Tải bản đầy đủ (.doc) (49 trang)

mô hình toán học và khả năng kiểm soát diễn biến dịch tay-chân-miệng ở khu vực miền bắc năm 2010-2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (780.31 KB, 49 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
……… ***……….
TRẦN THANH HƯƠNG
MÔ HÌNH TOÁN HỌC VÀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT
DIỄN BIẾN DỊCH TAY - CHÂN - MIỆNG KHU VỰC
MIỀN BẮC NĂM 2010 - 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Khóa 2009 - 2013
Hà Nội - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
……… ***……….
TRẦN THANH HƯƠNG
MÔ HÌNH TOÁN HỌC VÀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT
DIỄN BIẾN DỊCH TAY - CHÂN - MIỆNG KHU VỰC
MIỀN BẮC NĂM 2010 - 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Khóa 2009 - 2013
Người hướng dẫn khoa học:
TS. DƯƠNG HUY LƯƠNG
ThS. PHẠM QUANG THÁI
Hà Nội – 2012
LỜI

CẢM

ƠN
Với tấm lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc của một người học trò,


em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới:
TS. Dương Huy Lương và ThS.BS. Phạm Quang Thái – Phó trưởng
khoa Dịch tễ Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương - là những người thầy đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Sự tận tâm và kiến thức uyên bác của các
thầy, cô là tấm gương sáng cho em noi theo trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu trong hiện tại và tương lai.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo bộ môn Dịch
tễ trường Đại học Y Hà Nội, phòng đào tạo và Viện đào tạo Y học Dự phòng
và Y tế công cộng trường Đại Học Y Hà Nội đã tận tình dạy dỗ em và tạo
điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung
Ương đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn chân thành và kính trọng nhất đến gia
đình của em và cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè - những người đã luôn chăm
sóc, lo lắng và động viên mỗi khi em gặp khó khăn để em có được ngày hôm
nay.
Khóa luận này còn nhiều thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của
các thầy cô, bạn bè để ngiên cứu này được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày / /2013
Trần Thanh Hương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được tiến hành trên sự cho phép của
Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương và trường đại học Y Hà Nội. Các số liệu, kết
quả trong khóa luận hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì nghiên cứu nào khác.
Sinh viên
Trần Thanh Hương
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KVMB Khu vực Miền Bắc
VSDTTW Vệ sinh dịch tễ trung ương
WHO World Health Organization (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh tay-chân-miệng 3
1.1.1. Tác nhân gây bệnh 3
1.1.2. Đặc điểm dịch tễ học 4
1.1.3. Quá trình dịch 5
1.1.4. Sinh bệnh học 7
1.2. Đặc điểm lâm sàng 7
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng và chuẩn đoán bệnh 7
1.2.2. Giải phẫu bệnh 11
1.2.3. Biện pháp phòng và chống 11
1.3. Tình hình tay - chân - miệng trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Trên thế giới 12
1.3.2. Tại Việt Nam 14
1.4. Các nghiên cứu dịch tễ học tay-chân-miệng 16
1.4.1. Trên thế giới 16
1.4.2. Tại Việt Nam 17
1.5. Tổng quan mô hình toán học 18
1.5.1. Thế nào là mô hình toán học? 18
1.5.2. Mô hình toán học dịch tễ 19
1.5.3. Áp dụng mô hình toán học 19
CHƯƠNG 2 20
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2. Đối tượng nghiên cứu 20

2.3. Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 20
2.3.2. Mẫu nghiên cứu 20
2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu 21
2.5. Phương pháp quản lý và xử lý số liệu 23
2.5.1. Phương pháp nhập liệu 23
2.5.2. Phương pháp phân tích số liệu 23
2.6. Sai số và cách khắc phục 25
2.6.1. Sai số 25
2.6.2. Biện pháp khắc phục 25
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 27
KẾT QUẢ 27
3.1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tay-chân-miệng ở miền Bắc
Việt Nam năm 2012 27
CHƯƠNG 4 32
BÀN LUẬN 32
KẾT LUẬN 33
KIẾN NGHỊ 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Phân bố ca bệnh tại miền Bắc năm 2012 27
Biểu đồ 3.2. Phân bố ca bệnh tay-chân-miệng ở miền Bắc theo địa dư
năm 2012 30
Biểu đồ 3.3. Xu hướng lan truyền bệnh tay-chân-miệng ở miền Bắc
năm 2012 31

