Tải bản đầy đủ (.doc) (41 trang)

đầu tư và lạm phát tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.21 KB, 41 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đến nay
nước ta đã trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanh
nhất trong khu vực và trên thế giới, được đánh giá cao về thành tích xoá đói giảm
nghèo và phát triển con người, sắp bước sang ngưỡng của nước có thu nhập trung
bình. Để đạt được những thành tựu to lớn đó, Việt Nam đã không ngừng đổi mới
thể chế kinh tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc nước ta gia nhập WTO đã tạo ra cơ hội mới, đồng thời cũng đứng trước
những thách thức không nhỏ. Cơ hội mới khi gia nhập WTO do việc cải cách thể
chế, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh
tranh tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút vốn
đầu tư quốc tế…
Để có sự thay đổi bộ mặt của đất nước như ngày nay, không thể thiếu vai trò
quan trọng của hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư có tác động tới toàn bộ nền kinh
tế, nó tạo đà cho kinh tế phát triển nhưng đầu tư như thế nào là hợp lí, như thế nào
là hiệu qủa lại là một điều khó.
Trước sự tác động tiêu cực của kinh tế thế giới cùng với những khó khăn nội
tại của nền kinh tế nước ta, cần phải hiểu rõ nguyên nhân gây ra những tác động
tiêu cực ấy. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn vừa qua gặp rất nhiều
khó khăn. Có ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân là do việc quản lí đầu
tư chưa tốt đã gây ra tình trạng lạm phát cao gây nguy hại cho nền kinh tế. Do đó
nhóm sinh viên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu : “Mối quan hệ qua
lại giữa đầu tư và lạm phát”.
Do kiến thức của các thành viên trong nhóm là có hạn nên bài tiểu luận của
chúng tôi còn có những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của cô
giáo và các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
1
Chương I: Lý luận chung về đầu tư và lạm phát
I. Đầu tư
1. Khái niệm


Theo Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì:
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tóm lại Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt động
nào đó nhằm đem lại lợi ích hoặc mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư.
2. Phân loại đầu tư
2.1. Hoạt động đầu tư tài chính
• Khái niệm
Đầu tư tài chính là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay
hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái
phiếu chính phủ) hoặc hưởng lãi suất tùy vào kết quả sản xuất kinh doanh của công
ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty).
• Đặc điểm của đầu tư tài chính
-Là loại hình đầu tư không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng
giá trị tài sản tài chính của tổ chức,cá nhân đầu tư.
-Vốn đầu tư bỏ ra được lưu chuyển dễ dàng,khi cần có thể rút ra một cách
nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu,cổ phiếu cho người khác)
• Chú ý
Trong quan hệ đầu tư tài chính có một đối tượng không tham gia vào đầu tư
nhưng rất quan trọng.Đối tượng này đảm bảo cho quan hệ đầu tư được thực hiện
một cách công bằng và buộc các bên tham gia đầu tư phải tuân thủ đúng quy định
và luật pháp,đó là Nhà nước.
2.2. Hoạt động đầu tư thương mại
• Khái niệm
2
Đầu tư thương mại là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để
mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá
khi mua và bán. Đây còn có thể coi là hình thức thương lượng trong mua bán nhằm
đạt được lãi suất thương mại.

• Đặc điểm của đầu tư thương mại
- Không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến vấn đề ngoại
thương).
-Làm tăng tài sản của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển
giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán với người đầu tư và giữa người đầu tư
với người mua.
2.3. Hoạt động đầu tư phát triển
• Khái niệm
Đầu tư phát triển là hoạt động chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các
hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng,thiết
bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức,kĩ năng…) gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc
làm và vì mục tiêu phát triển.
• Đặc điểm của đầu tư phát triển
-Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư.
-Thời kì đầu tư kéo dài. Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án
đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động.
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các kết
quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử
dụng và đào thải công trình.
-Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà chủ yếu là các công trình
xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi mà nó được tạo dựng nên,do đó,
quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh
hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
3
-Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.
 Mối quan hệ giữa 3 loại hình đầu tư
Đầu tư tài chính là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển và
đầu tư thương mại. Còn đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông

của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho
ngân sách Nhà nước, tăng tích lũy vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
II. Lạm phát
1. Khái niệm lạm phát
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát được đề cập trong rất
nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
• Theo Các Mác trong bộ Tư Bản :” Lạm phát là việc tràn đầy những kênh,
các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa dẫn tới giá cả tăng vọt.”
• Nhà kinh tế Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị một sự tăng lên
trong mức giá chung. Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi
phí tăng – giá bánh mỳ, dầu xăng, xe ôtô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thue tư liệu
sản xuất tăng”
• Theo M.Friedmen: “Lạm phát là giá tăng nhanh và kéo dài”. Ông cho
rằng:” Lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Lạm phát là kết
quả tất yếu của nền kinh tế hiện đại.
Tóm lại, như vậy về thực chất lạm phát là hiện tượng thừa tiền trong nền
kinh tế mà biểu hiện của nó là mặt bằng giá cả tăng lên.
2. Phân loại lạm phát
Có nhiều cách khác nhau để phân loại lạm phát. Mỗi cách phân loại dựa trên
những tiêu thức nhất định.
 Xét về mặt định tính :
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng: tăng tương ứng với thu nhập. Chính vì vậy lạm phát
không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động.
4
Lạm phát không cân bằng: tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu
nhập. Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường rất hay xảy ra.
- Lạm phát dự đoán được và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán được: Lạm phát xảy ra trong một khoảng thời gian tương

đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định. Chính vì vậy, người ta có
thể dự đoán được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo. Vế tâm lý, người dân đã
quen với tình hình lạm phát đó và đã có những chuẩn bị để thích nghi với trạng lạm
phát này. Đây là loại lạm phát nên duy trì vì nó không ảnh hưởng đến đời sống
người lao động và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Lạm phát không dự đoán được( Lạm phát bất thường) : Lạm phát xảy ra có
tính đột biến, không dự doán được. Do vậy, về mặt tâm lý, cuộc sống và thói quen
của mọi người đều chưa được thích nghi. Lạm phát bất thường gây lên những cú
sốc cho nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân. Vì vậy,
loại lạm phát này cần phải được giải quyết ngay.
 Xét về mặt định lượng: Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ % lạm phát tính
theo năm, người ta chia lạm phát thành:
- Lạm phát một chữ số: Lạm phát này xảy ra khi giá tăng chậm và tỷ lệ lạm
phát dưới 10%. Nó còn được gọi là lạm phát vừa phải. Đây là mức lạm phát mà nền
kinh tế có thể chấp nhận được, với mức lạm phát này, những tác động kém hiệu quả
của nó là không đáng kể. Nhà Nước thường muốn duy trì mức lạm phát lý tưởng là
5% vì nó thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, khuyến khích doanh
nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh (vì lợi nhuận tăng 5%).
Khi lạm phát tăng 7,8,9% thì nó gây tác động nhẹ tới nền kinh tế, chưa ảnh
hưởng xấu và Nhà Nước có thể kiểm soát được.
- Lạm phát hai con số (lạm phát phi mã): Ở mức lạm phát hai con số
thấp(11,12,13% năm), nói chung những tác động tiêu cực của nó là chưa đáng kể,
nền kinh tế vẫn chấp nhận được. Nhưng khi ở mức hai con số cao lạm phát sẽ trở
thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì tác động tiêu cực của nó là không nhỏ nếu
không muốn nói nó đã trở thành mối đe doạ đến sự ổn định của nền kinh tế
5
- Lạm phát ba con số (siêu lạm phát): Tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng
rất nhanh. Nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, thiếu thốn hàng
hoá, quản lý chao đảo. Kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng, thu nhập thực tế của
người lao động giảm mạnh.

