Một sự tăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trong việc chi tiêu hiện tại hơn là chi tiêu
trong tương lai của cá nhân và công ty.
Khi lãi suất thực tăng lên, đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầu mua sắm nhà ở hoặc
các hàng tiêu dùng lâu bền do chi phí tín dụng để mua các hàng hoá này tăng lên.
Cùng với lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi thực cũng tăng lên. Sự gia tăng lãi suất
này tác động tới quyết định tiêu dùng của khu vực hộ gia đình theo hướng giảm tiêu
dùng hiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng trong tương lai.
13
Điều này đòi hỏi dự án đầu tư sử dụng vốn vay ngân hàng phải có tỷ lệ lợi
nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thực hiện với mức lãi suất cao
hơn này có thể giảm hay nói cách khác, đầu tư cố định có thể giảm. Ngoài ra, lãi
suất cao cũng làm tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụ như hàng trong kho) và
do vậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải giảm đầu tư dưới dạng vốn lưu động.
- Phân phối lại thu nhập:
Lãi suất tăng cao hơn sẽ phân phối lại thu nhập từ người vay tiền sang người gửi
tiền. Điều này làm tăng sức chi tiêu của người tiết kiệm, nhưng sự chi tiêu này bị
hạn chế bởi mức tiêu dùng cận biên (phần chi tăng thêm cho tiêu dùng trong mỗi giá
trị thu nhập tăng thêm), do vậy người tiết kiệm có xu hướng tăng chi tiêu dùng thấp
hơn sự hạn chế chi tiêu đầu tư của người đi vay, nhất là khi lãi suất tăng cao vượt tỷ
suất lợi nhuận đầu tư và các danh mục đầu tư và dự án, làm thu nhập của người đi
vay giảm. Do vậy, dẫn đến tổng chi tiêu giảm, GDP giảm.
Trong khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất
riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần
như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do
tác động của lạm phát. Lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn
kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay. Theo Friedman, ông cho rằng
trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ
kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao.
14
Hình 5.
Lãi suất ảnh hưởng đến quỹ cho vay trong trường hợp nền kinh tế ổn định
Tuy nhiên, tác động của lãi suất đến qui mô vốn đầu tư nhiều hay ít, nhanh
hay chậm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong từng quốc
gia thì mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tài chính thì mức độ tác động của lãi
suất cũng khác nhau.
1.2. Tác động của quy mô vốn đầu tư tới lãi suất tiền vay
Quy mô đầu tư thể hiện ảnh hưởng của mình đến lãi suất khi nó có nguồn vốn
đủ mạnh để tác động được đến thị trường. Thông thường là qua một trung gian tài
chính như NHTM hoặc các quỹ đầu tư tài chính.
Với các doanh nghiệp có qui mô lớn, do chi phí cận biên tăng nên họ thường
ít mở rộng sản xuất mà thường tập trung vào nâng cao chất lượng sản xuất. Vì vậy,
lãi suất cho vay ít ảnh hưởng hơn nhiều.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đặc điểm là ít vốn, lợi nhuận chưa cao nên
phải mở rộng qui mô để phát triển, hay cần nhiều vốn. Lãi suất tiền vay tăng sẽ làm
giảm cơ hội vay vốn mở rộng qui mô sản xuất. Như vậy, lãi suất tiền vay có ảnh
hưởng nhiều hơn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
15
Dù dưới hình thức nào thì quỹ đầu tư cũng đều gây ra ảnh hưởng đến quyết
định cũng như xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp. Nó giúp tạo ra sự luân
chuyển thuận lợi hơn cho đồng vốn trên thị trường, là kênh huy động vốn hiệu quả
cho các doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
Chính vì thế bất kì sự can thiệp nào của nhà nước đều gây ảnh hưởng hai
chiều giữa lãi suất và qui mô đầu tư, gây ra phản ứng nhạy cảm cho thị trường .
2. Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và qui mô vốn đầu tư
2.1. Tác động của tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư đến qui mô vốn đầu tư
Theo lý thuyết của Keynes, một trong hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư của doanh nghiệp là lợi nhuận kì vọng. Nếu lợi nhuận kì vọng lớn
thì nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh.
Theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, ta có đầu tư tỷ lệ thuận với lợi nhuận
thực tế: I = f ( lợi nhuận thực tế ). Do đó, dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được
lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao
hơn. Các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn
nội bộ và chính sự gia tăng lợi nhuận sẽ làm mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
ROI : Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
[ ROI] : Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư cho phép. [ROI] phụ thuộc vào ngành nghề
sản xuất kinh doanh và điều kiện vùng, lãnh thổ.