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hình thái virus gây bệnh tay-chân-miệng 4
Hình 1.2: Hình vẽ minh họa biểu hiện của bệnh tay-chân-miệng 9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay- chân- miệng (hand-foot and mouth disease) là một bệnh nhiễm
trùng cấp tính do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên và thường
gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Bệnh chủ yếu do Enterovirus 71 ( 65,7%) và
Coxsackie A16 (34,3%) [1]. Enterovirus 71 là loại nguy hiểm nhất, nó gây ra
các biến chứng thần kinh và tim mạch trầm trọng đãn đến tử vong. Biểu hiện
lâm sàng chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí
đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối[14].
Bệnh tay-chân-miệng lưu hành ở nhiều nước trên thế giới, trong thời gian
gần đây đã xuất hiện nhiều vụ dịch do Enterovirus 71 gây ra trên phạm vi
rộng lớn và đặc biệt là các nước khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.
Enterovirus 71 được phân lập lần đầu tiên ở một trẻ viêm màng não tại
California vào năm 1969. Vào thời kỳ đó Enterovirus 71 đã gây dịch tại Mỹ,
Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Bungary, Hungary. Vào những năm 1998 - 1999
Enterovirus 71 đã gây bệnh tại các quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Nhật
Bản, Singapore, Đài Loan, Malaysia, Trung Quốc. Vụ dịch tại Đài Loan năm
1998 được coi là vụ dịch lớn với hơn 100.000 người mắc, hơn 400 trẻ phải
nhập viện với các biến chứng ở hệ thần kinh trung ương và 78 trẻ đã tử vong.
[3]
Việt Nam cũng không nằm ngoài vùng bao phủ sự bùng phát của bệnh
dịch này. Trung bình mỗi năm cả nước xảy ra hàng ngàn trường hợp mắc và
hàng chục ca tử vong. Vào năm 2006 cả nước ghi nhận 2284 trường hợp mắc
bệnh, năm 2007 là 2988 trường hợp, năm 2008 là hơn 3000 trường hợp và 10
trường hợp bị tử vong. [1]
Bệnh rất dễ nhầm lẫn với các bệnh về da khác như chốc, thủy đậu, sốt
phát ban và sốt xuất huyết nên khó phát hiện kịp thời. Hiện nay bệnh chưa có
vacxin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, các biện pháp phòng
chống không đặc hiệu nên bệnh tay-chân-miệng đang là vấn đề Y tế công
cộng nghiêm trọng trong công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm, việc kiểm
soát bệnh dịch còn nhiều khó khăn.

Ở Việt Nam, những năm gần đây bệnh gây ra các vụ dịch lớn ở khu vực
miền Nam, miền Bắc chưa có dịch lớn xảy ra nhưng vấn đề cảnh báo dịch cần
được quan tâm nghiên cứu.Vậy chúng ta phải làm thế nào để kiểm soát được
dịch bệnh? Và liệu chúng ta có thể dự báo được qui mô của dịch để kịp thời
phòng chống một cách hiệu quả hay không?
Chính vì lí do trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Mô hình
toán học và khả năng kiểm soát diễn biến dịch tay-chân-miệng ở khu vực
miền Bắc năm 2010-2012” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ bệnh tay-chân-miệng của khu vực miền Bắc
năm 2010-2012
2. Xây dựng mô hình toán học dự báo bệnh tay-chân-miệng dựa trên số
liệu sẵn có của khu vực miền Bắc năm 2010-2012 và từ đó tính toán
khả năng kiểm soát dịch bằng một số biện pháp dự phòng.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh tay-chân-miệng
1.1.1. Tác nhân gây bệnh
1.1.1.1. Tên tác nhân
Do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovius gây nên. Tuy nhiên hay gặp
nhất là Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 hoặc một số loại virus khác
thuộc nhóm Entervioruses [13], [33], [9], [39], [40].
 Coxsackievirus A16 : ít gây biến chứng thần kinh và có thể tự hết
trong vài ngày.
 Enterovirus 71 : loại nguy hiểm dễ gây các biến chứng hệ thần kinh
nặng như viêm não, viêm màng não,…và có thể dẫn đến tử vong [35].
 Nhóm virus ruột : phân nhóm virus Poliovirus, Coxsackievirus,
Echovirus và một số Echovirus khác không xếp vào phân nhóm nào.
1.1.1.2. Hình thái virus
 Hình cầu, đường kính 27-30nm
 Lớp capsid gồm 60 tiểu đơn vị, không có lớp bao ngoài

