Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ vốn QUẢN TRỊ vốn NGẮN hạn tại CÔNG TY TNHH HÙNG HƯNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (518.97 KB, 67 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA KINH TẾ -CƠ SỞ THANH HÓA

BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI

: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ VỐN
QUẢN TRỊ VỐN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH
HÙNG HƯNG
GVHD : ThS. Lê Đức Thiện
SVTH : Tạ Thị Hiền
MSSV : 10023593
Lớp : CDTD12TH
Thanh Hóa, tháng 3 năm 2013
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
















Thanh Hóa, ngày tháng năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
(kí, ghi rõ họ tên)
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
LỜI CAM ĐOAN
Lời cam đoan
Em xin cam đoan bài báo cáo của em do em thực hiện theo sự hướng
dẫn của Th.s Lê Đức Thiện, các số liệu, và tài liệu tham khảo được trích dẫn
rõ ràng. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá em
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
 Lời cảm ơn
Lời đầu tiên em xin trân thành cảm ơn đến qúy Thầy, Cô trường Đại
Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh, những người đã trực tiếp giảng
dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền tảng cơ
bản, những hành trang vô cùng quý giá, là bước đầu tiên để em đến với sự
nghiệp trong tương lai. Đặc biệt là Th.s Lê Đức Thiện – một người thầy
không những đã cho em nhiều kiến thức trong những môn học chuyên ngành
mà thầy còn là người đã tận tình hướng dẫn, giải đáp những thắc mắc trong
quá trình em đi thực tập và hoàn thành bài báo cáo thực tập. Nhờ vậy, em mới
có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập này.
Bên cạnh đó, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Giám
đốc và Phó giám đốc cùng các chị trong phòng Tài chính – Kế toán trong
Công ty TNHH Hùng Hưng đã dạy cho em những công việc mà khi học tại
trường em chưa biết, dù rất bạn rộn nhưng vẫn dành thời gian chỉ bảo, hướng
dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em tình hiểu về đề tài mà em thực
tập.
Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, vì chưa có nhiều kinh nghiệm

thực tế, và kiến thức của em còn hạn chế nên bài báo cáo chắc chắn không
tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía
quý Thầy, Cô cũng như Cô, Chú, Anh, Chị trong công ty để kiến thức của em
ngày càng hoàn thiện hơn và rút ra kinh nghiệm bổ ích có thể áp dụng vào
thực tế một cách hiệu quả trong tương lai, và hiện nay là bài báo cáo thực tập
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
1 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
2 NH Ngắn hạn
3 DH Dài hạn
4 VCSH Vốn chủ sở hữu
5 TSCĐ Tài sản cố định
6 VNH Vốn ngắn hạn
7 LN Lợi nhuận
8 DT Doanh thu
9 TS Tài Sản
10 NV Nguồn vốn
11 SXKD Sản xuất kinh doanh
12 CSH Chủ sở hữu
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BẢNG
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593

Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định
“Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, doanh nghiệp nhà nước là lực
lượng kinh tế chủ lực, các công ty nhà nước phải thực sự trở thành các tập đoàn
kinh tế mạnh – là xương sống của nền kinh tế quốc dân”. Hơn 10 năm qua kinh
tế nhà nước đã được hình thành đồng bộ hơn. Trong đó vai doanh nghiệp nhà
nước đóng vai trò nhất định trongviệc tăng cường lực lượng kinh tế quốc dân và
đang từng bước đổi mới, sắp xếp lại về mô hình tổ chức, cơ cấu sở hữu, kỹ
thuật, công nghệ …Và hiện nay khi nền kinh tế đang hội nhập vào nền kinh tế
thế giới thì không chỉ có doanh nghiệp mà còn có nhiều doanh nghiệp theo các
thành phần kinh tế khác nhau đang chung tay xây dựng nền kinh tế đất nước.
Theo quan điểm hiện đại, mỗi doanh nghiệp được xem như một tế bào
sống cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế. Tế bào sống đó cũng cần phải có quá
trình trao đổi chất với môi trường bên ngoài thì mới tồn tại và phát triển được,
Vốn chính là đối tượng của quá trình trao đổi đó. Nó đảm bảo sự sống cho
doanh nghiệp, nếu thiếu hụt thì doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán. Nói
cách khác, vốn là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp
nào.
Do đó, hiệu quả của quản lý và sử dụng vốn nói chung và vốn ngắn hạn
nói riêng trở thành vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp.
Nếu đồng vốn mà doanh nghiệp sử dụng có khả năng đem lại lợi nhuận cao thì
doanh nghiệp không những bù đắp được chi phí mà còn tích luỹ được để tái sản
xuất mở rộng. Vốn ngắn hạn cũng là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh,
nó tham gia vào hầu hết các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó,
hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn tác động mạnh mẽ tới khả năng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn

chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vốn ngắn hạn chưa được quản lý, sử dụng
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 1
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
có hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh không cao. Vì vậy, bằng
những kiến thức quý báu về tài chính doanh nghiệp, vốn ngắn hạn tích luỹ được
trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố
Hồ Chí Minh, cùng thời gian thực tập thiết thực tại Công ty TNHH Hùng Hưng,
em đã chọn đề tài “Phân tích hiệu quả quản trị vốn ngắn hạn tại Công ty
TNHH Hùng Hưng” làm đề tài viết báo cáo thực tập.
Do hạn chế về trình độ nhận thức và thời gian thực tập, báo cáo này chắc
chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những đóng góp từ phía thầy,
cô giáo và các anh chị trong phòng tài chính – kế toán Công ty TNHH Hùng
Hưng để báo cáo có thể hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu hơn về đề tài
thực tập mà mình lựa chọn.
2.Mục đích nghiên cứu
Đánh giá khái quát tình hình tài chính – tình hình quản trị vốn ngắn hạnlà
việc dựa trên những tài liệu tài chính trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp
để tính toán và xác định các chỉ tiêu phản ánh thực trạng và an ninh tài chính
doanh nghiệp.Từ đó, giúp cho nhà quản lý nhìn nhận đúng đắn về tình hình tài
chính của công ty nhằm đưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu phù hợp với
tình trạng hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai. Đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp là đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu về thực
trạng tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy em làm đề
tài này với 3 mục đích chính:
 Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị vốn ngắn hạn tại công ty
TNHH Hùng Hưng
 Tìm ra nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản trị vốn ngắn hạn
 Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn ngắn hạn
3.Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu
Báo cáo tài chính 3 năm (2010, 2011, 2012)
Giới thiệu về công ty, ngành nghề, các bộ phận trong công ty
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 2
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Các tài liệu có liên quan
Phương pháp phân tích, so sánh
Phương pháp chỉ số và phương pháp mô tả.
Dùng các bảng biểu để miêu tả chỉ tiêu cần thiết cho việc phân tích
4.Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh của công ty TNHH rất đa dạng chính vì vậy để đánh
giá một cách chính xác đòi hỏi phái có một quá trình nghiên cứu về mọi hoạt
động của doanh nghiệp và số liệu tương đối đầy đủ nên đề tài này chỉ đi vào
phân tích: “ Phân tích tình hình quản trị vốn ngắn hạn tại công ty TNHH
Hùng Hưng trong 3 năm 2009, 2010,2011” Cụ thể là đánh giá về tình hình huy
động vốn, mức độ độc lập về vốn, đánh giá cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh
nghiệp. Từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị vốn ngắn hạn tại
công ty TNHH Hùng Hưng trong thời gian tới.
5.Cấu trúc đề cương
Báo cáo gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu thực tập
Chương II: Thực trạng vấn đề hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn tại công ty
TNHH Hùng Hưng
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện hiệu quả vốn
ngắn hạn tại công ty TNHH Hùng Hưng.
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 3
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu thực tập

