Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

hệ thống các phương tiện của ngôn ngữ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.51 KB, 13 trang )

Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình sử dụng ngoại ngữ và dịch thuật, văn bản là công cụ
không thể thiếu. Hiện nay, các thể loại văn bản tiếng Việt và tiếng Anh đang
được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp. Ngữ pháp văn bản tiếng Việt và tiếng
Anh là mục tiêu và đối tượng cần chú ý nhất trong quá trình dạy và học tiếng
Anh, cũng như dịch thuật Anh - Việt và Việt - Anh.
Theo các nghiên cứu ban đầu, cần thiết phải có các tài liệu ngữ pháp đối
với các văn bản mang đặc tính chuyên ngành dưới dạng đối chiếu giữa tiếng mẹ
đẻ và ngoại ngữ được học hoặc nghiên cứu nhằm giúp người học hoặc nghiên
cứu tiếp nhận một cách nhanh chóng các kiến thức tiên tiến bằng ngoại ngữ.
Hơn thế nữa, trên cơ sở ngữ pháp được học, người học có thể nâng cao trình độ
kiến thức chuyên môn bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình và làm phong phú thêm
ngôn ngữ dân tộc.
Thực tế lịch sử phát triển của tri thức khoa học thể hiện một quá trình liên
tục và có tính kế thừa. Nội dung của các thuật ngữ về nghiên cứu đối chiếu cũng
được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó.
Thuật ngữ "đối chiếu" thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc phân
ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ. Mục đích
của nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ là làm sáng tỏ những nét tương đồng và
không tương đồng hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét không tương đồng của hai
hay nhiều ngôn ngữ. Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu của đối chiếu ngôn ngữ là
nguyên tắc đồng đại.
Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, lúc đầu được phổ biến là thuật ngữ "so
sánh" (comparative) với nội dung đối chiếu. Từ năm 1960 trở về đây, thuật ngữ
"ngôn ngữ học đối chiếu" (contrastive linguistics) bắt đầu được sử dụng phổ
biến, dần dần thay thế cho thuật ngữ "so sánh" (comparative). Tuy nhiên, trong
1
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
ngôn ngữ học Anh, các thuật ngữ truyền thống được dùng tương đối lâu dài. Ví
du, trong các công trình của Haliday, Mackintơn, Tơrevưn và một số tác giả


khác, thuật ngữ "so sánh" (comparative) vẫn được sử dụng đến năm 1961, còn
Elie đã dùng thuật ngữ "comparative" với nghĩa đối chiếu cho đến năm 1966.
Theo từ điển nhiều tập Oxford (1933), tính từ "comparative" được định
nghĩa căn cứ vào cách dùng của từ này khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Nội dung nghĩa thường nhấn mạnh đối chiếu những điểm khác nhau giữa hai
hoặc hơn hai đối tượng được khảo sát, theo thời gian, thuật ngữ "đối chiếu"
được sử dụng với nghĩa mở rộng để chỉ đúng hiện thực nghiên cứu đối chiếu
ngôn ngữ.
Đối chiếu các ngôn ngữ cho khả năng xác định không chỉ các dữ kiện và
hiện tượng có các chức năng tương tự trong các ngôn ngữ được đối chiếu, mà
còn xác định vị trí của chúng trong các hệ thống theo chức năng. Ví dụ, khi đề
cập đến hệ thống các phương tiện mang nghĩa chỉ hành động, có thể nói rằng
trong tiếng Anh tiếp tố -er chắc chắn là hạt nhân của hệ thống chức năng các
phương tiện tạo ra danh từ chỉ vật mang hành động, hơn nữa, tiếp tố này có khả
năng to lớn trong việc tạo lập các danh từ trên cơ sở một động từ bất kì. Trong
tiếng Việt, nhân tố được dùng để tạo từ chỉ người hành động thường là từ riêng
biệt và được gọi là từ tố, ví dụ "viên" trong các từ nhân viên, sinh viên, viên
chức và v.v.
Nghiên cứu đối chiếu ngữ pháp trong văn bản khoa học giải quyết các
quan hệ tương đồng và không tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn
ngữ khoa học. Trong phân tích đối chiếu ngôn ngữ, các hiện tượng ngôn ngữ
càng giống nhau thì càng có nhiều tương đồng về cấu trúc và hoạt động của
ngôn ngữ được đối chiếu. Ví dụ, khi đối chiếu tiếng Việt với tiếng Hán hoặc với
tiếng Thái thì mức độ giống nhau nhiều hơn là đối chiếu tiếng Việt với tiếng
Anh, tiếng Nga hoặc tiếng Bun. Trong trường hợp đối chiếu các ngôn ngữ rất
khác nhau về loại hình thì sẽ tìm thấy nhiều điểm khác nhau về cấu trúc và hoạt
động của ngôn ngữ. Sự khác nhau này có tính hệ thống, khái quát (thanh điệu
trong tiếng Việt, cách trong tiếng Nga v.v.). Nếu đối chiếu tiếng Việt với tiếng
2
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích

Anh thì sẽ tìm thấy nhiều điểm giống nhau hơn trong ngôn ngữ (cùng là các
ngôn ngữ phân tích tính, trật tự câu rõ ràng v.v.).
Trong các ngôn ngữ khi đối chiếu luôn tồn tại sự không tương đồng về
ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc tuyến dẫn xuất nghĩa phái sinh. Ví dụ, từ loại tiếng
Việt và tiếng Anh có sự không tương đồng về số lượng và loại hình.
Sự không tương đồng về nghĩa thể hiện cả ở khái niệm ngữ nghĩa của từ,
ví dụ, các sắc thái về mầu sắc là không như nhau trong cả hai ngôn ngữ Anh và
Việt: từ “blue” tiếng Anh được chuyển dịch sang tiếng Việt với hai nghĩa xanh
lơ và xanh nước biển. Mầu sắc trong tiếng Việt được thể hiện bằng các từ theo
mô hình hợp nghĩa, phụ nghĩa và láy lại để tạo ra hàng loạt đơn vị ngôn ngữ với
sắc thái chi tiết hơn so với từ chỉ mầu sắc trong tiếng Anh, ví dụ: xanh - xanh
xanh, xanh nhạt, xanh thắm, xanh da trời, xanh nõn chuối, xanh nước biển, xanh
biếc (biêng biếc), xanh lè, xanh lục, xanh thổ cẩm, xanh cẩm thạch, xanh rêu
Trong hệ thống ngữ pháp tiếng Anh hiện đại không tồn tại phạm trù cách
và giống, không có khái niệm hai động từ đối lập nhau: chưa hoàn thành thể /
hoàn thành thể, ví dụ như trong tiếng Nga. Phần lớn các cụm từ tiếng Anh được
thể hiện ở dạng cụm từ chính phụ, chính xác hơn, ở dạng cụm từ cố định hoặc
thành ngữ (phrases). Các cụm từ này được tạo thành trên cơ sở liên kết phụ
thuộc, bao gồm hai thành tố: thành tố chính (hạt nhân) - kernel và thành tố phụ
(bổ sung từ) - adjunct. Cũng như tiếng Việt, trật tự các thành phần của cụm từ
tiếng Anh có ý nghĩa chủ yếu: một danh từ bất kì đứng trước một danh từ khác
đều thực hiện chức năng định ngữ, ví dụ :
An air-flow meter - khí cụ đo lưu lượng không khí
Anticorrosive paint - sơn chống gỉ
Liên kết chính phụ không chỉ được thể hiện ở cụm danh từ, mà còn ở cụm
động từ (to work hard, to fly a plane, to decide to stay, to begin singing, to wait
for news ), cụm tính từ (very difficult, proud of his son, ).
Có thể thấy rõ rằng trong tiếng Việt và trong tiếng Anh cấu trúc câu cùng
tuân thủ một trật tự là C - P - O. Thành phần chính của cấu trúc câu trong cả hai
ngôn ngữ Việt và Anh là chủ ngữ S và vị ngữ V, hạt nhân của cấu trúc câu là vị

