Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ NHƢ QUỲNH
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CHUẨN HÓA
THUẬT NGỮ VẬT LÍ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2012
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ NHƢ QUỲNH
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CHUẨN HÓA
THUẬT NGỮ VẬT LÍ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 602 201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong bản luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kì công trình nào.
Tác giả
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đối với GS .TS Nguyễn Đức Tồn đã
nhiệt tình, tận tâm và chu đáo hƣớng dẫn em thực hiện luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học,
Khoa Ngữ văn, Trƣờng Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Viện Ngôn ngữ học
cùng các thầy cô giáo đã giúp đỡ em hoàn thành khóa học.
Tác giả luận văn cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và
những ngƣời thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Mục đích nghiên cƣ́ u 2
4. Đối tƣợng, nhiệ m vụ nghiên cƣ́ u củ a đề tà i 2
5. Tƣ liệ u và phƣơng phá p nghiên cƣ́ u 3
6. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn 4
7. Cấu trúc của luận văn 4
Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1.Khái niệm thuật ngữ và những vấn đề liên quan 5
1.1.1.Khái niệm thuật ngữ 5
1.1.2. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp 10
1.1.3. Đặc điểm của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ 13
1.1.4. Định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ 18
1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 19
1.3. Cách tiếp cận của đề tài 23
1.3.1. Cách tiếp cận tĩnh đối với thuật ngữ đã có sẵn 24
1.3.2. Cách tiếp cận động đối với thuật ngữ 24
1.4. Tiểu kết 24
Chƣơng 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ VẬT LÍTIẾNG VIỆT 26
2.1. Nhận diện thuật ngữ vật lí trong tiếng Việt 26
2.2. Các phƣơng thức tạo thành thuật ngữ vật lí tiếng Việt 28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
2.2.1. Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thƣờng 30
2.2.2. Sao phỏng 34
2.2.3.Vay mƣợn thuật ngữ vật lí nƣớc ngoài 35
2.3. Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ vật lí tiếng Việt 40
2.3.1. Yếu tố cấu tạo thuật ngữ - ngữ tố 40
2.3.2. Các kiểu cấu tạo thuật ngữ vật lí tiếng Việt 42
2.4. Tiểu kết 56
Chƣơng 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH VÀ VẤN ĐỀ CHUẨN HÓA CỦA THUẬT NGỮ
VẬT LÍ TIẾNG VIỆT 61
3.1. Các lớp thuật ngữ tiếng Việt đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực chuyên
môn hẹp của ngành khoa học vật lí 61
3.1.1. Thuật ngữ trong lĩnh vực cơ học 62
3.1.2. Thuật ngữ trong lĩnh vực điện học 62
3.1.3. Thuật ngữ trong lĩnh vực nhiệt học 62
3.1.4. Thuật ngữ trong lĩnh vực quang học 63
3.1.5. Thuật ngữ trong lĩnh vực từ trƣờng 63
3.1.6. Thuật ngữ trong lĩnh vực thiên văn học 63
3.1.7. Thuật ngữ trong lĩnh vực hạt nhân 64
3.1.8. Thuật ngữ trong lĩnh vực nguyên tử 64
3.2. Các mô hình định danh của thuật ngữ vật lí tiếng Việt 65
3.2.1. Lí thuyết định danh 65
3.2.2. Đặc điểm định danh của thuật ngữ vật lí tiếng Việt xét theo kiểu ngữ nghĩa 70
3.2.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ vật lí tiếng Việt xét theo cách thức
biểu thị 71
3.3. Vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ vật lí tiếng Việt 85
3.4. Tiểu kết 89
Kết luận 92
Tài liệu tham khảo 97
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ một ngữ tố 43
Bảng 2.2: Nguồn gốc của các thuật ngữ một ngữ tố 44
Bảng 2.3: Đặc điểm từ loại của các thuật ngữ hai ngữ tố 46
Bảng 2.4: Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ hai ngữ tố 47
Bảng 2.5: Nguồn gốc của các thuật ngữ hai ngữ tố 48
Bảng 2.6: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ ba ngữ tố 50
Bảng 2.7: Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ ba ngữ tố 50
Bảng 2.8: Nguồn gốc của các thuật ngữ ba ngữ tố 51
Bảng 2.9: Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ bốn ngữ tố 55
Bảng 2.10: Nguồn gốc của các thuật ngữ bốn ngữ tố 56
Bảng 3.11: Thuật ngữ đặc thù thuộc các lĩnh vực chuyên ngành của khoa học
vật lí 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thuật ngữ khoa học là bộ phận từ ngữ quan trọng của các ngôn ngữ đã
phát triển trên thế giới. Sau hơn nửa thế kỉ hình thành và phát triển, thuật ngữ
tiếng Việt nói chung đã có những bƣớc tiến dài kể cả về mặt số lƣợng và chất
lƣợng. Bằng chất liệu của mình, tiếng Việt đã chứng minh hùng hồn khả năng
sáng tạo ra những thuật ngữ mới. Chính sự phát triển nhanh nhƣ vậy đã bộc lộ
không khỏi có những bất cập trong công tác xây dựng và phát triển thuật ngữ
ở nƣớc ta.
Trên thực tế đã có nhiều cuốn từ điển thuật ngữ chuyên ngành đƣợc xuất
bản và một số công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ nghiên cứu về các
hệ thuật ngữ khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu vấn đề xây dựng và chuẩn hoá
thuật ngữ vật lí học chƣa đƣợc đặt ra trong công trình nghiên cứu nào.