1.1.Khái niệm về vốn ngắn hạn
Vốn ngắn hạn của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh
ứng ra để mua sắm và hình thành tài sảnngắn hạn sản xuất và tài sản lưu thông
nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách
thường xuyên, liên tục.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp gồm có: tài sản ngắn hạn trong quá
trình sản xuất như các loại vật tư dự trữ cho sản xuất, sản phẩm đang chế tạo,
bán thành phẩm….Và các loại tài sản ngắn hạn trong quá trình lưu thông như:
thành phẩm hàng hoá vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Tài sản ngắn hạn nằm
trong quá trình sản xuất và tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình lưu thông vận
chuyển không ngừng nhằm làm cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên và
liên tục. Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp trong dự trữ và sản xuất.
Thông qua quá trình sản xuất, khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì toàn bộ
tư liệu lao động đã chuyển hoá thành thành phẩm. Sau khi kiểm tra, kiểm
nghiệm chất lượng thành phẩm được nhập kho chờ tiêu thụ. Mặt khác để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp còn cần một số tiền mặt trả lương công
nhân và các khoản phải thu phải trả khác… Toàn bộ thành phẩm chờ tiêu thụ
và tiền để phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm được gọi là tài sản ngắn hạn trong lưu
thông.
Các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào chu kỳ sản xuất được
lặp đi lặp lại. Vốn ngắn hạn hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản
xuất. Như vậy xét về vật chất, để sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục,
ngoài tài sản cố định doanh nghiệp còn cần phải có tài sản ngắn hạn trong dự
trữ, trong sản xuất và trong lưu thông. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá –
tiền tệ, để hình thành các tài sản ngắn hạn này các doanh nghiệp phải bỏ ra một
số vốn đầu tư ban đầu nhất định. Vì vậy có thể nói: Vốn ngắn hạn của doanh
nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản ngắn hạn trong
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 4
Báo cáo thực tâp

GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
doanh nghiệp.
Vốn ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn nên đặc điểm
vận động của vốn ngắn hạn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản
ngắn hạn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn ngắn hạn không ngừng vận
động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu
thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ
và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn ngắn hạn. Qua mỗi giai
đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện: Từ
hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ
và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Tương ứng với
một chu kỳ kinh doanh thì vốn ngắn hạn cũng hoàn thành một vòng chu chuyển.
1.2.Đặc điểm của vốn ngắn hạn
Vốn ngắn hạn luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn ngắn hạn hoàn thành một
vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vốn ngắn hạn trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong
quá trình tuần hoàn luân chuyển. Vốn ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Vốn ngắn hạn vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình
thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Chu
kỳ vận động của vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.3.Phân loại vốn ngắn hạn
Để quản lý, sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả cần phải phân loại vốn ngắn
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 5
Vốn bằng
tiền
Vốn dự trữ
sản xuất
Vốn trong

sản xuất
Mua vật tư
Hàng hoá
Sản xuất
Sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu quản lý.
1.3.1.Căn cứ vai trò vốn ngắn hạntrong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn ngắn hạn của doanh nghiệp được phân thành
3 loại:
1.3.1.1.Vốn ngắn hạn trong khâu dự trữ
Bao gồm các khoản vốn sau:
Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà
khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trog sản xuất. Các
loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp với
nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản
phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất thực hiện được bình thường,
thuận lợi.
Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các vật tư mà khi tham gia vào quá trình
sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá
trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn
là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành

liên tục.
1.3.1.2.Vốn ngắn hạn trong khâu sản xuất
Bao gồm các khoản vốn:
Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh
doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
Vốn bán thành phẩm tư chế: Đây là phần vốn ngắn hạn phản ánh giá trị các
chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trãi qua những công
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 6
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng( thành
phẩm).
Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng
cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản
phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳ
tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng,
lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng
trong xây dựng cơ bản…
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản
xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp lý.
1.3.1.3.Vốn ngắn hạn trong khâu lưu thông
Loại này bao gồm các khoản vốn:
Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửu ngân hàng và tiền đang
chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi
thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn
hạn… Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán

(do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt khác
tận dụng khả năng sinh lời của tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn ngắn hạn.
Các khoản vốn trong thanh toán: Các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…
Chủ yếu trong các khoản mục vốn này là khoản phải thu của khách hàng, thể
hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng
hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau. Khoản mục vốn này liên quan
chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong
những chiến lược quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 7
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Ngoài ra, một số trường hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanh nghiệp còn phải
ứng trước tiền cho người cung cấp từ đó hình thành khoản tạm ứng.
Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên,
đều đặn theo nhu cầu của khách hàng.
Việc phân loại vốn ngắn hạn theo phương pháp này giúp cho việc xem xét
đánh giá tình hình phân bổ của vốn ngắn hạn trong từng khâu của quá trình chu
chuyển vốn ngắn hạn. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích
hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn ngắn hạn hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn
ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn.
1.3.2.Theo các hình thái biểu hiện
1.3.2.1.Tiền và các tài sản tương đương tiền
Vốn bằng tiền
Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi
khả năng thanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để
vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn ngắn
hạn.
1.3.2.2.Các khoản phải thu

Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và đưa
ra những chính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng nhu cầu của khách
hàng, nâng cao doanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.3.2.3.Hàng tồn kho
Là các khoản vốn ngắn hạn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể bao
gồm:
Vốn nguyên, nhiên vật liệu
Vốn nguyên vật liệu chính
Vốn vật liệu phụ
Vốn nhiên liệu
Công cụ, dụng cụ trong kho
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 8
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Thành phần tồn kho
Hàng gửi bán
Hàng mua đang đi trên đường
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm
đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ
sản xuất – lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này hoạt động không phải lúc
nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất và
bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất
kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kê hoạch sản xuất
và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự bảo vệ trước những
biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản phẩm của
doanh nghiệp.
1.3.2.4.Tài sản ngắn hạn khác
Tạm ứng
Chi phí trả trước

Chi phí chờ kết chuyển
Các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn
1.3.3.Theo nguồn hình thành của vốn ngắn hạn
Theo cách phân loại này, vốn ngắn hạn được chia thành 2 loại:
1.3.3.1.Nguồn vốn chủ sở hữu
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy
đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Tuỳ theo
loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở
hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn ngắn hạn được ngân sách nhà nước cấp
hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh nghiệp nhà nước);
số vốn do các thành viên (đối với loại hình doanh nghiệp công ty) hoặc do chủ
doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn ngắn hạn tăng thêm từ lợi nhuận bổ sung; số
vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn góp huy động được qua phát hành cổ
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 9
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
phiếu.
1.3.3.2.Nợ phải trả
Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn ngắn hạn được hình thành từ vốn vay
các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông qua phát
hành trái phiếu.
Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp
khác trong quá trình thanh toán.
Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình
thành nên vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ động
và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn ngắn hạn hiệu quả
hơn.
1.4.Vai trò của vốn ngắn hạn
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng….doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng

hoá, nguyên vật liệu…phục vụ quá trình sản xuất. Như vậy vốn ngắn hạn là điều
kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn ngắn hạn
là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra vốn ngắn hạn còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn ngắn hạn còn là công cụ
phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh
nghiệp.
Vốn ngắn hạn còn khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc
sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động
một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hoá. Vốn
ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi
thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vốn ngắn hạn còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do
đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hoá
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 10
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một
phần lợi nhuận. Do đó vốn ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá
cả hàng hoá bán ra.
1.5.Kết cấu vốn ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn ngắn
hạn.
1.5.1. Kết cấu vốn ngắn hạn.
Kết cấu vốn ngắn hạn phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn ngắn
hạn trong tổng số vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Vốn ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức
quản lý, sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện
nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với

việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn
luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút
ngắn vòng quay của vốn.
Do đó vốn ngắn hạn của doanh nghiệp dùng để mua sắm đối tượng lao
động cũng có kết cấu phức tạp và được chia thành những bộ phận chính sau:
1.5.1.1.Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn
Tiền là lượng tiền mà doanh nghiệp có được do ngân sách cấp, do tự có,
hoặc do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc do đi vay. Nó tồn tại dưới
hình thức tiền mặt, tiền quỹ và tiền gữi Ngân hàng và nó có vai trò rất quan
trọng đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thuận lợi và liên tục trong quá
trình sản xuất kinh doanh và trong quá trình mua bán hàng hoá.
Đầu tư tài chính ngắn hạn: là việc doanh nghiệp bỏ vốn để mua các chứng
khoán có giá trị đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản có thể thu hồi
trong thời hạn không quá 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho
bạc, ký phiếu Ngân hàng , cổ phần háo của những Công ty khác)
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 11
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
1.5.1.2.Hàng tồn kho
Hàng tồn kho của doanh nghiệp ngắn hạn tài sản mà doanh nghiệp dự trữ
để sản xuất hoặc bán ra sau này hàng tồn kho của doanh nghiệp thường bao gồm
nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế hàng hoá thành phẩm hayb một số công cụ
dụng cụ dùng cho sản xuất kinh doanh. Tất cả các doanh nghiệp đều có hàng
tồn kho bởi vì quá trình sản xuất kinh doanh luôn biến động vì phải chịu sự tác
động của yếu tố môi trường bên ngoài cũng như bên trong doanh nghiệp. do
vậy để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và bình thường, tránh sự
thiếu hụt và ứ đọng vốn không hợp lý thì doanh nghiệp cần phải có lượng hàng
tồn kho nhất định
1.5.1.3.Các khỏan phải thu:

Trong các khoản phải thu thì khoản trhu khách hàng là quan trọng nhất và
chiếm tỷ lệ đáng kể, do đó ta chỉ nghiên cứu phải thu khách hàng .
Khoản phải thu khách hàng là một bộ phận thuộc TSLĐ của doanh nghiệp
phát sinh do doanh nghiệp bán chịu hàng hoá hoặc dịch vụ cho khách hàng của
mình. Bởi vì do yếu tố cạnh tranh cũng như nhu cầu tăng doanh số bán ra, các
doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín dụng, cho nên
các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn ngắn hạn của doanh
nghiệp bán hàng theo phương thức tín dụng được các doanh nghiệp sử dụng
như là điều kiện thanh toán, điều kiện bán hàng với khách hàng đồng thời nó
cũng là công cụ của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh.
1.5.1.4.Tài sản ngắn hạn khác
Vốn ngắn hạn của doanh nghiệp ngoài những thành phần chính trên còn
tồn tại trong các khoản khác như: các khoản tạm ứng, tạm chi tạm gữi theo
những nguyên tắc riêng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi thanh toán
và xử lý
1.5.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn ngắn hạn.
Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu VNH của doanh nghiệp.
Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 12
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối
lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại
vật tư cung cấp.
Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất
của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản
xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất.
Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn
theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh
toán giữa các doanh nghiệp.

1.6.Quản trị vốn ngắn hạn
Quản trị vốn ngắn hạn của doanh nghiệp trong báo cáo này được định
nghĩa là quản trị về tiền mặt, vốn, các khoản phải thu…nhằm đảm bảo quá trình
hoạt động được diễn ra thường xuyên và liên tục.
1.7.Các cơ sở quản lý và sử dụng vốn ngắn hạn
Với thành phần cơ bản là hàng tồn kho, các khoản phải thu và tiền mặt
nên việc quản lý và sử dụng vốn ngắn hạn chính là quản lý và sử dụng hàng tồn
kho, các khoản phải thu và tiền mặt, do dó ta sẽ đi nghiên cứu từng bộ phận cấu
thành này.
1.7.1.Quản lý vốn bằng tiền
Trong mọi doanh nghiệp luôn tồn tại một lượng vốn bằng tiền nhất định,
và nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Sở dĩ tiền có vai trò
quan trọng là vì nó tồn tại trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho 3 hoạt động
của doanh nghiệp đó là: hoạt động, mua sắm, thanh toán, hoạt động dự phòng và
hoạt động đầu tư.
Hoạt động mua sắm thanh toán là một việc sử dụng tiền để mua sắm hàng
hoá, vật liệu và thanh toán các khoản chi phí cần thiết đảm bảo cho doanh
nghiệp hoạt động liên tục, lương tiền phục vụ cho hoạt động này là việc sử dụng
tiền đê mua sắm hàng hoá, vật liệu và thanh toán các chi phí cần thiết đảm bảo
cho doanh nghiệp hoạt động liên tục. Lượng tiền phục vụ cho hoạt động này của
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 13
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
doanh nghiệp là lượng tiền chiếm phần lớn và các vai trò chỉ đảo đối với hoạt
động của doanh nghiệp.
Hoạt động dự phòng là việc dự trữ tiền nhằm mục đích thanh toán ác
khoản có tính chất bất thường mà doanh nghiệp không lường trước được. Tuy
vậy, trong thực tế các doanh nghiệp ít chú ý đến lượng tiền dành cho hoạt động
này.
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng tiền để đầu tư nhằm mục đích sinh lời,