Như vậy, mỗi loại lạm phát có những tác động riêng tới nền kinh tế. Tuy vậy
trên thực tế, lạm phát thường xuyên gây ra những tác động xấu, ảnh hưởng nghiêm
trọng tới toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như đời sống của người dân nói riêng.
3. Nguyên nhân và tác động của lạm phát.
3.1. Nguyên nhân lạm phát
• Do cung tiền tăng lên:
Như chúng ta đã biết, cung tiền tăng làm AD dịch chuyển sang phải. Trong
thời gian ngắn sản phẩm tăng lên trên mức thất nghiệp tự nhiên. Điều đó làm giảm
tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền lương tăng lên và
làm giảm tổng cung. Tại đây nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản
phẩm trên đường tổng cung dài hạn và mức giá tăng lên.
• Lạm phát do chi phí đẩy: Bản chất là chi phí tăng làm cho giá thành sản
phẩm tăng.Nguyên nhân làm chi phí tăng có thể là do giá thành nguyên nhiên vật
liệu đầu vào tăng hoặc do tiền trả cho người lao động tăng.
• Lạm phát do cầu kéo: Do sự tăng lên liên tục của mức cầu mà sự gia tăng
của mức cung không đáp ứng được.
• Lạm phát do bội chi Ngân sách Nhà Nước: Trong số các biện pháp khắc
phục bội chi, có những biện pháp làm lạm phát tăng. Mà cụ thể là việc phát hành
tiền ra công chúng làm cung tiền tăng dẫn đến hiện tượng lạm phát.
• Lạm phát theo tỷ giá hối đoái: (giữa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ)
Khi tỷ giá tăng: đồng nội tệ mất giá tác động đến tâm lý của người dân làm
giá cả tăng. Hơn nữa giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng làm chi phí tăng (lạm phát
chi phí đẩy).
3.2. Tác động của lạm phát
6
Lạm phát tác động rất lớn tới nền kinh tế. Lam phát cao có ảnh hưởng đến
mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội…
 Sau đây là một số tác động chủ yếu của lạm phát :
• Tác động tới lãi suất: Như chúng ta đã biết, lãi suất thực= Lãi suất danh
nghĩa - tỷ lệ lạm phát. Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn cho lãi suất thực ổn

định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng tỷ lệ lạm phát. Điều đó làm đầu tư giảm
dẫn đấn suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
• Tác động tới thu nhập: Trong trường hợp tiền lương danh nghĩa không đổi,
lạm phát tăng sẽ làm tiền lương tiền lương thực tế giảm
Tạo ra sự phân phối thu nhập không bình đẳng: Khi lạm phát xảy ra người tiêu
dùng có xu hướng mua nhiều hàng hoá để tích trữ. Điều đó tạo cơ hội cho những
nhà đầu cơ ép giá làm giá tăng. Một bộ phận trong nền kinh tế giàu lên, một bộ
phận nghèo đi. Tình trạng lạm phát như vậy có thể gây ra những rối loạn trong
nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu
và người nghèo. Vì vậy, chính phủ cần có biện pháp đánh thuế nặng vào những
hàng hoá đầu cơ. Hay như trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi
vay, khi lạm phát tăng cao, ngườiôch vay sẽ là người chịu thiệt và người vay sẽ
là người được lợi. Điều này cũng tạo nên sự phân phối bất bình đẳng giữa người
đi vay và người cho vay.
 Một số tác động khác của lạm phát:
• Gánh nặng nợ của quốc gia đang có lạm phát tăng vì lạm phát tăng làm tỷ
giá tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền
nước ngoài tính trên các khoản nợ.
• Hoạt đông xuất nhập khẩu bán được ít ngoại tệ hơn, mua phải trả nhiều
ngoại tệ hơn
• Làm giảm uy tín của quốc gia đó trên trường quốc tế, việc mở rộng quan hệ
ngoại giao bị hạn chế.
• Tệ nạn trong xã hội gia tăng: buôn tiền, rửa tiền, trộm cắp, đầu cơ…
7
Tổng kết lại, lạm phát cao và kéo dài đã gây những hậu quả lớn trong đời sống
của người dân cũng như cản trở sự tăng trưởng kinh tế. Chính phủ các quốc gia cần
có những biện pháp hữu hiệu mang tính chiến lược để phòng ngừa và khắc phục lạm
phát. Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà có những biện pháp cụ thể. Có
thể là các biện pháp mang tính tình thế hoặc những biện pháp mang tính lâu dài.
III. Mối quan hệ giữa đầu tư và lạm phát