3
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
ngữ V. Vị ngữ là thành phần thiết yếu, không thể thiếu trong cấu trúc một câu
bất kì, bởi vì nếu thiếu vị ngữ thì không tồn tại tính vị ngữ của cấu trúc câu,
nghĩa là không tồn tại sự biểu thị các quan hệ thông báo đối với hiện thực. Chủ
ngữ cũng là thành phần cần thiết trong phần lớn các cấu trúc câu, bởi vì nó chỉ
nghĩa sự vật của lời nói hoặc văn bản tạo nên cơ sở nội dung trần thuật, và do
đó, tạo nên nội dung giao tiếp. Câu có cấu trúc gồm cả chủ ngữ và vị ngữ thì
được gọi là câu hai thành phần.
Trong tiếng Việt và tiếng Anh, vị trí các thành phần của câu đều có vai trò
quan trọng trong cấu trúc câu. Việc thay đổi vị trí của vị ngữ (vật mang thông tin
chủ yếu của câu) đối với chủ ngữ, nghĩa là thay đổi trật tự từ trong cấu trúc câu
thường dẫn đến việc nội dung thông báo của câu bị thay đổi, hơn nữa, có thể dẫn
đến sự thay đổi cả hình thức cấu trúc câu và sắc thái của nó. Vị trí của vị ngữ đối
với chủ ngữ có thể rất đa dạng ở các ngôn ngữ khác nhau. Phần đối chiếu này
không hạn chế trong phạm vi hai ngôn ngữ Việt - Anh. Nghiên cứu có thể được
mở rộng hơn đối với các ngôn ngữ khác để trên cơ sở này người học có thể phát
triển nghiên cứu đối chiếu không chỉ hai ngôn ngữ Việt - Anh, mà còn đối với
các ngôn ngữ khác.
Phạm vi đối chiếu có thể được phân định theo các nguyên tắc sau:
- Làm sáng tỏ đặc điểm thể hiện các phạm trù ở ngôn ngữ được nghiên
cứu như thời, thể, xác định, không xác định, phạm trù giống, số, cách, đa nghĩa,
đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa v.v.
- Đối chiếu các đặc điểm cấu tạo âm vị, hình vị, từ loại, cú pháp v.v.
- Đối chiếu các đặc điểm hoạt động, hành chức của các hiện tượng, phạm
trù ngôn ngữ trong giới hạn các cấp độ.
- Đối chiếu các phong cách chức năng.
- Đối chiếu tiến trình phát triển nhằm làm sáng tỏ các quy luật phát triển
và quá trình biến đổi xảy ra trong nội bộ các ngôn ngữ được nghiên cứu.
Trong phạm vi em tìm hiểu và được học trên giảng đường, em xin được

trình bày về sự đối chiếu thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
4
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
Bài viết của em gồm 5 phần:
1, Khái niệm về Thành ngữ.
2, Phân loại thành ngữ trong tiếng Việt
3, Đặc điểm thành ngữ tiếng Anh.
4,So sánh giữa thành ngữ Việt - Anh.
5, Kết luận.
Sau đây em xin trình bày cụ thể từng phần
1, Khái niệm về Thành ngữ
Tất cả các ngôn ngữ có vốn từ vựng phong phú đều có thành ngữ. Từ
vựng càng phong phú, thành ngữ càng nhiều. Nếu chỉ so về số lượng, thì số
thành ngữ của tiếng Việt không nhiều bằng số thành ngữ của tiếng Anh, tiếng
Pháp, và tiếng Hán. Nhưng tính tỉ lệ giữa số thành ngữ và từ vựng, thì tiếng Việt
có tỉ lệ cao hơn. Lý do là vì người Việt chúng ta, trong khi nói, trong khi viết,
thích dùng những ý, những mẫu có sẵn. Những mẫu, những ý ấy được những thế
hệ trước tạo ra, những thế hệ sau ứng dụng quen, trở thành thành ngữ. Nhưng hệ
quả không dừng lại ở đó. Thế hệ ngày nay chắc chắn cũng tạo ra được những ý,
những mẫu mới, để những thế hệ sau này dùng. Số thành ngữ hiện dụng sẽ có
thêm một số mới, nhưng cũng có thể bớt đi một số cũ mà người ta không thích
dùng nữa. Đó là cái thế tất nhiên trên con đường phát triển của một sinh ngữ.
Chẳng hạn, khi nghe nói một ông nào đó "rán sành ra mỡ", không ai mất
công suy nghĩ xem sành có rán ra mỡ được không, hoặc ông kia có chịu khó rán
sành để lấy mỡ không, mà ai cũng hiểu ngay là ông ta rất hà tiện, rất chắt mót.
Khi nghe nói một người đàn bà nào đó có dung nhan "chim sa cá lặn", không ai
thắc mắc rằng trước nhan sắc của một người đàn bà đẹp, chim có sa và cá có lặn
thật không, mà ai cũng hiểu ngay là người phát biểu muốn cực tả cái nhan sắc
của người đàn bà kia.
Tóm lại, thành ngữ tạo ra sự mặc nhiên hiểu nhau giữa người nói và người