Vì vậy, luận văn này chọn đề tài tìm hiểu vấn đề xây dựng và chuẩn hóa
thuật hóa vật lí trong tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Những thập niên cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI là thời kì
phát triển mạnh mẽ nhất của thuật ngữ tiếng Việt. Trong bối cảnh đất nƣớc ta
chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã
hội chủ nghĩa, trong xu thế mở cửa hội nhập với không gian kinh tế khu vực
và toàn cầu, trong điều kiện sự phát triển nhƣ vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ trên thế giới, tiếng Việt đã không ngừng phát triển
theo hƣớng hiện đại hóa, mở rộng chức năng, mở rộng phạm vi hoạt động.
Trong lịch sử hiện đại nƣớc ta đã từng có bốn lần tiếng Việt đứng trƣớc
yêu cầu phát triển nhanh chóng để phù hợp với sự chuyển mình của xã hội
Việt Nam. Lần thứ nhất là đầu thế kỉ XX, tiếng Việt đã có sự phát triển rất
mạnh về từ vựng và cả một phần cú pháp. Đặc biệt trong thời kì này thuật ngữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
khoa học bắt đầu đƣợc hình thành, chữ Quốc ngữ đƣợc truyền bá rộng rãi.
Lần thứ hai là sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 tiếng Việt giữ vai trò
ngôn ngữ quốc gia. Lần thứ ba là những năm 60 của thế kỉ XX, tiếng Việt bắt
đầu bƣớc vào quá trình hiện đại hóa. Trong hoàn cảnh đó, hệ thống thuật ngữ
đã có những phát triển vƣợt bậc. Ở thời kì này, Uỷ ban Khoa học kĩ thuật Nhà
nƣớc đã tổ chức biên soạn một loạt các từ điển đối dịch thuật ngữ cho hầu hết
các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội. Lần thứ tƣ
là sau năm 1975, đất nƣớc thống nhất, tiếng Việt đã không ngừng phát triển
theo hƣớng hiện đại hóa, mở rộng chức năng, mở rộng phạm vi hoạt động.
Trong giai đoạn này các từ điển thuật ngữ phát triển rầm rộ. Theo thống kê
của Chu Bích Thu, tính từ năm 1994 đến tháng 6 năm 1999 trong số 188 cuốn
từ điển song ngữ đã đƣợc biên soạn thì có tới 55 cuốn là từ điển đối dịch thuật
ngữ… Qua bốn lần thay đổi, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bƣớc phát triển
nhanh chóng cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Để tiếng Việt tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, chúng ta cần định ra
chiến lƣợc phát triển hợp lí, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xác định các
nguyên tắc xây dựng và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ, đáp ứng kịp tốc độ
phát triển của khoa học kĩ thuật nƣớc nhà và thế giới.
3. Mục đích nghiên cƣ́ u
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ đặc trƣng về phƣơng diệ n
cấ u tạ o, đặc điểm định danh củ a hệ thố ng thuậ t ngƣ̃ v ật lí trong tiếng Việt.
Trên cơ sở đó luận văn đƣa ra sự đánh giá và đề xuất phƣơng hƣớng , biệ n
pháp cụ thể để xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ vật lí tiế ng Việ t.
4. Đối tƣng, nhiệ m vụ nghiên cƣ́ u củ a đề tà i
4.1.Đi tưng nghiên cu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hệ thuật ngữ vật lí tiếng Việ t.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
4.2 Nhiệ m vụ nghiên cu
Để đạ t đƣợ c mụ c đích trên, đề tài giải quyết các nhiệ m vụ :
a. Hệ thố ng hó a cá c quan điể m lý luậ n về thuậ t ngƣ̃ khoa họ c trên thế
giớ i và ở Việ t Nam, qua đó xá c lậ p cơ sở lí luậ n cho việ c nghiên cƣ́ u;
b. Phân tích đặ c điể m cấ u tạ o, xác định cá c loạ i mô hình kế t hợ p cá c ngữ
tố để tạo thành thuật ngữ vật lí trong tiế ng Việ t.
c. Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ v ật lí trong tiế ng Việ t về
các mặt: Nhƣ̃ ng con đƣờ ng hì nh thà nh, kiể u ngƣ̃ nghĩa và đặ c điể m cá ch thƣ́ c
biể u thị củ a thuậ t ngƣ̃ .
d. Trên cơ sở kế t quả nghiên cƣ́ u , luậ n văn đề xuất phƣơng hƣớng , biệ n
pháp cụ thể để xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ vật lí tiế ng Việ t .
5. Tƣ liệ u và phƣơng phá p nghiên cƣ́ u
5.1. Tư liệ u nghiên cu
Tƣ liệ u nghiên cƣ́ u đƣợc thu thập từ các cuốn: Từ điể n Vật lí Anh – Việt,
tác giả Chu Kim Tiến, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2009 gồ m 35000 thuật ngữ
mỗi phần; Từ điển Vật lí phổ thông của tác giả Dƣơng Trọng Bái - Vũ Thanh
Khiết, Nhà xuất bản Giáo dục - 1999 gồm 1200 thuật ngữ.
Ngoài ra, các thuật ngữ còn đƣợ c thu thập tƣ̀ những giá o trì nh vật lí họ c
bằ ng tiế ng Việ t.
5.2. Phương phá p nghiên cứ u
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
5.2.1. Phương pháp miêu tả
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng khi miêu tả trạng thái hệ thống thuật ngữ
vật lí tiếng Việt hiện nay.