1. Lạm phát tác động đến đầu tư
1.1 Gây sụt giảm nhu cầu đầu tư
a. Lạm phát tác động đến đầu tư thông qua lãi suất
Khi lạm phát được dự đoán là sẽ tăng lên trong thời kì nào đó thì nó sẽ
làm cho lãi suất sẽ xu hướng tăng. Điều này có thể giải thích bằng cả hai hướng
tiếp cận sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
cho thấy để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh
nghĩa phải tăng lên tương ứng.
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát.
Thứ hai, công chúng dự đoán tỷ lệ lạm phát tăng vì vậy họ sẽ dành phần tiết
kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc chuyển sang các dạng thức tài sản phi
tài chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh, hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài (nếu có thể)
… để tránh mất giá của đồng nội tệ. Điều này sẽ khiến cho lượng tiền gửi tiết kiệm
trong ngân hàng giảm mạnh do giảm cung quỹ cho vay. Trong kinh tế thị trường,
nguyên tắc chung là lãi suất tiết kiệm phải cao hơn lạm phát để bảo đảm cho lãi suất
thực dương. Nếu lãi suất tiết kiệm thấp hơn lạm phát thì lãi suất thực sẽ mang dấu
âm, tức là không có lãi suất thực.
Trong thời kỳ lạm phát phi mã, lạm phát cao gấp nhiều lần lãi suất tiết kiệm,
đến nỗi đã được ví như hiện tượng: người gửi tiền có giá trị như một con bò, gửi
vào ngân hàng nhờ "quay vòng" hộ, nhưng đến khi rút ra chỉ còn giá trị như cái
đuôi bò. Bởi vậy mà khi xảy ra lạm phát với tỷ lệ cao thì lãi suất có xu hướng tăng
lên tương ứng để người có tiền gửi cảm thấy không quá thiệt.
8
Lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất, các chủ nông nghiệp và các
cơ sở kinh doanh khác dễ dàng mượn vốn và đầu tư vào thiết bị hoặc những phạm
trù cần các chi phí lớn khác. Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tư như
vậy thì có giá trị hơn tại thời điểm ấy (tức là thời điểm khi mà lãi suất thấp) hơn khi
lãi suất cao. Điều này khiến cho các doanh nghiệp lời nhiều hơn khi đầu tư với mức
lãi suất thấp, và cũng theo đà đó mà giúp kinh tế phát triển nhanh hơn vì năng suất

lao động tăng mạnh.Một sự tăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trong việc chi tiêu
hiện tại hơn là chi tiêu trong tương lai của cá nhân và công ty. Tín dụng trong nước,
tổng lượng tiền và cầu thực tế đều giảm (nếu lãi suất giảm sẽ có tác động ngược
lại): Khi lãi suất thực tăng lên, đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầu mua sắm nhà ở
hoặc các hàng tiêu dùng lâu bền do chi phí tín dụng để mua các hàng hoá này tăng
lên. Cùng với lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi thực cũng tăng lên. Sự gia tăng lãi
suất này tác động tới quyết định tiêu dùng của khu vực hộ gia đình theo hướng giảm
tiêu dùng hiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng trong tương lai. Đối với khu
vực doanh nghiệp, sự gia tăng lãi suất làm tăng chi phí vốn vay ngân hàng. Điều
hiển nhiên là lãi suất hay giá của vốn cao thì nhu cầu vay vốn giảm, nguồn vốn đầu
tư vào các dự án giảm, quy mô vốn thấp. Khu vực nhà nước dễ dàng tiếp cận các
nguồn vốn vay hơn khu vực tư nhân và thường được vay vốn với lãi suất ưu đãi.
Bởi vậy, tác động của lãi suất đến khu vực tư nhân nhạy cảm hơn và mạnh hơn
nhiều. Trong quá trình đầu tư, các doanh nghiệp tư nhân rất quan tâm tới biến động
lãi suất vay vốn bởi nó là giá của vốn đầu tư, quyết định quy mô vốn đầu tư và ảnh
hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thực tế mà họ thu về được. Điều này đòi hỏi dự án đầu
tư sử dụng vốn vay ngân hàng phải có tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án
đầu tư có thể thực hiện với mức lãi suất cao hơn này có thể giảm hay nói cách khác,
đầu tư cố định có thể giảm. Ngoài ra, lãi suất cao cũng làm tăng chi phí lưu giữ vốn
lưu động (ví dụ như hàng trong kho) và do vậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải
giảm đầu tư dưới dạng vốn lưu động.
9
Vấn đề đặt ra là phải có chính sách điều tiết lãi suất hợp lý để nó vừa kích
thích đầu tư, tăng quy mô vốn vừa phản ánh đúng giá trị nguồn vốn cho vay trên thị
trường.
b.Lạm phát tác động đến đầu tư thông qua tăng trưởng kinh tế
Trong thời gian gần đây, các mô hình kinh tế và thực nghiệm cho thấy lạm
phát cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế. Xét trong mối quan hệ
giữa hai mục tiêu tăng trưởng và lạm phát, nếu ưu tiên tăng trưởng, thì đầu tư gia
tăng, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP sẽ cao, trong khi hiệu quả đầu tư giảm; tốc độ

tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán cao gấp 5-6 lần tốc độ tăng
GDP (gấp hơn hai lần các nước trong khu vực ) thì lạm phát sẽ gia tăng. Đó là
chưa nói tới ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu cũng tăng cao hơn tạo sức
ép đối với lạm phát. Nếu ưu tiên kiềm chế lạm phát (thấp hơn tốc độ tăng GDP
chẳng hạn), thì tăng trưởng kinh tế sẽ không cao hơn, bởi tăng trưởng kinh tế mới
vừa thoát đáy, còn đang leo dốc (chưa thể nói hồi phục), trong khi tăng trưởng kinh
tế phụ thuộc phần lớn vào đầu tư.
Như vậy, lạm phát cao rất có hại cho tăng trưởng. Do đó, chính phủ có vai
trò rất quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát dưới mức tối ưu.Vậy tăng trưởng
tác động đến đầu tư như thế nào?
Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu vĩ mô quan trọng mà nhà đầu tư quan
tâm. Động thái và xu thế tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có thể ảnh hưởng đến
tình hình đầu tư và phát triển của một ngành, một lĩnh vực và sau đó là kết quả và
hiệu quả đầu tư của một dự án cụ thể. Chẳng hạn trong một nền kinh tế có tốc độ
tăng trưởng cao và duy trì ổn định trong thời gian dài thì cơ hội đầu tư của các lĩnh
vực công nghệ mới, các dự án cung cấp hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao sẽ có
nhiều khả năng thành công. Tuy nhiên khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy
thoái, có tốc độ tăng trưởng chậm thì các dự án cung cấp hàng hoá được đánh giá là
xa xỉ, lâu bền sẽ khó thành công hơn nếu không có các giải pháp đột phá về công
nghệ và phương thức sản xuất.
Như vậy:
10
Lạm phát ở tỷ lệ thấp sẽ khuyến khích đầu tư và sử dụng các nguồn lực.
Lạm phát ở tỷ lệ quá cao sẽ làm giảm tăng trưởng và hạn chế đầu tư.
1.2. Phá hoại hiệu quả tính toán của các dự án, giảm hiệu suất và rối loạn
các dự án đang hoạt động.
a. Phá vỡ hiệu quả tính toán tài chính của các dự án đầu tư
Lạm phát đã tác động trực tiếp đến các khoản chi phí vốn đầu tư. Nếu mức
lạm phát càng cao thì khối lượng vốn đầu tư để thực hiện thi công xây lắp các công
trình trong tương lai càng cao so với lượng tính theo thực tại. Lạm phát càng tăng

làm nhu cầu tiền mặt tăng và do đó hiệu quả dự án càng thấp. Lạm phát còn ảnh
hưởng đến các khoản thu phải trả của dự án. Chẳng hạn như các khoản bán chịu
nhiều, mua chịu ít không có lợi cho dự án.
Giả sử ta dùng chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án để đánh giá hiệu quả tài chính
của dự án. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án. Thu
nhập thuần của dự án tại một thời điểm (đầu thời kỳ phân tích – PV hay cuối thời kỳ
phân tích – FV) là chênh lệch giữa tổng các khoản thu và tổng các khoản chi phí của cả
đời dự án sau khi đã được đưa về cùng một thời điểm (PV hay FV). Thu nhập thuần
của dự án được tính chuyển về mặt bằng hiện tại đầu thời kỳ phân tích, ký hiệu
NPV (Net Present Value) được xác định theo công thức:

Trong đó:
B
i
: Khoản thu của năm i
C
i
: Khoản chi phí của năm i (không bao gồm khấu hao và lãi vay)
n: Số năm hoạt động của đời dự án
r: Tỷ suất chiết khấu được chọn
Giả sử, với tỷ suất chiết khấu r ta tính được NPV dương, tức là dự án có hiệu
quả tài chính. Nhưng do lạm phát tăng, lãi suất vốn vay cũng tăng lên, r tăng lên
thành r
1,
lúc

này NPV có thể vẫn dương nhưng đã bị giảm hoặc trong trường hợp
11
xấu thì NPV có thể âm. Một khi dự án đang được thực hiện rồi thì chủ đầu tư bắt
buộc phải chấp nhận điều này và tìm ra giải pháp khắc phục để giảm hậu quả gây

rối loạn các dự án. Nhiều dự án còn phải tạm ngừng triển khai… gây nguy hại đến
nền kinh tế. Còn khi dự án mới chỉ trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư thì bắt buộc chủ
đầu tư phải tìm hướng phát triển khác.
Như vậy, lạm phát đã làm phá hoại hiệu quả đầu tư, giảm hiệu suất các dự án
đang hoạt động.
b. Áp lực gia tăng lương nhân công cao, trong khi đó giá thành sản
phẩm đã cố định hoặc tăng cao gây khó tiêu thụ
Lạm phát đẩy giá cả sản phẩm của không những các nguyên liệu cho đầu vào
mà còn tăng giá của tất cả các sản phẩm nói chung trong đó phần lớn là ảnh hưởng
tới cuộc sống của công nhân viên. Lương của người lao động không thể theo kịp sự
tăng giá của các sản phẩm do đó khi cuộc sống khó khăn đẩy áp lực tăng lương lên
doanh nghiệp là chuyện khó có thể tránh khỏi. Nhất là trong trường hợp các ngành
sử dụng nhiều lao động thì đây thực sự là một vấn đề khó khăn. Các doanh nghiệp
trong thực tế hầu hết sẽ phải đối mặt với hai tình huống không mấy tốt đẹp: một là
tăng lương cho các nhân công và có thể dẫn tới tăng giá cả sản phầm gây khó tiêu
thụ hoặc chịu lỗ, hai là các doanh nghiệp phải đối mặt với nạn đình công quy mô
lớn hoặc là nghỉ việc của một nhóm công nhân. Nếu sự đình công diễn ra lâu, tiến
độ sản xuất sẽ bị phá hủy dẫn tới việc không hoàn thành đúng hợp đồng với khách
hàng, hẳn điều này về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới uy tín của công ty và thậm chí gây
khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong nhiều năm sau.
c. Đình đốn các dự án đang hoạt động, hoặc phá sản, rút vốn dẫn tới sụp
đổ thị trường, rối loạn nguồn cung, cầu.
Việc lạm phát cao gây ra tâm lý e sợ lỗ dẫn tới việc các doanh nghiệp rút vốn
khỏi thị trường khiến tình hình kinh tế thêm ảm đạm. Tình hình sẽ càng trở nên
căng thẳng khi các ngành đổ vỡ gây thiếu cung đẩy giá lên cao, lạm phát đẻ ra lạm
phát . Thêm vào đó khi tình hình lạm phát tăng cao, chính phủ sẽ lại có các biện
pháp để kiềm chế lạm phát và điều này sẽ dẫn tới việc hạn chế đầu tư, hay không
12
khuyến khích tiêu dùng. Xét trên khía cạnh quốc gia hay vĩ mô, những biện pháp
hành chính này là cần thiết, tuy nhiên những biện pháp kinh tế hành chính này kéo

dài bao lâu và có hiệu quả như thế nào sẽ tùy thuộc vào sự hiệu quả của nó và chính
phủ. Nếu các biện pháp đó duy trì dài lâu và cứng nhắc, tất yếu sẽ dẫn tới hậu quả
không tốt cho đầu tư.
1.3. Gây mất cân đối cơ cấu đầu tư, tăng xu hướng đầu cơ trục lợi
a. Tăng đầu tư vào các ngành không ưu tiên, hoặc không có hiệu quả
sau khi lạm phát.
Thực tế đa dạng của lạm phát có thể đẩy nền kinh tế vào việc thiếu cung một
vài dòng sản phẩm nào đó trên những khu vực nhất định. Điều này sẽ dẫn tới việc
đẩy dòng vốn vào những khu vực đó để kiếm lời. Tuy nhiên tác động không mong
muốn của lạm phát được giải quyết bởi nhiều lực lượng khác nhau và lợi ích của
những lực lượng này không phải bao giờ cũng song hành với lợi ích của những khu
vực vốn nổi lên trong lạm phát. Khi đó do giá thành sản phẩm đã hạ xuống những
khu vực đầu tư nhất thời, ngắn hạn và nhằm trục lợi như thế này có thể sẽ dẫn tới sự
không hiệu quả của dòng vốn và lãng phí tài nguyên.
b. Tăng tâm lý đầu cơ, sử dụng vốn theo hướng ngắn hạn.
Tâm lý đầu cơ trục lợi là điều khó có thể tránh khỏi khi có lạm phát. Đầu cơ
gây ra những hậu quả tồi tệ cho nền kinh tế, khi nó trực tiếp gây ra và duy trì cho
lạm phát tăng cao. Nguyên nhân là do lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trong
nước. Khi các mức giá cả trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu
và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn. Người dân ngày càng lo ngại về
việc sức mua trong tương lai của họ bị giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy
mà kém đi. Do đó lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu
cơ trục lợi và sử dụng vốn theo hướng ngắn hạn hơn là đầu tư vào các hoạt động sản
xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng không tăng lãi suất tiền gửi thì dân
chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách đầu cơ vào đất đai khiến giá cả
đất đai tăng cao ). Tâm lý đầu cơ này gây ra các cơn sốt ảo trên thị trường. Và đặc
biệt nếu đầu cơ xảy ra với các ngành hay các sản phẩm thiết yếu với nhu cầu của
13
nhân dân thì hệ lụy của nó còn nghiêm trọng hơn rất nhiều. Đời sống của đại bộ
phận dân cư đều gặp khó khăn, tình hình xã hội mất ổn định, chi phí sinh hoạt tăng