thông thường việc tính lũy tiền cho đầu tư ở các doanh nghiệp là rất ít và điều
này tùy thuộc vào cá tính của nhà đầu tư.
Để việc quản lý sử dụng tiền có hiệu quả các doanh nghiệp cần phải dự
toán chính xác nhu cầu vốn bằng tiền. Việc dự toán vốn bừng tiền chủ yếu dựa
vào nhu cầu của ba hoạt động trên của doanh nghiệp. ngoài ra cần có nhắc đến
sự cân bằng trong cơ cấu tiền cho hợp lý giữa các hoạt động, cân nhắc đến sự
cần thiết và tiền của cá hoạt động, có vậy thì việc quản lý tiền của doanh nghiệp
mới tránh được lãng phí và có hiệu quả.
1.7.2.Quản lý và sử dụng hàng tồn kho
Vì giá trị hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị TSLĐ, mặc
khác hàng tồn kho có mặt hầu hết trong các công đoạn mua, sản xuất và bán,
bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được diễn ra
liên tục và có hiệu quả nên việc quản lý hàng tồn kho và đưa ra quyết định đầu
tư hàng tồn kho là một công việc rất quan trọng của doanh nghiệp.
Tuy vậy, việc dự trữ hàng tồn kho luôn phải tốn kém chi phí liên quan
đến việc dự trữ hàng tồn kho đó là chi phí đặt hàng và chi phí lưu giữ hàng. Chi
phí đặt hàng ngắn hạn những chi phí cố định cho mỗi lần mua hàng chi phí này
bao gồm: chi phí giấy tờ, chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch và một số chi phí
khác. Còn chi phí lưu giữ hàng tồn kho nghĩa ngắn hạn những chi phí tăng giảm
phụ thuộc vào lượng hàng tồn kho nhiều hay ít với việc dự trữ hàng tồn kho luôn
ẩn chứa 2 loại chi phí trên và mục đích của việc lưu giữ hàng tồn kho là cân
bằng hai loại chi phí: chi phí lưu giữ và chi phí đặt hàng để làm sao cho tổng chi
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 14
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
phí tồn kho là thấp nhất, do đó ta cần phải tìm ra mô hình quản lý hàng tồn kho
hiệu quả.
1.7.3.Quản lý các khoản phải thu
Trong khâu tiêu thụ của doanh nghiệp, vì yếu tố cạnh tranh cũng như tăng
doanh số bán các doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức

tín dụng, nên các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn ngắn
hạn
Việc quản lý các khoản phải thu nhằm xác định thời hạn tín dụng đối với
khách hàng một cách hiệu quả nhất trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá khả năng tài
chính của khách hàng. Tiêu chuẩn tín dụng đưa ra luôn chứa động 2 mặt: rủi ro
và tính sinh lời, rủi ro là việc khách hàng không thể trả được tiền và tính sinh lời
đó là sự gia tăng được doanh số bán, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận, từ
điều kiện tín dụng đó.
Từ các nguyên nhân trên, ta có thể thấy được vai trò to lớn đối với việc
quản lý các khoản phải thu mà cụ thể là việc xây dựng và đưa ra chính sách
hiệu quả phù hợp với từng khách hàng. Công việc chủ yếu trong việc hình thành
Chính sách tín dụng là việc phân tích đánh giá vị thế tín dụng của khách hàng,
việc phân tích đánh giá tín dụng được tiến hành dựa trên một số đặc tính của
khách hàng như sau:
Tư cách tín dụng:
Là tư cách riêng hay thái độ tự nguyện đối với các nghĩa vụ trả nợ và
được đánh giá trên cơ sở dữ liệu về những lần mua chịu trước đó.
Năng lực trả nợ:
Là khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ và được đánh giá trên cơ sở
khả năng thanh toán hiện tại cũng như việc thanh toán các món nợ trong
tương lai.
Vốn:
Là sự đo lường về sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng được đánh
giá bằng việc phân tích tình hình tài chính của khách hàng
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 15
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Thế chấp:
Là bất cứ tài sản nào của khách hàng có thể sử dụng để đảm bảo cho các
khoản nợ.

Điều kiện kinh tế:
Là điều kiện đề cập đến xu thế phát triển của ngành kinh doanh hoặc tiềm
năng của ngành kinh tế
Việc phân tích vị thế tín dụng khách hàng nhằm đưa ra các tiêu chuẩn tín
dụng sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp giảm thấp rủi ro tiền việc thu tiền cũng như
tăng được doanh số bán. Do vậy doanh số bán của doanh nghiệp có thể bị tác
động khi tiêu chuẩn tín dụng thay đổi. Cụ thể khi các tiêu chuẩn tín dụng tăng
lên ở mức cao hơn dẫn đến doanh số bán sẽ giảm và ngược lại khi tiêu chuẩn tín
dụng được hạ thấp thường sẽ thu hút được nhiều khách hàng có tiềm lực tài
chính yếu. Cho nên khi quyết định thay đổi tiêu chuẩn tín dụng phải dựa trên cơ
sở phân tích chi phí và lợi nhuận trước và sau khi thay đổi các tiêu chuẩn tín
dụng. Nếu việc thay đổi đem lại lợi nhuận cao hơn thì doanh nghiệp nên thay
đổi, bằng không thì nên giữ nguyên. Ngoài việc thiết lập Chính sách tín dụng
việc quản lý khopản ơ thu còn xem xét đến việc thường xuyên đôn đốc và áp
dụng các biện pháp cần thiết để nhăm thu hồi nợ. Đồng thời cần phải quan tâm
đến việc mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu trong và ngoài
doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi và định kỳ phải đói chiếu, tổng hợp, phân
tích tình hình công nợ phải thu. Đặc biệt là các khoản nợ quá hạn và các khoản ợ
phải đòi.
1.7.4.Quản lý và sử dụng khoản phải trả
Khoản phải trả hay mua chịu là một vấn đề quan trọng trong quản lý và sử
dụng vốn ngắn hạn, bởi vì đây là một khoản tài trợ cần thiết rất mềm dẻo phát
sinh liên tục tiền quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. các khoản tài trợ này
càng quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ tìm kiếm nguồn tài trợ ở các
nơi khác nên dựa nhiều vào mau chịu.
Việc mua chịu có thể nói là con dao hai lưỡi đối với doanh nghiệp. Nó vừa
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 16
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
là người tín dụng để tài trợ việc mua hàng, vừa là phương thức cung ứng nhu