5.2.2.Phương phá p phân tí ch theo thà nh tố trự c tiế p
Chúng tôi sẽ áp dụng phƣơng pháp này để phân tích và miêu tả cấu trúc
của thuật ngữ vật lí học tiế ng Việ t theo các ngữ tố.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
5.2.3. Phương phá p thố ng kê
Phƣơng phá p nà y đƣ ợc sử dụng để định lƣợ ng thu ật ngữ theo cá c ti ểu
loại cấu tạo và kiểu định danh…, trên cơ sở đó luận văn rút ra các nhận xét
mang tính định chất về từng khía cạnh đƣợc nghiên cứu của các thuật ngữ vật
lí tiếng Việt
6. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn
Có thể coi đây là sự thể nghiệm ban đầu nghiên cứu về vấn đề xây dựng
và chuẩn hóa thuật ngữ vật lí trong tiếng Việt. Luận văn đƣa ra đƣợc danh
sách các ngữ tố khác nhau để trả lời cho các câu hỏi: Hệ thuật ngữ vật lí trong
tiếng Việt đƣợc tạo thành từ những ngữ tố nào? Xác định danh sách các thuật
ngữ đã đạt đƣợc các tiêu chuẩn cần thiết và danh sách các thuật ngữ cần đƣợc
chuẩn hóa.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu thu đƣợc, chúng tôi cố gắng rút ra
những kinh nghiệm bổ ích, đề xuất các phƣơng hƣớng, biện pháp cụ thể trong
việc xây dựng và chuẩn hóa các thuật ngữ vật lí trong tiếng Việt.
Kế t quả nghiên cƣ́ u sẽ gó p phầ n và o việ c xây dƣ̣ ng lí thuyế t chung về
thuậ t ngƣ̃ họ c và lí luậ n về chuẩ n hó a ngôn ngƣ̃ nói chung , chuẩn hoá thuật
ngữ nói riêng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học nƣớc nhà.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chƣơng:
Chương 1: Một số cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ vật lí tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm định danh và vấn đề chuẩn hoá của thuật ngữ vật lí
tiếng Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.KHÁI NIỆM THUẬT NGỮ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN
1.1.1.Khái niệm thuật ngữ
Lịch sử thuật ngữ đƣợc hình thành và phát triển không ngừng cùng với
sự phát triển của các ngành khoa học và thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà
ngôn ngữ học trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển của
các ngành khoa học, khối lƣợng các thuật ngữ ngày càng tăng lên. Tuy nhiên,
hiểu thế nào là thuật ngữ lại là vấn đề không đơn giản. Hiện nay, trong ngôn
ngữ học có một số lƣợng vô cùng lớn các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ,
thậm chí “về điều này có thể viết cả một cuốn sách”.
Một số nhà ngôn ngữ học xác định thuật ngữ trong mối quan hệ giữa nó
với khái niệm. Chẳng hạn, các soạn giả của “Đại Bách khoa toàn thƣ Xô
Viết” đã định nghĩa: “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách
chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới
hạn của phạm vi chuyên ngành. Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt
hóa, hạn định hóa về sự vật, hiện tƣợng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc
trƣng cho phạm vi chuyên môn đó” [dẫn theo 19, 20]. Nguyễn Thị Bích Hà
cho rằng: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác
định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định.
Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của
ngôn ngữ [18, 26]. Đỗ Hữu Châu lại có cách hiểu rộng hơn. Theo ông, thuật
ngữ không chỉ biểu thị một khái niệm khoa học, mà còn chỉ tên một sự vật,
một hiện tƣợng khoa học nhất định. Thuật ngữ là những từ chuyên môn đƣợc
sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
kĩ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của ngành vật lí, hoá học, toán học, thƣơng
mại, ngoại giao v.v. Sau này, năm 1981, ông nhấn mạnh hơn nữa chức năng
của thuật ngữ: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng
dùng để biểu thị những sự vật, hiện tƣợng, hoạt động, đặc điểm trong những
ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự hiên hay xã
hội” [5, 221- 222]. Còn Hoàng Văn Hành đã chỉ rõ tính xác định của khái
niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những khái niệm của một ngành
khoa học nhất định: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái
niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất
định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn
thuật ngữ của ngôn ngữ” [21]. Từ những ý kiến trên của các nhà ngôn ngữ
học về thuật ngữ, có thể rút ra rằng nghiên cứu thuật ngữ là việc nghiên cứu
các khái niệm và các hệ thống khái niệm, đồng thời miêu tả các trƣờng khái
niệm và thiết lập sự định danh chính xác để đảm bảo cho việc giao tiếp hiệu
quả trong lĩnh vực chuyên môn.
Một số nhà ngôn ngữ học khác lại định nghĩa thuật ngữ nghiêng về chức
năng của thuật ngữ. Gerd đã định nghĩa thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ là một
đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và đƣợc khu biệt một
cách nghiêm ngặt bởi đặc trƣng tính hệ thống, tính đơn nghĩa” [12, 3]. Còn
theo Vinokur: “Thuật ngữ - đấy không phải là những từ đặc biệt, mà chỉ là
những từ có chức năng đặc biệt, chức năng đặc biệt mà trong đó từ đóng vai
trò thuật ngữ là chức năng gọi tên” [dẫn theo 56, 2]. Moixeev cũng đồng tình
về chức năng gọi tên của thuật ngữ: “Có thể xác định chức năng ngôn ngữ của
thuật ngữ nhƣ là một chức năng gọi tên, định danh. Thuật ngữ định danh sự
vật, hiện tƣợng trong hiện thực và định danh những khái niệm về chúng” [dẫn
theo 56, 2]. Việc các nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ có chức năng gọi tên
đã gây nên một cuộc tranh luận trong giới ngôn ngữ học. Reformatxki nhận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
định rằng: “Chức năng định danh, đó là chức năng chung của tất cả các từ và
vì vậy, nó không thể đƣợc đƣa ra hàng chủ yếu khi xác định đặc điểm của
thuật ngữ” [43, 133]. Levkovxkaya còn đƣa ra ý kiến bổ sung thêm rằng:
“Trong số những từ trọn nghĩa, thuật ngữ là những từ đặc biệt về mặt ý nghĩa
và cách dùng, vì rằng bên cạnh chức năng định danh (chức năng biểu thị các ý
niệm này kia) mà những từ khác trong ngôn ngữ đảm nhiệm, thì chúng còn
nổi bật lên chức năng định nghĩa của chúng nữa [dẫn theo 33, 21- 22].