cao đẩy các tầng lớp nhân dân nghèo đi. Trong khi đó do tính trung tâm của các loại
hình sản phẩm này nên rất nhanh hậu quả của nó lan rộng ra các ngành khác. Hậu
quả của phản ứng dây chuyền tăng giá của tất cả các ngành sản phẩm khác không
thể lường trước được.
1.4. Gây ra môi trường đầu tư mất ổn định (mất tính hấp dẫn của môi
trường đầu tư)
a. Giảm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, làm môi trường đầu tư mất hấp dẫn
với các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài
Lạm phát đẩy giá cả của các nguyên vật liệu tăng lên cao, khiến cho chính
phủ phải áp dụng các biện pháp giảm cung tiền và thắt chặt chi tiêu cho các dự án.
Trong ngắn hạn nhất thời khi các dự án này buộc phải ưu tiên trước sau. Các dự án
thuộc khu vực đầu tư cơ sở hạ tầng là các dự án chịu ảnh hưởng lớn nhất vì các dự
án này đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ, hơn nữa thời gian thực hiện còn rất lâu.
Thứ 3 nữa là các dự án thuộc nhóm này sử dụng các nguồn vật liệu có giá nhạy cảm
nhất với thị trường, chính vì vậy mà việc tăng giá nguyên vật liệu sẽ đẩy các dự án
vào tình trạng trì trệ, thậm chí là khó có thể thực hiện hoặc bị cắt giảm.
Đối với các doanh nghiệp họ có thể làm ăn phát triển hay không phụ thuộc
vào cơ sở hạ tầng có thuận lợi hay không. Khi lạm phát xảy ra các cơ sở hạ tầng đều
bị ảnh hưởng nặng khiến cho hàng loạt các dự án đều gặp phải khó khăn.
b. Giá thành các nguồn lực đầu vào làm giảm tính cạnh tranh của môi
trường đầu tư
Khi lạm phát ở mức cao, tăng trưởng kinh tế sẽ giảm, nhà đầu tư không còn
niềm tin trong việc đầu tư vào các dự án. Họ sẽ tìm đến các kênh đầu tư khác như
đầu tư vào thị trường vàng, thị trường bất động sản. Hơn nữa, lạm phát ở mức cao
thì rủi ro tiềm tàng là rất lớn, việc an toàn đồng vốn là giải pháp tốt trong trường
hợp này. Hiển nhiên tâm lý ảm đạm này khiến cho môi trường đầu tư không còn
hấp dẫn nữa. Đối với quy mô quốc gia, việc lạm phát cao được đánh giá là sẽ xảy ra
14
chắc chắn làm sụt giảm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Bởi vì khi đó các nhà đầu
tư tốn mất nhiều chi phí hơn cho cùng một hoạt động kinh doanh. Thêm vào đó khi

lạm phát tăng cao khiến chính phủ đưa vào áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ,
chống lạm phát điều này làm môi trường đầu tư kém hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu
tư cả trong và ngoài nước.
1.5 Suy giảm, phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các
ngân hàng thương mại, làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư
Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn
của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Để huy động được vốn, hoặc không muốn
vốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy
động sát với diễn biến của thị trường vốn. Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn
là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng. Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoài
mong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% - 18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng),
luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suất
huy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinh
doanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống
NHTM. Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt
tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng
cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có
hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì
lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân
hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng
và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó
khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với các
khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến
tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điều
khó tránh khỏi.
15
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng
hóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát,

nhưng lại khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt
Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch
không qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng.
Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc
kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát
triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn
tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán
tăng, thoát ly ngoài hoạt động.
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn,
ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM. Sự không ổn định của giá cả, bao gồm
cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn
cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính - tín
dụng. Vì vậy xét ở góc độ các NHTM cần có những biện pháp kiềm chế lạm phát.
2. Đầu tư tác động đến lạm phát:
2.1. Ngắn hạn – đầu tư thúc đẩy gia tăng lạm phát:
a. Kích thích, gia tăng tổng cầu – Lạm phát do cầu kéo:
Theo mô hình tổng cầu và tổng cung, ta xác định được tổng cầu:
AD = C + I + G + X – M.
Trong đó:
AD : tổng cầu
I : đầu tư
C : tiêu dùng của hộ gia đình
G : chi tiêu của chính phủ
X : xuất khẩu
M : nhập khẩu
Vì vậy, đầu tư là một bộ phận quan trọng của tổng cầu. Khi quy mô đầu tư
thay đổi cũng sẽ có tác động trực tiếp đến quy mô tổng cầu.
16
Ta xét đồ thị sau :
Ban đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng E

0.
Trong ngắn hạn, khi các yếu tố
khác không đổi và tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho
tổng cầu tăng lên. Đường tổng cầu dịch chuyển sang phải, AD
0
thành AD
1
. Kéo theo
đó là sản lượng thay đổi từ Q
0
sang Q
1
, giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng từ
P
0
lến P
1
. Điểm cân bằng dịch chuyển từ E
0
đến E
1
. Lúc này tổng lượng cầu của nền
kinh tế tăng lên mức sản lượng mà nền kinh tế phải sản xuất để đáp ứng nhu cầu là
Q
1
.
Trong thực tế đây là sự tăng lên của tổng cầu đầu tiên này là do rất nhiều
nguyên nhân.
• Thứ nhất, vốn đầu tư phát triển tăng làm tăng nhu cầu về nguyên vật liệu,
trang thiết bị. Nhu cầu tăng lại tiếp tục thúc đẩy giá của nguyên nhiên nguyên vật

liệu và trang thiết bị tăng mạnh.
• Thứ hai, nguy cơ tiềm ẩn tăng giá là các chính sách tiền tệ nới lỏng và
chính sách tài khóa mở rộng mà Chính phủ đang thực hiện. Các chính sách này một
17
AS
0
AD
1
AD
0
Q
0
P
0
P
1
E
1
E
0
Giá
Sản lượng
Q
1
0
mặt làm tăng cầu về tiêu dùng, một mặt kích thích đầu tư tăng cao, tạo nên sự gia
tăng mạnh của tổng cầu, đẩy giá cả lên cao.
• Bên cạnh những yếu tố liên quan đến đầu tư còn rất nhiều những nguyên
nhân khác như nhu cầu về tiêu dùng ngày càng tăng do đời sống tăng, nhu cầu về
xuất khẩu lương thực ra thế giới tăng trong khi nhu cầu trong nước chưa được đáp