Nhà đầu tư sẽ cân nhắc giữa ROI và [ROI] để quyết định đầu tư:
− Nếu ROI ≥ [ROI] thì dự án có tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư càng lớn thì hiệu
quả tài chính của dự án càng cao, dự án càng hấp dẫn và nhà đầu tư sẽ quyết
định đầu tư.
− Nếu ROI < [ROI] thì dự án không đạt hiệu quả tài chính, và nhà đầu tư sẽ
quyết định chưa đầu tư.
2.2. Tác động của qui mô vốn đầu tư đến tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
16
Cũng theo Keynes, hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất lợi
nhuận vốn đầu tư của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả
biên của vốn giảm dần.
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư =
Vốn đầu tư
Keynes cho rằng theo đà tăng lên của vốn đầu tư, hiệu quả giới hạn của tư
bản giảm dần. Sự giảm sút trên là do hai nguyên nhân:
− Khi đầu tư tăng lên thì khối lượng hàng hóa cung cấp cho thị trường tăng lên,
do đó giá cả hàng hóa giảm xuống, nên kéo theo sự giảm sút của lợi nhuận.
− Cung hàng hóa tăng lên sẽ làm tăng chi phí tư bản thay thế. Trong điều kiện
tiến bộ kĩ thuật và tích lũy tư bản nhanh, thì hiệu qủa giới hạn của tư bản có thể
dẫn tới 0. Điều này làm giảm tính tích cực của nhà kinh doanh mở rộng đầu tư.
Cũng theo Keynes, tỷ suất lợi nhuận biên của vốn giảm dần khi dần tăng qui
mô vốn.
Hàm lợi nhuận biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa IRR và quy mô vốn đầu tư.
Qua biểu đồ ta thấy rằng với một sự tăng lên của qui mô vốn đầu tư kéo theo sự tăng
lên của tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR, nhưng sự gia tăng của IRR ít hơn so với sự
tăng lên của quy mô vốn.
17
Nguyên nhân của sự giảm sút này là do:
− Trong trường hợp cầu vốn tăng thì giá cả của vốn tăng trong khi nhà sản xuất
phải giữ nguyên giá bán 1 đơn vị sản phẩm để tạo lợi thế cạnh tranh. Như vậy, tỷ
suất lợi nhuận biên giảm dẫn đến tỷ suất lợi nhuận trên số tiền đầu tư mới giảm.
− Trong trường hợp cung vốn tăng thì doanh nghiệp có nhiều điều kiện vay vốn
mở rộng sản xuất. Lượng hàng hóa làm ra nhiều hơn làm tăng cung thị trường. Vì
đây là thị trường cạnh tranh nên giá bán ra phải giảm đi trong khi chi phí sản xuất
không đổi. Vì vậy tỷ suất lợi nhuận biên giảm kéo theo tỷ suất lợi nhuận vốn đầu
tư mới giảm.
− Qui mô vốn tăng dẫn đến sự lãng phí trong đầu tư. Vốn đầu tư quá mức dư
thừa gây ra sự không đồng bộ trong đầu tư. Điều này làm cho các yếu tố đầu vào
của quá trình sản xuất không cân xứng, không tối đa hóa được lợi nhuận mà còn
gây ra thất thoát làm tỷ suất lợi nhuận giảm.
3. Mối quan hệ giữa ba yếu tố: lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu
tư và qui mô vốn đầu tư
Như đã trình bày ở trên, qui mô vốn đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi
hai yếu tố lãi suất tiền vay và tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư. Tuy nhiên, hai yếu tố này
không tác động riêng rẽ mà đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với qui mô vốn đầu tư.
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư, chính sách tài khóa mở rộng ( tức là việc tăng
cung tiền bằng việc hạ lãi suất ) sẽ làm mức đầu tư cao hơn và do đó sản lượng thu
được cũng cao hơn. Theo đồ thị dưới đây, khi ta giảm lãi suất từ io về i1 thì cầu vốn
đầu tư sẽ tăng từ Io đến I1. Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng
vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách Khi lãi suất tức giá vay tiền lớn hơn tỷ suất
lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm đầu tư và ngược lại. Bởi vì chi phí
cận biên sẽ lớn hơn lợi nhuận bình quân, doanh nghiệp càng làm sẽ càng lỗ.
Cũng theo lý thuyết quỹ nội bộ đầu tư đã trình bày ở trên thì việc giảm thuế
lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó làm gia tăng đầu tư và tăng lợi
18
nhuận mà tăng lợi nhuận nghĩa là tăng quỹ nội bộ. Còn tài khóa mở rộng không có
tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lý thuyết này.