Vinogradov cũng đồng tình cho rằng thuật ngữ không chỉ đảm nhận chức
năng định danh mà quan trọng là đảm nhận chức năng định nghĩa: “Từ đảm
nhiệm chức năng định danh hay chức năng định nghĩa, tức là hoặc nó là
phƣơng tiện biểu thị rõ ràng và bấy giờ thì nó là một kí hiệu giản đơn, hoặc là
một đơn vị định nghĩa theo lôgic, bấy giờ thì nó là một thuật ngữ khoa học
[64, 12-13]. Định nghĩa thuật ngữ do Viện sĩ Vinogradov đƣa ra đƣợc coi là
một định nghĩa rất cơ bản và tin cậy trong giới thuật ngữ học Xô Viết: “Thuật
ngữ không gọi tên khái niệm nhƣ một từ thông thƣờng mà khái niệm đƣợc
quy vào nó nhƣ thể khái niệm bị áp đặt vào thuật ngữ. Và trong các từ điển,
thuật ngữ không đƣợc giải thích mà chính là định nghĩa ” [64, 13]. Ý nghĩa
của thuật ngữ - đó là định nghĩa khái niệm, là lời định nghĩa đƣợc quy vào
cho khái niệm. Nếu nhƣ không biết đƣợc định nghĩa thì cũng sẽ không biết
đƣợc thuật ngữ và cũng không thể có mối liên hệ nào của các từ và của sự liên
tƣởng ở đây cả. Dựa vào tƣ tƣởng của các nhà ngôn ngữ, Vinogradov và
Kapatnatze đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ
không gọi tên khái niệm nhƣ từ thông thƣờng mà là khái niệm đƣợc gán cho
nó, giống nhƣ định nghĩa về nó. Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái
niệm, là cái định nghĩa đƣợc gán cho nó” [24, 136].
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực
thuật ngữ và đã đƣa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ. Nhà nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
cứu Nguyễ n Thiệ n Giá p trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt ” cũng đã
đƣa ra định nghĩa khá ngắn gọn nhƣng nêu đƣợc nhiều đặc trƣng của thuật
ngữ: “Thuậ t ngƣ̃ là bộ phậ n tƣ̀ ngƣ̃ đặ c biệ t củ a ngôn ngƣ̃ . Nó bao gồm những
tƣ̀ và cụ m tƣ̀ cố định là tên gọ i chính xá c củ a cá c khá i niệ m và cá c đố i tƣợ ng
thuộ c cá c lĩ nh vƣ̣ c c huyên môn củ a con ngƣờ i” [13, 270]. Gần đây, Nguyễn
Đức Tồn [59, 4] cũng đã định nghĩa thuật ngữ bằng cách nêu những đặc trƣng
bản chất nhất thuộc bản thể của thuật ngữ: “Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một
khái niệm hoặc một đối tƣợng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc
chuyên môn”.
Ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ học đã liên tục ra
đời trong những năm gần đây, nhƣ công trình đề tài khoa học cấp bộ do Hà
Quang Năng làm chủ nhiệm và bài viết của Nguyễn Văn Lợi năm 2010 trên
tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, bài viết về thuật ngữ của Nguyễn Đức
Tồn đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 12 năm 2010, và số 1 năm 2011. Đặc biệt,
Lý Toàn Thắng đã biên dịch một số phần cơ bản trong cuốn sách “Thuật ngữ
học đại cƣơng: những vấn đề lí thuyết” của tác giả Superanskaja . Trong bản
dịch này, có đoạn viết rằng: “Các tác giả điểm lại lịch sử vấn đề, cho thấy:
hiện nay không có một định nghĩa đƣợc thừa nhận chung về khái niệm thuật
ngữ”. Lí do có chuyện nhƣ vậy là vì thuật ngữ là đối tƣợng của nhiều ngành
khoa học nên mỗi ngành nhấn mạnh một đặc điểm”. Superanskaja điểm lại rất
nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ của giới khoa học và ngôn ngữ
học. Các tác giả đặc biệt nêu ra nhiều cách định nghĩa của giới khoa học và
ngôn ngữ học, đó là:
Cách định nghĩa “triết học- nhận thức luận”(filosofsko-gnoseologhicheskoe):
Thuật ngữ là yếu tố của bộ máy lý thuyết và quan điểm vốn miêu tả các
lĩnh vực tri thức và hoạt động chuyên môn đó, cùng với các phƣơng tiện nhận
thức khác (nhƣ máy móc, dụng cụ khoa học và các phƣơng tiện ký hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
khác),v.v…[38, 2].
Cách định nghĩa “ký hiệu học” (semiotika): Theo quan điểm của kí hiệu
học thì thuật ngữ là kí hiệu – biểu đạt, đƣợc sử dụng nhƣ yếu tố của một mô
hình kí hiệu thuộc một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định.
Các định nghĩa này cho phép đối lập thuật ngữ với các yếu tố từ vựng khác
của ngôn ngữ tự nhiên mà không phải là thuật ngữ và các yếu tố từ vựng của
ngôn ngữ nhân tạo [38, 2].
Cách định nghĩa “ngôn ngữ học”: Thực tế là phần lớn các đơn vị từ vựng
đƣợc xem là thuật ngữ,đã trở thành nhƣ thế, đƣợc thu hút vào hệ thống thuật
ngữ, là từ phạm vi từ vựng không chuyên biệt . Cho nên một đơn vị từ vựng
có thể tồn tại trong ngôn ngữ vừa nhƣ một thuật ngữ vừa nhƣ một từ -phi
thuật ngữ (netermin), thí dụ: nos ( mũi ngƣời) – nos (mũi tàu),passage (hành
lang bán hàng) - passage (nét lƣớt, trong âm nhạc), nisha (cái hốc trên tƣờng)
– nisha (lỗ hổng, về môi trƣờng)…[38, 2].