ứng đầy đủ và trong nước gặp nhiều thiên tai, hay do ảnh hưởng của suy thoái
chung toàn thế giới… Và điều thiết yếu là sẽ gây ra việc giá cả trong nền kinh tế bị
đẩy lên nhanh chóng, gây ra lạm phát cao.
b. Tăng lượng cung tiền – Lạm phát do cung ứng tiền tệ :
Một trong những nguyên nhân gây ra việc tăng giá cả ( lạm phát ) chính là
việc tăng cung tiền. Thật vậy, vốn đầu tư trực tiếp làm tăng cung tiền cho nền kinh
tế. Hàng năm, lượng tiền được đặt vào nền kinh tế qua đầu tư rất lớn, dưới nhiều
hình thức khác nhau như đầu tư trong nước, đầu tư quốc tế trực tiếp, đầu tư quốc tế
gián tiếp Tuy nhiên việc đầu tư quá nhanh và ồ ạt gây nên một số vấn đề bất cập
vào hệ thống tài chính, ngân hàng và cung tiền tệ của nền kinh tế.
Việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước khiến cơn lũ ngoại tệ đẩy
vào trong nước, tạo áp lực rất lớn lên đồng nội tệ. Nhằm duy trì tỷ giá hối đoái,
một lượng lớn đồng nội tệ sẽ được bơm vào cùng với tiền của nhà đầu tư trong
nước. Việc tăng cung tiền tệ đột ngột khi có cơn sốt đầu tư, khiến nhà sản xuất
phải đối mặt với hiện tượng giá nguyên vật liệu tăng và giá sản phẩm đầu ra cao,
qua đó tạo ra phản ứng dây chuyền khiến mặt bằng giá cả leo thang hay chính là
gây ra lạm phát.
c. Kích thích xuất nhập khẩu – Lạm phát do xuất nhập khẩu :
Khi các dự án đầu tư tăng, đồng nghĩa với việc tăng tổng cầu, sản lượng hàng
hóa sản xuất được tăng nhanh. Do thị trường nước ngoài thường thu hút hơn thị
trường trong nước nên tỉ lệ xuất khẩu sẽ cao hơn tỉ lệ cung cấp trong nước, khiến
cung sản phẩm trong nước thấp hơn tổng cầu, tạo sự mất cân đối, gây lạm phát.
Ngoài ra, khi các dự án đầu tư gia tăng, đồng nghĩa với việc gia tăng xuất khẩu của các
doanh nghiêp, đẩy đồng ngoại tệ tăng giá cao so với đồng nội địa. Khi tỷ giá tăng, đồng
18
nội tệ mất giá, trước hết nó tác động tới tâm lý của những người sản xuất trong nước,
muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hối đoái, dẫn đến lạm phát.
Đồng thời, việc tăng các dự án đầu tư cũng sẽ làm tăng nhập khẩu các yếu tố
đầu vào như nguyên liệu, nhiên liệu, các trang thiết bị và máy móc công nghệ cao
Khi đó, việc nước ngoài tăng giá các đầu vào hoặc tăng tỷ giá hối đoái sẽ làm cho

chi phí sản xuất tăng, tạo ra các cú sốc cung bất lợi. Theo như trường hợp lạm phát
do chi phí đẩy, việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hoá nhập khẩu thường gây
ra phản ứng dây chuyền làm tăng giá cả của rất nhiều hàng hoá khác đặc biệt là
hàng hoá sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những ngành có mối liên hệ chặt chẽ,
gây ra lạm phát nghiêm trọng.
2.2 Ảnh hưởng dài hạn – Đầu tư giúp bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát :
a. Sự gia tăng nguồn cung trong dài hạn :
Tổng cung của nền kinh tế trong dài hạn phụ thuộc vào công nghệ, khối
lượng tư bản và lực lượng lao động sẵn có.
Q = F ( K, L, T, …)
Trong đó:
K là vốn đầu tư, L là lao động, T là công nghệ.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi tăng quy mô vốn đầu tư thì
sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế. Mặt khác, tác động
của vốn đầu tư còn nâng cao chất lượng nguồn lực và đổi mới công nghệ … Do đó,
đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế. Trong dài hạn, đầu tư đã phát
huy được tác dụng. Đầu tư tăng sẽ làm tăng tổng cung của nền kinh tế, cân bằng với
tổng cầu. Khi đó sản lượng tiềm năng sẽ tăng trong khi giá cả của hàng hóa sẽ có xu
hướng giảm xuống. Sản lượng tăng trong khi giá cả giảm sẽ kích thích tiêu dùng,
đồng thời đẩy mạnh hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế.
19
Giả sử nền kinh tế đang cân bằng ở E
0,
sản lượng Q
0
, giá P
0
.Tăng quy mô
đầu tư làm tăng tổng cầu, AD
0

dịch chuyển sang phải, thành AD
1
. Điểm cân bằng
mới là E
1
, sản lượng tiềm năng vẫn giữ ở Q
0
, nhưng giá thì lại tăng cao ở mức P
1
.
Khi đó trong dài hạn, quy mô đầu tư tăng làm tăng tổng cung dài hạn. Đường tổng
cung dài hạn ASLR
0
dịch chuyển sang phải thành ASLR
1
. Điểm cân bằng mới là
E
1
, sản lượng tiềm năng tăng từ Q
0
đến Q
1
, giá giảm từ P
1
xuống P
0
. Do đó, có thể
khẳng định : kết quả của tăng đầu tư là sản lượng tăng, làm giảm giá thành của sản
phẩm, hạ mức lạm phát xuống. Khi đó, thị trường được bình ổn ở mức cân bằng.
Trong dài hạn, quy mô lớn của sản xuất sẽ tiếp tục duy trì mức sản lượng này giữ

cho nền kinh tế luôn ổn định ở mức giá thấp, kiềm chế được lạm phát.
b. Hoàn chỉnh cơ cấu kinh tế, hạn chế các cú sốc cung gây ra lạm phát :
Qua những chính sách điều chỉnh của chính phủ, việc tăng đầu tư, tức gia
tăng các nguồn tổng cung sẽ làm hoàn chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế. Khi đó, các
ngành mũi nhọn được thúc đẩy phát triển mạnh, các ngành còn non trẻ được bảo hộ,
có nhiều sự ưu đãi khi gia nhập thị trường, các ngành công nghệ cao được chú trọng
Việc hoàn chỉnh này về dài hạn sẽ tạo ra đầy đủ các các sản phẩm cho tiêu dùng
trong sinh hoạt và cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất, dịch vụ. Việc đảm bảo các
nguồn cung này sẽ giảm việc nhập khẩu các yếu tố đầu vào, hạn chế các cú sốc
20
P
P1
P0
P2
Eo
E
1
AS
0
AS
1
E2
AD
1
AD
0
Q0 Q1 Q2
Q
cung bất lợi nên sẽ tránh được các cú sốc tăng giá do chi phí đẩy gây ra. Vậy có thể
nói, việc tăng đẩu tư trong dài hạn có thể kiềm chế được lạm phát.