cầu để tài trợ việc bán chịu cho khách hàng, do vậy doanh nghiệp doanh nghiệp
tận dụng việc mua chịu như một nguồn tài trợ, đồng thời phải giảm tối thiểu vốn
của mình nằm tiền các khoản phải thu bằng các biện pháp bằng cách quản lý
hiệu quả.
Thông thường có 3 hình thức mua hàng thường xảy ra tiền quá trình kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp đó là:
Mua hàng trả tiền ngay
Mua hàng trả tiền khi giao hàng
Mua hàng trả tiền sau khi giao hàng
Tiền quản lý và sử dụng tối ưu khoản phải trả, ta chỉ chú trọng đến việc
mua hàng trả tiền sau vì tiền hình thức này cũng nảy sinh hai vấn đề là : trả tiền
đúng hạn không có sự giảm giá và trả tiền trước thời hạn có sự giảm giá. Điều
quan trọng của mỗi doanh nghiệp là nghiên cứu kỹ điều kiện giảm giá khi trả
tiền cân nhắc kỹ lưởng của lợi ích việc được hưởng giảm giá và chi phí cho việc
trả tiền trước thời hạn.
Việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả là công việc quan trọng và bị
ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, chẳng hạn doanh nghiệp có khả năng tài chính
mạnh, có uy tín thì công việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả dể dàng và
thuận lợi, còn ngược lại rất khó khăn. Nhưng nói chung yếu tố quen biết, làm ăn
lâu dài giữa các doanh nghiệp với nhau được ổn định thì thuận lợi cho các doanh
nghiệp tiền việc quản lý va sử dụng các khoản phải trả.
1.8.Các chỉ tiêu phân tích quản trị vốn ngắn hạn tại công ty TNHH Hùng
Hưng được sử dụng trong bài.
1.8.1.Đánh giá khái quát khả năng thanh toán về vốn ngắn hạn của công ty
Tình hình hay tình trạng tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ nét qua
khả năng thanh toán. Một doanh nghiệp nếu có tình trạng tài chính tốt, lành
mạnh, chứng tỏ hoạt động tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả, doanh nghiệp
không những có đủ mà còn có thừa khả năng thanh toán.Và ngược lại, nếu
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 17
Báo cáo thực tâp

GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
doanh nghiệp ở trong tình trạng xấu, chứng tỏ hoạt động kinh doanh kém hiệu
quả, doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ, uy tín của
doanh nghiệp khác.
Để đánh giá khả năng thanh toán em đã đánh giá những chỉ tiêu:
Bao gồm các chỉ tiêu đánh giá khả năng của doanh nghiệp, đó là:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
1.8.2.Đánh giá khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận
mà doanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên
một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất. Mức lợi nhuận mà doanh nghiệp
thu được tính trên một dơn vị càng cao, dẫn đến hiệu quả kinh doanh càng cao
và ngược lại. Vì thế, có thể nói, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là biểu hiện
cao nhất và tập chung nhất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh
giá khái quát khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, các nhà phân tích có thể sẽ sử
dụng những chỉ tiêu khác nhau như
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu =
Sức sinh lợi của doanh thu thuần =
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 18
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
Sức sinh lời kinh tế của tài sản =
1.8.3.Phân tích, đánh giá cơ cấu tài sản, nguồn vốn
Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số
= *100%
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn
= *100%

1.8.4.Chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản
Vòng quay Tổng TS =
Vòng quay TS ngắn hạn =
Vòng quay TS hàng tồn kho =
Vòng quay KPT =
1.8.5.Chỉ số hiệu quả đầu tư và huy động vốn
DOL =
DFL =
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 19
Báo cáo thực tâp
GVHD: Th.S Lê Đức Thiện
DTL =
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN NGẮN HẠN CÔNG TY TNHH HÙNG HƯNG
2.1.Giới thiệu tổng quát về tình hình sử dụng vốn tại công ty TNHH Hùng
Hưng.
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Hùng Hưng
Tên công ty: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Hùng Hưng
Địa chỉ: Số 11/251 Trần Phú – Phường Ba Đình – Thành phố Thanh Hoá
Điện thoại:0373.855415
Công ty được thành lập ngày 27 tháng 02 năm 2003
Công ty Hùng Hưng là doanh nghiệp được sở kế hoạch đầu tư Thanh Hoá
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2602000478. Với tổng số vốn góp
theo giấy phép kinh doanh là 2.250.000.000 đồng.
SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 20

×