Đáng chú ý hơn cả là cách xác định theo “thuật ngữ học” đã định nghĩa
thuật ngữ nhƣ sau: “Thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ nhất định
(dùng) cho những mục đích chuyên biệt, biểu đạt khái niệm chung - cụ thể
hay trừu tƣợng, của lý thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định của
các tri thức hay hoạt động”. Trong định nghĩa vừa nêu có nhấn mạnh mấy
điểm quan trọng nhất nhƣ sau:
1) Thuật ngữ có tất cả các đặc trƣng ngữ nghĩa và hình thức của từ và
cụm từ của ngôn ngữ tự nhiên;
2) Thuật ngữ nhƣ ta thấy hiện diện chính là trong vốn từ vựng của các
ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt, chứ không phải trong vốn từ
vựng của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó nói chung;
3) Trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích
chuyên biệt, thuật ngữ phục vụ với tƣ cách là phƣơng tiện biểu đạt các khái
niệm chuyên môn chung – là kết quả của sự tri nhận trong những phạm vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
chuyên môn của các tri thức và (hay) hoạt động;
4) Thuật ngữ là yếu tố của các hệ thống thuật ngữ phản ánh (mô hình
hóa) các lí thuyết mà nhờ các lí thuyết này miêu tả đƣợc các lĩnh vực chuyên
môn – tức là các đối tƣợng của các ngôn ngữ dùng cho những mục đích
chuyên biệt [13, 2].
Tóm lại, cách xác định thuật ngữ học về thuật ngữ xuất phát từ chỗ
rằng: Thuật ngữ là một đối tƣợng đặc biệt, khác với từ và cụm từ nhƣ là đối
tƣợng của ngôn ngữ học. Và mặc dù trong đa số trƣờng hợp thuật ngữ học
xem xét cũng các đơn vị từ vựng đó nhƣ là ngôn ngữ học, nhƣng ở thuật ngữ
có những đặc trƣng khác. Đối với thuật ngữ có những yêu cầu chuẩn mực
khác với những yêu cầu mà ngôn ngữ học đòi hỏi ở các đơn vị từ vựng khác.
Và chỉ trong ý nghĩa đó có thể nói rằng: thuật ngữ - đó là những từ đặc biệt.
1.1.2. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp
Khi bàn về mối quan hệ giữa thuật ngữ và danh pháp, các nhà ngôn ngữ
học đều cho rằng giữa thuật ngữ và danh pháp có sự khác biệt rõ ràng.
Nhà khoa học đầu tiên có sáng kiến phân biệt thuật ngữ với danh pháp là
Vinokur: Theo ông, danh pháp “chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn
trừu tƣợng và ƣớc lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phƣơng
tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tƣợng không
quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tƣ duy lí luận hoạt động với những sự
vật này” [dẫn theo 59, 3]. Palamarchuk đã đi theo quan điểm này và chỉ rõ sự
khác biệt giữa thuật ngữ và danh pháp: “Hệ thuật ngữ trƣớc hết gắn với một
hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn
hiệu hóa” cho đối tƣợng của khoa học mà thôi. Vì vậy, danh pháp có thể coi
là thể liên tục của các chữ cái (Vitamin A, Vitamin B…) hay là thể liên tục
của các con số (MÁC 5, MÁC 8), và của mọi thứ dấu hiệu có tính cách ƣớc
lệ, tùy tiện khác, danh pháp không có tƣơng quan giữa các khái niệm của
khoa học, vì vậy, danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
[41, 89- 90].
Theo Superanskaja: “So với hệ thuật ngữ, danh pháp là một phạm trù
mới hơn rất nhiều. Danh pháp của một ngành bất kì trong lịch sử tự nhiên
cũng đều là một tập hợp các tên gọi các loại (hay tiểu loại) của ngành đó. Khi
chúng đã trở nên một tập hợp tƣơng đối lớn, chúng phải đƣợc tổ chức một
cách thật đặc biệt ” [dẫn theo 38, 157]. Superanskaja cũng có quan niệm rằng:
“Tính khái niệm là đặc trƣng quan trọng nhất của thuật ngữ. Tính khái niệm ở
danh pháp không thật rõ rệt nhƣ ở thuật ngữ. Cái quan trọng đối với danh
pháp là tính vật chất, hay tính đối tƣợng của nó, tùy thuộc vào các đặc trƣng
đối tƣợng đã gọi tên” [ dẫn theo 38, 163].
Ở Việt Nam sự phân biệt giữa thuật ngữ và danh pháp cũng là vấn đề
đƣợc các nhà ngôn ngữ học quan tâm.
Nguyễn Nhƣ Ý cho rằng: “Danh pháp là những quy tắc đặt tên trong
một nền khoa học hay tổng thể những tên gọi biểu đạt những sự vật đơn nhất,
không gắn với hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể mà chỉ dán nhãn
cho đối tƣợng của nó” [67, 235].
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Hệ thuật ngữ trƣớc hết gắn liền với hệ
thống các khái niệm của một khoa học nhất định. Còn danh pháp là toàn bộ
những tên gọi đƣợc dùng trong một ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn
trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong
khoa học đó mà thôi” [13, 270]. Ông cũng quan niệm rằng: “Về mặt chức
năng, danh pháp giống với các tên riêng. Về bản chất, danh pháp là tên riêng
của các đối tƣợng. Nếu nhƣ ở thuật ngữ, ngƣời ta nhấn mạnh chức năng định
nghĩa của nó thì đối với danh pháp, chức năng gọi tên mới là quan trọng.