Hình 7. Tác động của lãi suất tiền vay đến đầu tư
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất tiền vay và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư là
quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi lãi suất tiền vay tăng thì lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm
19
giả và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư sẽ giảm
Nếu lãi suất vốn vay nhỏ hơn IRR của dự án thì nhà đầu tư sẽ mở rộng quy
mô đầu tư hoặc quyết định đầu tư vốn cho dự án kinh doanh đó. Ngược lại, nếu lãi
suất vốn vay lớn hơn IRR của dự án thì chủ đầu tư không đầu tư thêm nữa hoặc thu
hệp quy mô vốn đầu tư. Trong mô hình thì nhà đầu tư sẽ đầu tư vào 2 dự án A và B,
không đầu tư vào dự án C do C có IRR nhỏ hơn lãi suất vốn vay.
Cuối cùng, khi tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (IRR) tăng lên làm đầu tư
tăng kéo quy mô vốn đầu tư tăng theo, lãi suất giảm làm tiết kiệm giảm, đầu tư lại
tăng lên và ngược lại. Mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư
và quy mô vốn đầu tư được thể hiện.
Từ việc nghiên cứu mối quan hệ trên, ta có thể đưa ra kết luận :
20
1) Đánh giá được thực chất lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra được khi chưa trả lãi
vay, nộp thuế cho Nhà nước cũng như phần lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp. Do
đó, nó đánh giá được trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh cũng như trình độ sử
dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn huy động cho sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2) Mặt khác, chỉ tiêu này còn cho biết doanh nghiệp có nên vay thêm vốn hay không
và các chủ nợ ra quyết định có nên cho doanh nghiệp vay vốn nữa hay không. Như
ta đã biết, khi doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay lớn hơn lãi
suất vay vốn mà doanh nghiệp vay thì sẽ làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu vì sau khi doanh nghiệp phải trả lãi vay theo lãi suất vay thực tế trong kỳ,
phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Như vậy, trong tường hợp
này, doanh nghiệp tiếp tục đi vay để làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ không đi vay nếu như tỷ suất lợi nhuận trước thuế
và lãi vay nhỏ hơn lãi suất vay vốn vì lúc này doanh nghiệp phải trích thêm phần lợi
nhuận trước thuế được tạo ra từ các nguồn vốn khác (ngoài nguồn vốn vay) bù đắp
chi phí lãi vay phải trả trong kỳ.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ LÃI SUẤT TIỀN VAY, TỶ
SUẤT LỢI NHUẬN VÀ QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (2005-2010)
I. Thực trạng lãi suất tiền vay, tỷ suất lợi nhuận, qui mô vốn đầu tư ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
1. Lãi suất
1.1. Thực trạng
Trong những năm qua, thị trường tiền tệ Việt Nam đã có khá nhiều biến động
và vì thế, lãi suất cũng được điều chỉnh liên tục. Khi nhắc đến lãi suất, đầu tiên
chúng ta phải xét đến lãi suất cơ bản mà NHTW quy định. Trên lý thuyết, lãi suất cơ
bản sẽ là định hướng chung cho lãi suất trong nước.
Bảng 1: Lãi suất cơ bản 2004 đến nay (ĐVT:%)
21
Ngày áp dụng Giá trị Qui định
01/02/2005 7,80%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/12/2005 8,25%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/2/2006 8,25%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/12/2007 8,25%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/02/2008 8.75%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
19/05/2008 12%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/07/2008 14%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
21/10/2008 13%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
05/11/2008 12%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
05/12/2008 11%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
22/12/2008 8.5%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/02/2008 7%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
01/12/2009 8%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
05/11/2010 9%/năm Không vượt 150% lãi suất
cơ bản
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
22
Qua bảng số liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy được lãi suất đang là một
vấn đề khá đau đầu và hóc búa của nền kinh tế Việt Nam. Tình trạng lãi suất ngân
hàng liên tiếp tăng cao đã và đang khiến các doanh nghiệp và các nhà đầu tư khó
khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ năm 2005 đến nay, NHNN ba lần tăng một số lãi suất chủ đạo là lãi suất
tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, hai lần tăng lãi suất cơ bản đồng Việt Nam.
Theo số liệu của NHNN, trong năm 2005, lãi suất huy động VND tăng 0,6-
1,2%/năm, lãi suất cho vay VND tăng 0,6%/năm, lãi suất huy động bằng USD tăng
1,2-2,5%/năm và lãi suất cho vay bằng USD tăng 0,7- 1,5%/năm so với cuối năm
2004.
Trong những tháng đầu năm 2006, lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng VND của
dân cư kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,5-8,5% đối với các ngân hàng thương mại và trên
9% ở các NHCP. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng USD cũng tăng mạnh và đạt mức
xấp xỉ 5%/năm.