 Bên trong chứa RNA, là thành phần di truyền, nhân lên và gây
nhiễm của virus. Virus được nhân lên ở bào tương của tế bào bị nhiễm.
 Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài
 Virus bị đào thải ra ngoại cảnh từ phân, dịch hắt hơi, sổ mũi
 Virus bị bất hoạt bởi nhiệt 560˚C trong vòng 30 phút, tia cực tím, tia
gammar
 Virus chịu được pH phổ rộng từ 3-9
 Bị bất hoạt bởi: 2% Sodium hyproclorite (nước Javel), Cholorine tự do.
Không hoặc ít bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như: cồn, Chloroform, phenol,
ether
 Ở nhiệt độ lạnh 40˚C, virus sống được 3 tuần.

Hình 1.1: Hình thái virus gây bệnh tay-chân-miệng
1.1.2. Đặc điểm dịch tễ học
 Thời kì ủ bệnh là từ 3-7 ngày. Những ngày đầu của bệnh là thời gian
lây mạnh nhất và virut tồn tại trong phân đến vài tuần sau khi không còn dấu
hiệu bệnh nên bệnh nhân vẫn là nguồn lây quan trọng[6].
 Bệnh hay gặp nhiễm virut mà không có triệu chứng. Hàng năm Mỹ
có khoảng 5-10 triệu người nhiễm EV chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ, trong đó trẻ
dưới 1 tuổi chiếm 44,2%[15].
 Tỷ lệ bị nhiễm phát triển thành bệnh thay đổi từ 2-100% tùy thuộc
tuyp huyết thanh và các chủng gây nhiễm, các chủng miễn dịch sẵn có và tuổi
của bệnh nhân[6].
 Thời gian lây nhiễm từ vài ngày trước khi khởi phát bệnh cho đến
khi hết loét miệng và các phỏng nước, thường dễ lây nhất trong tuần đầu của
bệnh.
 Phân bố theo thời gian: bệnh xảy ra quanh năm, có xu hướng theo
mùa, thường gặp trong mùa Hè – đầu Thu gần đây lại có xu hướng tăng vào
mùa Đông-Xuân, tuy nhiên vẫn có các ca lẻ tẻ rải rác trong năm [18], [21],
[13], [30].