Thuật ngữ có thể đƣợc cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự
vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tƣơng ứng với ý nghĩa của các từ
tạo nên chúng. Còn danh pháp có thể đƣợc quan niệm là một chuỗi kế tiếp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
nhau của các chữ cái (Vitamin A, Vitamin B v.v ) là một chuỗi các con số
(MA 65, TU 104, MA 68) hay bất kì cách gọi tên võ đoán nào” [13, 270].
Nguyễn Thiện Giáp cũng đƣa ra một sơ đồ về vị trí thuật ngữ trong mối liên
quan với từ và danh pháp nhƣ sau:
Tín hiệu - danh pháp - thuật ngữ - từ [13, 271].
Nhìn sơ đồ, ta có thể thấy rằng thuật ngữ gần với từ hơn và chúng là
những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các
đối tƣợng thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau; còn danh pháp gần với
tín hiệu, là toàn bộ những tên gọi đƣợc dùng trong một ngành chuyên môn
nào đó chứ không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học đó.
Từ sự phân tích trên, ta có thể thấy sự khác biệt giữa thuật ngữ và danh
pháp. Tuy nhiên giữa thuật ngữ và danh pháp có tác động qua lại với nhau và
có thể chuyển hóa cho nhau. Superanskaja quan niệm rằng: “Trong ngôn ngữ,
thuật ngữ và danh pháp có các số phận khác nhau. Chúng đƣợc vay mƣợn
theo các cách khác nhau và đƣợc dịch theo các phƣơng thức khác nhau, đƣợc
thay đổi theo các cách khác nhau vừa do quá trình chuyển hóa tự nhiên, vừa
trong quá trình chuyển hóa đặc biệt. Thật ra thì, giữa thuật ngữ và danh pháp
không có ranh giới tuyệt đối, hai lớp từ vựng này tác động qua lại lẫn nhau,
danh pháp, trong những trƣờng hợp nhất định có thể chuyển thành thuật ngữ
khi mà nó rơi vào trong hệ thống tự vựng khác. Trong quá trình phát triển của
nhiều ngành khoa học, các danh pháp riêng lẻ có thể trở thành thuật ngữ và từ
chỉ đơn thuần là các đơn vị định danh, chúng đã trở thành các yếu tố của giao
tiếp lôgic, tức thành thuật ngữ khoa học. Do khả năng gọi tên ở danh pháp lớn
hơn ở thuật ngữ, nên hiển nhiên là các danh pháp có thể đi vào từ vựng một
cách dễ dàng, nhƣ là một tập hợp các từ sử dụng đƣợc một cách tiềm tàng”
[dẫn theo 38, 161].
Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng, hệ thuậ t ngƣ̃ trƣớ c hế t gắ n liề n vớ i hệ thố ng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
các khái niệm của một khoa học nhất định . Còn danh pháp là toàn bộ những
tên gọ i đƣợ c dù ng trong mộ t ngà nh chuyên môn nà o đó , nó không gắn trực
tiế p vớ i khá i niệ m củ a khoa họ c nà y mà chỉ gọ i tên cá c sƣ̣ vậ t , đối tƣợng
trong khoa họ c đó mà thôi .
Chẳng hạn, trong vật lí học các đơn vị nhƣ: bánh
đà, âm thoa, điện tử, từ trường…là thuật ngữ, còn các đơn vị nhƣ: máy biến
thế 250 KVA, đường dây 35 KV, Trạm biến thế 10 KV, Ôm ( đơn vị điện trở),
Ampe (đơn vị đo cƣờng độ dòng điện)… là các danh pháp. Tuy vậy, giữa thuật
ngữ và danh pháp có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hóa cho nhau.
1.1.3. Đặc điểm của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ
Các nhà ngôn ngữ học ở nƣớc ngoài cũng nhƣ ở Việt Nam có nhiều quan
điểm và ý kiến tranh luận về các đặc điểm của thuật ngữ. Ở nƣớc ngoài, ý kiến
về các tiêu chuẩn của thuật ngữ cũng rất khác nhau. Chẳng hạn, dựa theo các
công trình của nhà thuật ngữ học nổi tiếng Đ.S Lotte và Uỷ ban Khoa học Kĩ
thuật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô trƣớc đây, S.I. Korsunov và G.
Sumburuva đã nêu ra những yêu cầu sau: 1) Trong một ngành không đƣợc có
thuật ngữ đa nghĩa; 2) Không đƣợc có từ đồng nghĩa; 3) Thuật ngữ phải phản ánh
những đặc trƣng cần và đủ của khái niệm; 4) Tính hệ thống [dẫn theo 59, 6].
Xuphanuvông cho rằng “Thuật ngữ phải mang tính khoa học, nghĩa là… phải
chính xác… có hệ thống… ngắn gọn… có tính dân tộc và đại chúng là phải cố
gắng khai thác trong vốn từ ngữ cổ truyền… và biến cải, xây dựng lại các
thuật ngữ khoa học nhằm làm cho nó dễ hiểu, dễ nhớ [dẫn theo 19, 26].
Nhƣ vậy, các nhà thuật ngữ học nƣớc ngoài nhấn mạnh đến tính chính
xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống và tính đơn nghĩa của thuật ngữ và họ coi
đấy là những đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ.
Ở trong nƣớc, Hoàng Xuân Hãn là ngƣời đầu tiên đƣa ra một cách khá
đầy đủ và có hệ thống các yêu cầu của một thuật ngữ: Tính chính xác, tính dễ
nhớ, tính hệ thống, tính ngắn gọn, tính dân tộc [20, 11]. Năm 1964, Ủy ban
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Khoa học nhà nƣớc đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ tại
Hà Nội. Trong hội nghị này, bản báo cáo chính đã đƣa ra các đặc điểm của
thuật ngữ và các đặc điểm này đã đƣợc nhiều đại biểu tán thành, đó là: Thuật
ngữ phải có: 1. Tính khoa học, cụ thể là phải chính xác, có hệ thống, ngắn
gọn; 2. Tính dân tộc, nghĩa là có màu sắc, ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với đặc
điểm của tiếng Việt; 3. Tính đại chúng, nghĩa là quần chúng dễ dung [dẫn
theo 59, 6]. Ngoài tính chính xác, tính hệ thống, Nguyễn Thiện Giáp [13, 45]
còn chỉ ra thêm một đặc điểm cơ bản nữa của thuật ngữ là tính quốc tế.