Chương II : Thực trạng mối quan hệ đầu tư và lạm phát ở Việt Nam hiện nay
I.Thực trạng lạm phát :
Theo mục tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội số 01 /NQ-CP ngày
03/01/2012, chỉ tiêu lạm phát được đặt ra dưới 10%. So với mục tiêu này, lạm phát
năm 2012 đã được thực hiện rất tốt ở mức 6,81 %, thấp nhất từ năm 2007 tới nay.
Diễn biến CPI tháng trong năm 2012 có nhiều điểm đi ngược với quy luật - tăng đầu
năm, giảm giữa năm, tăng cuối năm - của những năm trước đó khi vẫn tăng theo
quy luật những tháng đầu năm, giảm sâu vào giữa năm (giảm vào tháng 6 và tháng
7, sau 38 tháng liên tiếp tăng với tốc độ nhanh, chậm khác nhau), đột ngột tăng vào
tháng 9 và giảm từ tháng 9 cho đến cuối năm.
Kết quả này có được chủ yếu nhờ các giải pháp tiền tệ và tài khóa được đưa ra và
thực hiện quyết liệt, kiên định (thể hiện ở Chính phủ không chạy theo mục tiêu tăng
trưởng ngay cả khi CPI tăng thấp và giảm 2 tháng liền trong năm 2012) từ năm
2011.
Về giải pháp tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thể hiện tính kiên định trong
kiểm soát lạm phát ngay từ đầu năm 2011 qua Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày
01/03/2011 với tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tăng tổng phương tiện thanh toán
khoảng 15% - 16%; tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ
tối đa 22% và tối đa 16% vào 31/12/2011 và tiếp tục kiên định chính sách đó cho
đến nửa đầu năm 2012 trước khi giảm lãi suất điều hành lần thứ nhất vào ngày
13/03/2012.
Đi liền với mục tiêu là sự thống nhất trong các tín hiệu chính sách, thể hiện qua:
khống chế lãi suất huy động có kỳ hạn dưới 14% (Thông tư 02/2011/ TT-NHNN
ngày 03/03/2011), lãi suất huy động không kỳ hạn dưới 6% (Thông tư 30/2011/TT-
NHNN ngày 28/09/2011); liên tục tăng các lãi suất điều hành; tăng lãi suất tái cấp
vốn lên gần 50% (từ 7% lên 12%) từ ngày 08/03/2011 và lên 13% vào ngày
21
1/5/2011; thực hiện các biện pháp kiểm soát hoạt động cho vay đối với lĩnh vực phi
sản xuất bằng các công văn số 2956/ NHNN-CSTT ngày 14/04/2011; công văn
8844/NHNN-CSTT ngày 14/11/2011; ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN năm 2011

về chấn chỉnh thực hiện quy định mức lãi suất huy động và công văn số
8839/NHNN-TTGSNH1 ngày 14/11/2011 về việc xử lý vi phạm vượt trần lãi suất
huy động tại một ngân hàng tại TP. Hồ Chí Minh. Sự quyết liệt đó đã làm lãi suất
cho vay tăng cao trong một giai đoạn dài, giảm tăng trưởng tín dụng từ gần 27,7%
trong năm 2010 xuống còn 12,7% năm 2011 tăng trưởng cung tiền từ 25% xuống
còn 15%. Tiếp tục sang năm 2012, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm giảm,
-0,28% tính đến ngày 31/5 (Nguyễn Hiền, 2012), ước tính cả năm là 6,45%
(NHNN, 2012), chỉ bằng phân nửa so với chỉ tiêu đưa ra đầu năm là từ 15% - 17%.
Đây là mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Tổng phương tiện thanh toán năm 2012
tăng lên khoảng 22,4% (NHNN, 2012), cao hơn chỉ tiêu đầu năm là khoảng 14% -
16%.
Về chính sách tài khóa, những năm gần đây, chính sách tài khóa cho thấy sự chuyển
biến trong nhận thức và hành động của cơ quan hoạch định chính sách tài khóa,
thâm hụt ngân sách đã giảm suốt từ năm 2009 đến nay (2009: -6,9%; 2010: -6,2%;
2011: -4,9%: 2012: -4,8%). Chi cho đầu tư phát triển đã có xu hướng giảm so với
trước đây nhờ một loạt các hoạt động cắt giảm chi tiêu công trong năm 2011 (với
Quyết định 527/QĐ-BTC) và năm 2012, kéo theo tỷ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP
giảm: năm 2012 ước đạt 33,5%, thấp hơn so với năm 2011 là 34,6%. Tỷ trọng vốn
đầu tư khu vực nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã giảm từ 36,4% năm
2011 xuống còn 33,5% trong 9 tháng 2012.
Bên cạnh nguyên nhân trực tiếp từ thay đổi trong chính sách điều hành, chỉ số tiêu
dùng giảm còn do nền kinh tế khó khăn, DN phá sản nhiều, thu nhập người lao
động giảm dẫn đến tốc độ tăng sức mua của nền kinh tế giảm sút nhiều. Từ tháng
03/2011 đến cuối năm 2012, tốc độ tăng doanh số bán lẻ hàng hoá dịch vụ chững
lại, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sau khi
loại trừ yếu tố tăng giá chỉ xoay quanh 6,2%, thấp bằng mức khủng hoảng 2008 và
22
chưa bằng một nửa tốc độ tăng trong giai đoạn hậu khủng hoảng 2009-2010. Tốc độ
tăng doanh số bán lẻ hàng hóa dịch vụ chững lại trong khi kim ngạch xuất khẩu vẫn
tăng nhanh cho thấy sức mua thị trường nội địa đã giảm sút và sau khi thị trường