 Phân bố theo tuổi: bệnh xuất hiện ở trẻ dưới 10 tuổi, nhiều hơn ở
dưới 5 tuổi, tập trung ở dưới 3 tuổi, đỉnh cao ở 1-2 tuổi. Theo Ho M và cộng
sự đã phân tích các ca mắc bệnh tay chân miệng trong vụ dịch ở Đài Loan
năm 1998 cho thấy tuổi thường gặp là dưới 5[22]. Tại Anh trong vụ dịch năm
1994 có 952 ca mắc bệnh trong đó hầu hết bệnh nhân trong độ tuổi từ 1 - 4
[25]. Tại Việt Nam thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi đặc biệt là ở dưới 3 tuổi.
 Phân bố theo địa dư
 Bệnh lưu hành ở các nước trên thế giới, gần đây xuất hiện nhiều ở
khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.
 Ở Việt Nam bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương
trong cả nước và tập trung nhiều ở miền Trung và miền Nam. Tỷ lệ mắc tăng
cao ở phía Nam và biến chứng cũng nặng hơn so với phía Bắc [9].
1.1.3. Quá trình dịch
1.1.3.1. Nguồn truyền nhiễm
• Là người bệnh
• Người lành mang trùng
• Người khỏi mang trùng
1.1.3.2. Đường truyền nhiễm
- Nhiễm trùng thông thường xảy ra qua đường phân miệng hoặc qua
đường tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương da và chất tiết ở miệng. Đặc biệt
khi bệnh nhân có biểu hiện bệnh đường hô hấp thì việc hắt hơi, ho, nói
chuyện sẽ tạo điều kiện cho virut lây trực tiếp từ người sang người [16], [26],
[7].
- Trẻ em sinh hoạt chung nhau ở nhà trẻ, mầm non, trường học cũng là
môi trường tốt cho bệnh lan truyền từ trẻ này sang trẻ khác [29].
- Những cá thể trong cùng gia đình cũng có nguy cơ lây nhiễm bệnh.
Một số báo cáo thống kê cho thấy không có sự khác biệt giữa hai giới. [4],
[8], [12].
1.1.3.3. Khối cảm nhiễm
Mọi người đều có thể nhiễm virus nhưng không phải tất cả những

người nhiễm virus đều biểu hiện bệnh. Trẻ nhỏ hay bị bệnh và thường có biểu
hiện nặng hơn vì hệ miễn dịch chưa hoàn hảo [31]. Mặc dù mọi lứa tuổi đều
có khả năng nhiễm EV nhưng theo các nghiên cứu và sự giám sát dựa trên
quần thể các vụ dịch đã chứng minh tỷ lệ nhiễm bệnh ở trẻ dưới 4 tuổi cao
gấp nhiều lần so với trẻ lớn, nam có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi nữ [18],
[20], [23], [32].
1.1.4. Sinh bệnh học
Đầu tiên là virus cư trú ở má hay niêm mạc hồi tràng và sau 24h, virus
lan đến các hạch bạch huyết vùng. Nhiễm virus huyết thường xảy ra nhanh
chóng sau đó và virus di chuyển đến niêm mạc miệng và da. Vào ngày thứ 7
sau khi bị nhiễm bệnh, kháng thể trung hòa tăng cao và virus bị thải loại.
1.2. Đặc điểm lâm sàng
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng và chuẩn đoán bệnh
1.2.1.1. Đặc điểm lâm sàng
 Bệnh thường đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước
 Triệu chứng đầu tiên thường là sốt nhẹ, biếng ăn, mệt mỏi, đau
họng. 1 đến 2 ngày sau xuất hiện sốt trẻ ban đầu đau miệng
 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh khác nhau qua các giai đoạn:
 Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.
 Giai đoạn khởi phát: từ 1-2 ngày với các triệu chứng:
Sốt nhẹ
Mệt mỏi
Đau họng
Biếng ăn
Tiêu chảy vài lần trong ngày.
 Giai đoạn toàn phát: có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng
điển hình của bệnh.
Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm
mạc miệng, lợi, lưỡi.
Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối,

mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm.
Sốt nhẹ.
Nôn.
Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.
Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ
ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.
 Giai đoạn lui bệnh: thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn
nếu không có biến chứng.
Các thể lâm sàng:
- Thể tối cấp: Bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như
suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê co giật dẫn đến tử vong trong vòng 48 giờ.
- Thể cấp tính: với 4 giai đoạn điển hình như trên.
- Thể không điển hình: Dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có
loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không có
phát ban và loét miệng.