Các nhà khoa học nƣớc ngoài và trong nƣớc đã nêu rất nhiều đặc điểm
của thuật ngữ, nhƣ thuật ngữ phải có tính chính xác, tính hệ thống, tính khoa
học, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính đơn nghĩa.
Sau đây chúng tôi đi vào trình bày cụ thể hơn nội dung yêu cầu đối với
thuật ngữ. Đây chính là cơ sở để chúng ta xem xét, đánh giá việc xây dựng
các thuật ngữ vật lí tiếng Việt sau này.
a. Thuật ngữ phải chính xác
Tính chính xác là đặc điểm quan trọng nhất mà thuật ngữ cần phải có.
Thuật ngữ phải biểu đạt đúng khái niệm khoa học mà không gây nhầm lẫn.
Một thuật ngữ lí tƣởng là thuật ngữ phản ánh đƣợc đặc trƣng cơ bản, nội dung
bản chất của khái niệm, tuy nhiên không thể đòi hỏi thuật ngữ phản ánh đầy
đủ mọi phƣơng diện, mọi khía cạnh của khái niệm.
Để có những thuật ngữ chính xác, cần cố gắng sao cho trong nội bộ một
ngành khoa học chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngƣợc lại mỗi thuật
ngữ chỉ đƣợc dùng để biểu hiện một khái niệm, có nghĩa là cần tránh hiện
tƣợng đồng nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta không thể tuyệt đối hóa nguyên tắc
này. Có thể có trƣờng hợp do sự phát triển của khoa học mà một thuật ngữ cũ
vẫn còn song song tồn tại với thuật ngữ mới một thời gian trƣớc khi bị loại
bỏ, v.v. Đồng thời thuật ngữ nên có tính một nghĩa. Hiện tƣợng một nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
cũng nhƣ việc tránh đồng nghĩa nghĩa là yêu cầu đối với các thuật ngữ cùng
thuộc một ngành khoa học, còn giữa các ngành khoa học khác nhau mà đòi
hỏi các thuật ngữ phải nhƣ vậy thì e không hoàn toàn thực tế. Nguyễn Đức
Tồn còn gợi ý rằng “khi giữa các ngành khoa học khác nhau mà có những
khái niệm về cơ bản giống nhau thì nên thống nhất dùng chung một thuật ngữ.
Chẳng hạn, thuật ngữ function trong ngôn ngữ học thƣờng dùng là chức năng,
trong sinh vật học thƣờng dùng là chức năng, trong sinh vật học cũng nên
dùng thuật ngữ ấy mà không nên đặt ra thêm thuật ngữ chức phận dễ gây hiểu
lầm là chức vụ con ngƣời” [
59
,
8
].
b. Thuật ngữ phải có tính hệ thng
Tính hệ thống là một tiêu chuẩn cần thiết đối với thuật ngữ. Vì vậy, nói
đến thuật ngữ là phải nói đến tính hệ thống.
Các nhà ngôn ngữ học có cách hiểu khác nhau về tính hệ thống của thuật
ngữ khoa học. Chẳng hạn, Budagov (1965) cho rằng “thuật ngữ có tính hệ
thống hai mặt: một mặt, nó là yếu tố của hệ thống thuật ngữ, mặt khác, nó lại
là yếu tố của hệ thống ngôn ngữ” [dẫn theo 59, 8]. Còn Reformatxki quan
niệm rằng: “Những mối liên hệ giữa các khái niệm của hệ thống khái niệm
tƣơng ứng phải đƣợc phản ánh trong hệ thống thuật ngữ, tức là thuật ngữ của
một ngành kiến thức phải có tính hệ thống” [dẫn theo 59, 8]. D.S Lotte cũng
có quan điểm: “Nói đến tính chất hệ thống của thuật ngữ khoa học, chúng ta
cần phải chú ý đến cả hai mặt: hệ thống thuật ngữ và hệ thống kí hiệu … Nói
đến việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ khoa học của một ngành nào đó thì
không thể không nói đến việc xây dựng một sự tƣơng ứng giữa hệ thống khái
niệm và hệ thống kí hiệu” [33, 27].
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cho rằng tính hệ thống là một đặc
trƣng về nội dung, một số khác lại cho đây là tiêu chuẩn về hình thức.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng khi nói đến tính hệ thống
của thuật ngữ cần phải chú ý đến cả hai mặt là hệ thống khái niệm (tức là xét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
về nội dung) và hệ thống kí hiệu (xét về hình thức).
Theo Lƣu Vân Lăng, khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, trƣớc khi đặt hệ
thống kí hiệu (về hình thức) cần phải xác định cho đƣợc hệ thống khái niệm
(về nội dung) của nó. Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ,
mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm
[32, 427].