nghe, qua ngữ nghĩa có tính cách ước lệ, đã được thừa nhận theo truyền thống.
5
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
Thành ngữ không phải luôn luôn gọn hơn, ít chữ hơn lời nói thường. Có
lắm khi thành ngữ dài hơn. Chẳng hạn, nói "rất tối" chỉ tốn hai chữ, nhưng nói
"tối như đêm ba mươi" phải mất năm chữ; nói "rất keo kiệt" chỉ mất ba chữ,
nhưng nói "vắt cổ chày ra nước" phải tốn năm chữ. Nhưng nhiều người vẫn nghĩ
là dùng thành ngữ thì lời nói hàm súc hơn. Vì đâu? Vì thành ngữ luôn luôn có
tính cách tu từ, được coi là hay hơn , là ý nhị hơn lời nói thường. Nhận ra tính
cách ước lệ của các thành ngữ, tức là chúng ta hiểu những nhóm chữ tu từ ấy có
ý nghĩa tương đối hơn là chính xác, nặng về nghĩa bóng hơn là nghĩa thực.
Không ai hiểu thành ngữ "bị đè đầu cỡi cổ" theo nghĩa đen là bị kẻ mạnh đè đầu
xuống và ngồi lên cổ, mà chỉ hiểu theo nghĩa bóng là bị áp bức; không ai nghĩ
thành ngữ "khỏe như vâm" là thực sự mạnh như voi, mà chỉ hiểu là mạnh hơn
bình thường. Hiểu một cách đồng tình châm chước như vậy, để mà dùng thành
ngữ, để mà nghe thành ngữ, tức là chúng ta cầu viện ở thành ngữ cái công dụng
cực tả, đôi khi có phần thậm xưng.
Về hình thức cấu tạo, thành ngữ là những nhóm từ cố định, quen đi với
nhau để truyền đạt một ý nghĩa theo ngôn ngữ truyền thống. Chữ "cố định" ở
đây cũng có nghĩa tương đối. Chúng ta nói "dày gió dạn sương", nhưng cũng có
thể nói "gió sương dày dạn "; chúng ta nói "dễ như trở bàn tay", nhưng cũng có
thể nói "dễ như lật bàn tay". Trật tự của các từ trong nhóm có thể thay đổi, thậm
chí từ cũng có thể thay thế, miễn là nói lên được nguyên ý. Tôi nói "dữ như
cọp", nhưng bạn có thể nói "dữ như beo", và không ai cân nhắc câu nào đúng
hơn câu nào.
2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu
tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành
ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.
2.1. Thành ngữ so sánh

Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví
dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,
6
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh
thông thường khác:
A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ
so sánh: như, bằng, tựa, hệt,
Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng,
không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có
các kiểu:
A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: Đắt như tôm
tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh
trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,
(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có
mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của
thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột,
(Vui) như mở cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh)
như mẻ, (Chậm) như rùa,
ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào
hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách
tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví
dụ:
Ăn ở với nhau
Xử sự với nhau
Giữ ý giữ tứ với nhau

như mẹ chồng với nàng
dâu
Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe

sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột
thị,
Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu
trúc của chúng như sau:
7
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
• Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải
hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn
là cái được "nhận ra". A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc
trưng hoặc trạng thái hành động, nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những
khả năng khác.
• Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ
như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể,
bằng, tày, (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt, )
chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.
• Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết
minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình
trong khi kết hợp với A, thong qua A. Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền chỉ
bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm,
Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ, cũng tương tự như
vậy.
Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái, được nêu ở B phản ánh khá
rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc
Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy
sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó.
• Vế B có cấu trúc không thuần nhất:
o B có thể là một từ. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ
đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như
mẻ,
o B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ:

Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào
đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,
Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu
trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:
8
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
• Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc
ngang hoặc so sánh bậc hơn. Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so
sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),
• Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các
cặp từ phiếm định hô ứng, ) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh
thông thường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y
như là, hơn, hơn là,
• Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp
với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết
với từ so sánh. Ví dụ:
- Kết hợp với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc
như là dao cau.
- Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào ( ) khuôn mặt
trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.
• Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó
thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách
giản dị như đã nêu trên. Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ
cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.
2.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả
một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn
dụ.
Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so
sánh không hề hiện diện. Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản

ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra
một nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một"
này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.
Ví dụ: Xét thành ngữ "Ngã vào võng đào". Cấu trúc của thành ngữ này
cho thấy:
– (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;
9
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
– Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt
và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và
không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó.
Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt nayf, người ta rút ra và
nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không
may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp
bởi vì có lợi hơn là không gặp).
Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu
trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện. Trong các thành ngữ
này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu. Chính vì vậy, cũng
chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh. Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi
ong tay áo, Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa
che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng. Ở đây, trong
mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh.
Chúng tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối). Ví dụ:
Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con
vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản. Ngược lại
với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng
tương phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau. Ví dụ: Các thành ngữ

Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò
tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,
Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu
trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng. Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây
là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế
áp đảo về số lượng . Điều này có cơ sở của nó. Người Việt rất ưu lối nói cân đối
nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu. Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các
từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác.
10
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
Và đến lượt mình, tỉ lệ thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng,
khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi
năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc, nhanh chóng
mang dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng.
3, Đặc điểm của thành ngữ tiếng Anh
Trong tiếng Anh thành ngữ có hai loại: thành ngữ mang tính cấu tạo từ
(expression) và thành ngữ giàu tính hình ảnh/ gợi cảm
a, Thành ngữ mang tính cấu tạo từ
Ex: Live in harmony with = get on with ( sống hoà thuận)
go on = continue
look down upon = dispite (coi thường)
pull down = destroy
b, Thành ngữ giàu tính hình ảnh/gợi cảm.
Ex: Carry coals to Newcastle ( chở củi về rừng).
4, Thành ngữ so sánh Việt - Anh
Có sự khác nhau trong cách dùng từ giữa tiếng Việt và tiếng Anh đó là sự
khác nhau về văn hóa của hai dân tộc. Một bên là phương Đông có nền văn hóa
nông nghiệp, một bên là phương Tây có nền văn hóa du mục. Cho nên cùng một
sự việc mỗi ngôn ngữ có sự diễn đạt khác nhau như trong các thành ngữ so sánh.
• Trong tiếng Việt có các thành ngữ so sánh sau:

Giống nhau như đúc
Rối như tơ vò
Thẳng như ruột ngựa
Hiền như nai con
Thánh thiện như thiên thần
Xấu như ma lem…
• Trong tiếng Anh cùng một ẩn ý như trên nhưng đối tượng so sánh
lại khác nhau.
11
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
Giống nhau như hai
hạt đậu.
(Like as two peas)
Mù như dơi
(As blind as a bat )
Thẳng như mũi tên
(As straight as an
arrow)
Hiền như cừu non
(As gentle as a lamb)
Thánh thiện như chim
bồ câu.
(As gentle as a dove)
Xấu như con đười ươi
(As ugly as an ape)
• Nhưng thật là thú vị khi có những điểm tương đồng, giống nhau giữa
hai ngôn ngữ:
Tiếng Việt ta có những thành
ngữ sau:
Nhát như thỏ đế

Tiêu tiền như nước
Nhanh như chớp
Đen như than …
Tiếng Anh có các thành ngữ
sau:
As timid as a rabbit
To spend money like water
As quick as flash
As black as coal
Hiểu được sự khác nhau giữa hai nền văn hóa giúp cho ta thấy rõ và giải
thích được những điểm dị biệt và tương đồng giữa hai ngôn ngữ.
Ví dụ, tiếng Việt nói "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa" trong khi tiếng Anh nói
"thoát khỏi chảo, rơi vào lửa" (nói về một con cá cứ lẹt đẹt trong cái chảo rồi
cuối cùng nhảy ra chỉ để rơi vào đống lửa!).
Hoặc là tiếng Việt nói "lắm thầy nhiều ma" trong khi tiếng Anh nói "quá
nhiều đầu bếp làm hỏng cả nước dùng". Tất nhiên có một số trường hợp mà
tiếng Việt và tiếng Anh nói giống nhau - "viết như gà bới", chẳng hạn - nhưng
thường thì lại so sánh những cái rất khác nhau, một cách rất thú vị.
12
Ngôn ngữ đối chiếu Sinh viên thực hiện: Lã Thị Bích
5. Kết luận
Qua việc phân tích đối chiếu trên, em thấy được nhiều sự giống và khác
nhau giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Thành ngữ của mỗi một ngôn ngữ
có những đặc điểm riêng, chúng đều mang đặc điểm riêng của ngôn ngữ đó. Có
thể nói, thành ngữ có lối so sánh tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Anh tuy
nhiên chúng lại có lối tư duy khác nhau. Ví dụ: As dumb as oyster ( câm như
sò).
Chính vì vậy, để tìm hiểu điều đó, chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm
hiểu nó thật kĩ.
13

×