Hình 1.2: Hình vẽ minh họa biểu hiện của bệnh tay-chân-miệng
1.2.1.2. Chẩn đoán bệnh
- Chẩn đoán bệnh thường dựa trên biểu hiện lâm sàng với các vị trí
đặc trưng của ban ( tay, chân, miệng, mông ).
- Định nghĩa ca bệnh: có 2 mức độ là ca lâm sàng và ca xác định
 Ca lâm sàng: lâm sàng có phát ban tay-chân-miệng và loét miệng.
 Ca xác định: là ca lâm sàng và được xác định bằng xét nghiệm có sự
xuất hiện của virus, có xét nghiệm khẳng định dương tính : PCR (+) hoặc cấy
phân lập dương tính với EV, EV71.
- Phân độ:
 Độ 1: chỉ có loét miệng và hoặc sang thương ở da
 Độ 2: rung giật cơ, bức rức, chới với
 Độ 3: yếu liệt chi, liệt các dây thần kinh sọ, co giật, hôn mê
 Độ 4: suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch

1.2.2. Giải phẫu bệnh
 Khám họng trẻ có thể phát hiện các chấm đỏ sau đó biến thành các
bọng nước và thường tiến triển đến loét.
 Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu và bên trong má
 Ban da xuất hiện trong vòng 1 đến 2 ngày với các tổn thương phẳng
trên da hoặc có thể gồ lên, máu đỏ và 1 số hình thành bọng nước. Ban này
không ngứa và thường khu trú ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân.
 Khi não bị thâm nhiễm, thì viêm não - màng não tiên phát với tiêu
hủy tế bào thần kinh trung ương hoặc viêm cơ tim, phù phổi có thể xảy ra và
dẫn đến tử vong.
1.2.3. Biện pháp phòng và chống
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh tay chân miệng nên chủ
yếu là điều trị hỗ trợ (không dung kháng sinh khi không có bội nhiễm) [9],
[10].
1.3. Tình hình tay - chân - miệng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Bệnh tay-chân-miệng do Enterovirus phân bố khá phổ biến trên thế
giới, bệnh thường xảy ra ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bệnh được
phát hiện đầu tiên tại Toronto (Canada) năm 1957 trong một đợt dịch. Năm
1960 tại Birmingham (Anh) bệnh được đặt tên là tay-chân-miệng[4].
Năm 1969 tại California đã phát hiện ra ca bệnh đầu tiên nhiễm EV71
có biến chứng viêm màng não vô khuẩn, cho đền năm 1974 EV71 đã được
xếp vào những virut đường ruột mới. Trong những năm tiếp theo EV71 cũng
được phân lập tại Mỹ, Úc, Thụy Điển, Nhật,…[16], [20], [34].
Năm 1975 EV71 đã gây ra một vụ dịch ở Bungari và kết quả là 705 ca
viê mnão tủy, trong đó có 44 ca tử vong và 93% những ca viêm não tủy xảy
ra ở trẻ em dưới 5 tuổi[16], [19]. Năm 1978 Hungari cũng xảy ra một vụ dịch
tương tự, có rất nhiều ca viêm não tủy trong đó có 47 ca tử vong[16], [27].
Tình hình dịch bệnh tay-chân-miệng trên thế giới trong những năm gần
đây có xu hướng tăng cao tại nhiều nước đặc biệt tại khu vực Thái Bình

Dương. Vụ dịch ở Đài Loan được ghi nhận là lớn nhất với hơn 100.000 ca bị
bệnh tay-chân-miệng. Trong đó 405 trẻ đã được nhập viện vì các triệu chứng
thần kinh, 78 ca chết vì viêm não[16], [ 24]. Năm 2003 tại các tỉnh phía Tây
Bengal- Ấn Độ đã xảy ra vụ dịch tay-chân-miệng và theo thống kê của
Nilendu Sarma có 38 trẻ phải nhập viện[17]. Theo nghiên cứu của Sazaly
AbuBakar và cộng sự cho biết: từ tháng 3 tới tháng 10 năm 2006 có ít nhất
100 bệnh nhân có triệu chứng của bệnh tay chân miệng nhập viện tại bệnh
viện của trường đại học y dược Malaya trong đó có 34 bệnh nhân phân lập có
EV71[20].
Các yếu tố nguy cơ của những trận dịch này là trẻ có nhập điều trị tại
các trung tâm chăm sóc nhi, tiếp xúc với người bệnh tay chân miệng, gia đình
đông người,…[18], [21].
Trong những tháng đầu năm 2012, bệnh tay-chân-miệng tiếp tục được
ghi nhận số mắc tăng từ 1,7 – 1,8 lần so với cùng kì năm 2011, cụ thể như
sau: [2]
STT Quốc gia
Số trường hợp mắc
So sánh với
cùng kỳ 2011
2012
Mắc/100.000
năm 2012
2011
1 Singapore 1,511 32.1 849 Tăng 1,8 lần
2 Nhật Bản 2,349 1.9 1,373 Tăng 1,7 lần
3 Hồng Kông 7 0.1 13 Tăng 0,5 lần
4 Hàn Quốc
0,4/1.000bệnh
nhân ngoại trú
-