Tính hệ thống của các biểu thị trong ngôn ngữ thƣờng đƣợc thể hiện rõ
ràng qua mối liên hệ liên tƣởng và mối quan hệ ngữ đoạn của các tín hiệu
trong ngôn ngữ. Thí dụ: loạt thuật ngữ ngôn ngữ học đƣợc cấu tạo mở đầu
bằng yếu tố âm: âm vị, âm tố, âm tiết, âm đoạn, âm hưởng, âm điệu, âm vực,
v.v…
Nhƣ vậy, mỗi thuật ngữ không thể đứng biệt lập mà bao giờ cũng chiếm
một vị trí trong hệ thống khái niệm và là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ
nhất định. Tính hệ thống của thuật ngữ giúp chúng ta có thể hiểu đƣợc thuật
ngữ một cách chính xác, rõ ràng, do đó phải đặt thuật ngữ trong một hệ thống
khái niệm hay một hệ thống thuật ngữ nhất định.
c. Thuật ngữ phải có tính quc tế
Theo Nguyễn Đức Tồn [59, 9], tính quốc tế là đặc điểm thuộc về bản
thể của thuật ngữ, bởi vì vốn từ vựng riêng của từng ngôn ngữ mang sắc thái
của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, nhƣng khoa học lại thuộc về tài sản tri thức
chung của toàn nhân loại.
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt
biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những ngƣời nói các tiếng
khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và
bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ” [13, 274].
Thông thƣờng, khi nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, ngƣời ta chỉ chú ý tới
biểu hiện hình thức cấu tạo của nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
hoặc tƣơng tự nhau, cùng xuất phát một gốc chung.
Thí dụ: - Điện thoại, điện tín, điện tử v.v.
Telephon (Pháp), Telephon (Đức), Telephon (Anh),
Theo Nguyễn Đức Tồn [59, 9], tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ
đƣợc thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm, mà còn thể hiện ở mặt hình
thái bên trong của nó (nghĩa là cách chọn đặc trƣng của sự vật, khái niệm…
làm cơ sở định danh khi đặt thuật ngữ). Nói cụ thể hơn, tính quốc tế về nội
dung của thuật ngữ đƣợc thể hiện ở chỗ: cùng một khái niệm hay đối tƣợng
trong một lĩnh vực khoa học, các ngôn ngữ chọn một đặc trƣng nào đó để làm
cơ sở định danh và đƣa vào thành phần cấu tạo của thuật ngữ làm thành hình
thái bên trong của thuật ngữ. Ví dụ: Cách đặt tên bằng từ thông thƣờng bộ
phận của mắt trong các ngôn ngữ sau đây là có tính quốc tế về nội dung: con
người- đồng tử - pupil (tiếng Anh) - pupille (tiếng Pháp). Trong ba ngôn ngữ
Việt - Anh - Pháp, tên gọi bộ phận này của mắt là “con ngƣơi”, đều đƣợc đặt
dựa vào hình ảnh con ngƣời in trong đó để gọi tên cho nó. Hiện tƣợng sao
phỏng thuật ngữ của các ngôn ngữ biểu hiện rõ nhất tính quốc tế của các thuật
ngữ qua việc chọn đặc trƣng định danh giống nhau [59, 9].
Thí dụ: Tiếng Anh: Liberalization of trade
Tiếng Pháp: Libéraepsation du commerce
Tiếng Việt: Tự do hóa mậu dịch
Tóm lại, tính quốc tế của thuật ngữ đƣợc thể hiện ở hai mặt: hình thức
và nội dung. Mặt hình thức thƣờng đƣợc chú ý hơn cả, vì thông thƣờng, khi
nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, ngƣời ta thƣờng chú ý đến mặt biểu hiện
hình thức bên ngoài của nó. Mặt nội dung tuy khó nhìn thấy hơn nhƣng đó
mới là biểu hiện phổ biến, căn bản, vì chúng biểu thị các khái niệm khoa học
là tri thức chung của cả nhân loại.
d. Thuật ngữ phải có tính ngắn gọn
Nhiều tác giả cho rằng thuật ngữ phải có tính ngắn gọn [32, 131], [33,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
59]. Thuật ngữ cũng nhƣ các từ thông thƣờng nói chung mang tính chất định
danh. Một thuật ngữ dài dòng thì thƣờng có tính chất miêu tả hay định nghĩa
đối tƣợng. Tính chất dài dòng này làm cho hệ thống kí hiệu của thuật ngữ bị
hủy hoại, bị phá vỡ. Vì vậy, muốn cho kết cấu của thuật ngữ đƣợc chặt chẽ,
đảm bảo tính chất định danh của thuật ngữ thì về mặt hình thức đòi hỏi thuật
ngữ phải ngắn gọn, cô đọng.
1.1.4. Định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ
Theo các tài liệu lí luận ngôn ngữ học, thuật ngữ “định danh” đƣợc hiểu
theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi dựa theo cách hiểu
của G.V. Consanski: “Định danh là gắn cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái
niệm – biểu niệm phản ánh những đặc trƣng nhất định của một biểu vật- các thuộc
tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tƣợng và quá trình thuộc phạm vi vật chất
và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của
giao tiếp ngôn ngữ” [dẫn theo 57, 161]. Nói một cách ngắn gọn, định danh cá ch
đặt tên gọi cho một sự vật, hiệ n tƣợ ng, quá trình, tính chất, v.v…
Khi định danh một sự vật, hiện tƣợng, tính chất hay quá trình v.v… con
ngƣời với tƣ cách là chủ thể định danh tiến hành quan sát, tìm hiểu, vạch ra
một bộ phận đặc trƣng nào đó có trong nó. Nhƣng để định danh, ngƣời ta chỉ
chọn đặc trƣng nào là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tƣợng, tính chất hay quá
trình khác v.v. và đặc trƣng này đã có tên gọi trong ngôn ngữ.
Quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bƣớc:
Quy loại khái niệm và chọn đặc trƣng khu biệt. Nếu một trong hai bƣớc này
có “biến thể” thì vật hay quá trình đƣợc định danh …sẽ mang tên gọi khác
nhau. Ngƣời ta sử dụng quy tắc cấu tạo từ trong mỗi ngôn ngữ để thao tác với
các đơn vị ngôn ngữ biểu thị các đặc trƣng định danh đã đƣợc lựa chọn để tạo
ra các từ hay thuật ngữ. Ví dụ: Dòng điện (loại), xoay chiều (đặc trƣng định