Sang tháng 5.2008, lãi suất cơ bản một lần nữa lại được điều chỉnh lên tới
12%-14%/năm, kéo theo đó là lãi suất tiền vay lên đến 20%-21%/năm.
Ngày 14/12/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành
văn bản số 9779/NHNN-CSTT yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) và các Ngân
hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố triển khai ngay một số công việc liên quan
lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam. Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
yêu cầu các TCTD ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam (lãi suất tiền
gửi, lãi suất giấy tờ có giá ) của các tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) và cá nhân, bao
gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm.Mức lãi
suất huy động vốn tối đa này được thực hiện kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2010 và
điều chỉnh giảm phù hợp với tình hình lạm phát và cung - cầu vốn thị trường.
Ngày 28/4/2010 ,theo thông tin NHNN đưa ra ,mức lãi suất cho vay tối đa
bằng VND là 13%/năm đối với các khoản vay để chi phí sản xuất nông-lâm-ngư
nghiệp; doanh nghiệp xuất khẩu, chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các
23
ngân hàng thương mại nhà nước đều đồng thuận từ 1/5/2010 giảm lãi suất cho vay
khoảng 0,5% - 1%/năm đối với các đối tượng vay theo chỉ đạo của Chính phủ tại
điểm d, khoản 5, Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ: áp dụng
mức lãi suất cho vay VND tối đa là 13%/năm đối với khoản vay để chi phí sản xuất
nông-lâm-ngư nghiệp; doanh nghiệp xuất khẩu, chi phí sản xuất của doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Đối với nhu cầu vay vốn cho các đối tượng kinh doanh bất động sản,
kinh doanh chứng khoán và tiêu dùng, các ngân hàng thương mại nhà nước áp dụng
lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận phù hợp với cung - cầu vốn và khả năng trả
nợ của khách hàng
Lãi suất huy động của các NHTM Việt Nam có dấu hiệu tăng mạnh trong
những năm gần đây. Đỉnh điểm của lãi suất là vào năm 2008 khi lãi suất huy động
của các NHTM VN có lúc lên tới 17 – 18%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1993
(22.04%). Lãi suất năm 2009 tuy có hạ xuống còn 8.5%, nhưng so với lãi suất huy
động của năm 2000 (3.65%) thì lãi suất huy động của các NH đã tăng tới 133%
trong giai đoạn 2000 – 2009. So với các nước trong khu vực thì lãi suất Việt Nam
thuộc hàng cao nhất. Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2009, lãi suất huy động của
Việt Nam và Indonesia thay nhau duy trì ở vị trí đầu bảng. Đặc biệt trong thời điểm
từ năm 2007 tới 2009 thì lãi suất huy động của Việt Nam biến động thất thường, từ
7.49%/năm trong năm 2007 lên tới 12.73%/năm trong năm 2008 và chỉ tạm thời kéo
về lại mốc 8.50%/năm trong năm 2009
BẢNG 2. Lãi suất huy động giai đoạn 2000 – 2009 của Việt Nam so với các
nước
24
Nguồn : International Monetary Fund, International Financial Statistics
Quý IV/2010, quý kết thúc năm 2010, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn
chưa có dấu hiệu ổn định. Lạm phát tháng 12/2010 của cả nước là 1.98%, đưa lạm
phát cả năm 2010 lên 11.75%, vượt quá chỉ tiêu 8% của chính phủ tới 3.75%. Giá
vàng trong nước vẫn được mua – bán ở mức 33.55 – 36.7 triệu đồng/lượng. Tính
đến ngày 31/12/2010, vàng SJC đóng cửa ở mức giá 36 triệu đồng/lượng, tăng
31.31% so với đầu năm. Tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng là 18,932
đồng/USD, tăng 8.2% so với đầu năm. Tỷ giá giao dịch tại các NHTM là 19,500
đồng/USD, mức kịch trần so với tỷ giá liên NH. Trong khi đó, giá đô la trên thị
trường tự do lại lên tới 20,930 đồng/USD, tăng 8.1% so với đầu năm và chênh lệch
7.33% so với tỷ giá chính thức. Đây là mức cao nhưng đã thấp hơn mức 9% vào
cuối tháng 11/2010, 16% vào tháng 6/2008 và mức 10% trong tháng 11/2009.
Mặc dù năm 2010 các chính sách tiền tệ vẫn mang dấu ấn thắt chặt và nhiều dự
báo hồi đầu năm cho rằng tăng tưởng tín dụng năm 2010 sẽ gặp nhiều khó khăn và
tăng trưởng tín dụng cả năm sẽ khó đạt được mục tiêu 25%. Tuy nhiên, theo NHNN
thì tính đến ngày 25/12/2010, tín dụng tăng 27.65%, tín dụng bằng tiền đồng tăng
25