xuất khẩu hồi phục, các DN không còn chú tâm đến thị trường nội địa như những
năm 2009-2010 nữa (giai đoạn sức mua mãnh liệt của thị trường nội địa đã cứu các
DN, đặc biệt là DN xuất khẩu giảm bớt khốn đốn vì thị trường xuất khẩu bị thu
hẹp).
Trên cơ sở thành quả đạt được trong kiềm chế lạm phát năm 2012, có ý kiến cho
rằng lạm phát đã giảm khá thấp, do vậy, đã tới lúc đẩy mạnh tín dụng, cung tiền
cũng như tăng chi tiêu công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo tác giả, trong bối
cảnh như đã phân tích ở trên, lạm phát ở mức một chữ số có thể thực hiện được
trong năm 2013 nếu thận trọng trong nới lỏng chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ. Việc mở rộng nhanh cung tiền và tài khóa cần hết sức thận trọng, bởi vì để hỗ trợ
cho tăng trưỏng kinh tế, lãi suất điều hành trong năm 2012, NHNN đã hạ lãi suất tới
6 lần; các ngân hàng sử dụng hết chỉ tiêu tín dụng cũng được cấp thêm, đến tháng
05/2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng âm nhưng 7 tháng cuối năm, tăng trung bình
hơn 1 %. Đây là sự nới lỏng chính sách tiền tệ không nhỏ. Do vậy, cần hết sức thận
trọng vì chính sách tiền tệ có độ trễ từ 6 đến 7 tháng. Nếu không cẩn trọng, rất có
thể rơi vào quy luật lạm phát từ năm 2000 đến nay 1 cứ hai năm tăng, một năm
giảm.
2. Thực trạng đầu tư:
Kế hoạch chi ngân sách nhà nước là một yếu tố rất quan trọng có thể gây tác động
lớn lên lạm phát. Kế hoạch thu và chi ngân sách năm 2012 tương ứng là 762.900 và
903.100 tỷ đồng, với thâm hụt ngân sách 140.200 tỷ đồng (4,8% GDP), tăng khoảng
16,67% so với số liệu thực tế năm 2011.
Chúng ta cần phải quan tâm đến việc thực hiện kế hoạch hơn là mục tiêu ban đầu.
Thực tế, tăng trưởng đầu tư công trong năm 2011 vẫn cao, ở mức 25% so với -8%
trong năm 2010.
23
Một tín hiệu tích cực là Chính phủ mới đây đã ra một chỉ thị với nội dung quản lý
đầu tư công sẽ phải tiến hành nghiêm ngặt hơn. Chẳng hạn, Chính phủ sẽ không
giải ngân vốn (từ ngân sách trung ương và trái phiếu chính phủ) từ năm 2012 mà
không có sự chấp thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đây là một sửa đổi nhằm hạn

chế tác động tiêu cực từ việc phi tập trung hóa) và người phê chuẩn các dự án mà
không làm sáng tỏ nguồn tài chính sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hiệu quả dự án.
Nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, Chính phủ đang cố gắng giảm tổng mức đầu tư từ
40% GDP (2006 - 2011) xuống 33,5 - 35% GDP từ năm 2012 và giảm tỷ lệ đầu tư
công (43% tổng đầu tư phát triển xã hội trong giai đoạn 2006 - 2010 xuống 31,5
-33% từ năm 2012). Thay vào đó, Chính phủ phải thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân
(ví dụ, PPP - mô hình hợp tác công - tư) và sử dụng đầu tư công như “đầu tư mồi”.
Tuy nhiên, đây là một viễn cảnh rất xa và chúng ta cần một thị trường tài chính hiệu
quả để hỗ trợ, mà ở thời điểm hiện tại vẫn chưa thể đạt được.
Tóm lại, áp lực lên giá tiêu dùng vẫn còn, nhưng đã bớt nghiêm trọng so với năm
2011 do việc tăng giá phần lớn đã được thực hiện trong năm 2011, chúng tôi kỳ
vọng áp lực lên lạm phát năm 2012 của Việt Nam sẽ thấp hơn năm 2011, nhưng khả
năng duy trì ở mức một con số là vô cùng khó khăn ở thời điểm hiện tại.
III. Mối quan hệ tác động qua lại giữa đầu tư và lạm phát
1. Mối quan hệ của đầu tư tới lạm phát
1.1. Tác động của đầu tư tới lạm phát.
a . Ảnh hưởng tới cung tiền tệ.
Lượng cung tiền lớn ở Việt Nam hay nói cách khác là sự gia tăng vốn đầu tư
giai đoạn này khiến cho áp lực lạm phát nảy sinh. Tăng trưởng kinh tế liên tục và ở
mức cao đòi hỏi lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy
nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia
(GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát sẽ nảy sinh. Về mặt nguyên tắc, giá trị
tính theo tiền của một mặt hàng luôn bằng lượng nhân với giá. Nếu giá trị tính theo
tiền tăng lên, nhưng lượng hàng không tăng hay tăng chậm hơn, thì giá buộc phải
tăng. Ta có thể hình dung GDP (sau khi loại bỏ yếu tố trượt giá) là tổng sản lượng
24
sản xuất ra trong năm để phục vụ tiêu dùng cuối cùng, đầu tư hay ngoại thương.
Còn mức cung tiền là tổng giá trị tính theo tiền. Mức cung tiền vượt GDP nhiều lần
thì sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao. Cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong những năm
gần đây đặc biệt là từ năm 2007 đến nay là do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột

biến, từ đó buộc Ngân hàng Nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối
cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông. Nhưng lạm phát bùng lên trong năm nay
có thể còn bắt nguồn từ mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền
của Việt Nam đã ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua. Tốc độ tăng cung tiền
tại Việt Nam từ năm 2003 đến nay liên tục duy trì trên dưới 25% mỗi năm và tín
dụng nội địa cũng tăng trên 35%. Trong khi nhập khẩu tăng đột biến trong mấy năm
trở lại đây để đáp ứng với lượng cầu nội địa tăng thì đối với một số hàng hóa như
khách sạn, văn phòng, điện, lao động có kỹ năng (những hàng hóa chủ yếu được sản
xuất trong nước) không thể tăng tương ứng. Kết quả là giá của những hàng hóa này
phải tăng theo tốc độ tăng cung tiền. Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lại chỉ có
tăng từ 7-8% trong khi đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35% GDP. Với
Việt Nam chính phủ đã quyết định tăng cung tiền nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng
cao trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khi sự mất cân đối giữa tốc độ tăng cung
tiền và tốc độ tăng trưởng GDP lớn thì sức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện.
Cung tiền tăng nhanh là do nhịp độ tăng chi tiêu của Nhà nước. Tổng chi
tiêu của Nhà nước trong năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng
(hay 45%) so với năm 2004. Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của Nhà nước
trong giai đoạn 2004-2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăng truởng bán
lẻ). Cũng trong giai đoạn trên, thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu
nội địa mà là từ dầu mỏ, nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa trong năm 2004 chỉ
đạt 119 nghìn tỷ, và trong năm 2006 là 190 nghìn tỷ, tăng có 71 nghìn tỷ. Trong khi
đó chỉ tiêu của nhà nước tăng 131 nghìn tỷ, từ 190 lên tới 321 nghìn tỷ, tức là gần
gấp đôi mức tăng thu nội địa.Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các
nguồn thu ngoài dầu mỏ thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế
nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ
25

×