0,5/1.000
bệnh nhân
ngoại trú
Tăng 0,8 lần
1.3.2. Tại Việt Nam
Việt Nam đã được thông báo về bệnh tay chân miệng từ năm 1997.Cho
đến năm 2003 thì bệnh được quan tâm nhiều hơn, cũng trong những tháng
đầu năm 2003 tại bệnh viện Nhi Đồng 1 và các bệnh viện miền nam xuất hiện
nhiều trường hợp tử vong nhanh ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi với bệnh cảnh lâm sàng
diễn biến nhanh trên nền hội chứng tay chân miệng nghi ngờ do EV71[5].
Theo báo cáo của các Viện Vệ sinh dịch tễ/ Pasteur trong tuần từ
ngày 05/3/2012 đến ngày 11/3/2012 cả nước ghi nhận 2.127 trường hợp mắc
mới tay chân miệng tại 53 địa phương, không ghi nhận trường hợp tử vong.
So với tuần trước số mắc mới tay chân miệng tăng 6,7% (tăng 134
trường hợp) cụ thể như sau:[2]
Tuần 10 Tuần 09 Tỷ lệ % tăng,
giảm
Tích lũy số liệu bổ
sung các tuần trước
M C M C M C M C
Cả nước 2.12 0 1.993 0 6.7 0 649 0
Miền Bắc 787 0 800 0 -1.6 0 478 0
Miền Trung 394 0 364 0 8.2 0 99 0
Miền Nam 827 0 731 0 13.1 0 61 0
Tây Nguyên 119 0 98 0 21.4 0 11 0
Trong tuần có 14 địa phương ghi nhận số mắc trong tuần tăng so với tuần
trước là: TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Hưng Yên, Cần Thơ, Bà
Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Hải Phòng, Cao Bằng, Kon Tum, Bắc Ninh, Quảng
Ninh, Kiên Giang, Vĩnh Long; 10 địa phương có số mắc giảm là: Hải Dương,
Lào Cai, Đồng Tháp, Quảng Nam, Hà Nội, Thái Bình, Bến Tre, Phú Yên,

Tuyên Quang, Ninh Thuận và 39 địa phương còn lại có số mắc không tăng,
không giảm.
Các địa phương khác báo cáo bổ sung 649 trường hợp mắc tay chân
miệng từ các tuần trước chủ yếu ở tỉnh Vĩnh Phúc (bổ sung 305 trường hợp).
Tích lũy từ đầu năm 2012, cả nước đã ghi nhận 15.218 trường hợp mắc
tay chân miệng tại 61 địa phương (tỷ lệ mắc/100.000 dân là: 17,0), trong đó
có 11 trường hợp tử vong tại 08 tỉnh, thành phố (tỷ lệ chết/100.000 dân là:
0,01; tỷ lệ chết/mắc là: 0,07). So với Singopore tỷ lệ mắc/100.000 dân ở nước
ta thấp hơn.
10 tỉnh, thành phố có tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất của cả nước là: Hải
Phòng, Đồng Tháp, Lào Cai, Hậu Giang, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Khánh Hòa,
Cà Mau, Cần Thơ và Vĩnh Long. Như vậy TP. Hải Phòng đứng đầu cả nước
về số trường hợp mắc tay chân miệng cũng như tỷ lệ mắc/100.000 dân với số

×