BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN ANH NGỌC
NGHIÊN CỨU LƯỢNG PHÂN BÓN NPK THÍCH HỢP,
KẾT HỢP VỚI PHÂN HỮU CƠ VI SINH NEB-26
TRÊN CÂY CHÈ TẠI PHÚ HỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN ANH NGỌC
NGHIÊN CỨU LƯỢNG PHÂN BÓN NPK THÍCH HỢP,
KẾT HỢP VỚI PHÂN HỮU CƠ VI SINH NEB-26
TRÊN CÂY CHÈ TẠI PHÚ HỘ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60 62 01 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ÍCH TÂN
HÀ NỘI – 2013
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
ii
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
trong luận văn là trung thực chưa ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Trần Anh Ngọc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
iii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn trực tiếp là: TS.
Nguyễn Ích Tân ñã hết sức chỉ bảo, hướng dẫn ñể tác giả có thể hoàn thành ñược
bản luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè -Viện
Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã tạo ñiều kiện và giúp ñỡ
về ñịa ñiểm triển khai các thí nghiệm cho tác giả.
Công trình ñược hoàn thành có sự ñộng viên của gia ñình, bạn bè ñộng
nghiệp. Tác giả xin chân thành cảm ơn những sự giúp ñỡ quý báu ñó.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Anh Ngọc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
iv
MỤC LỤC
Lời cam ñoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ðẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sử dụng phân bón cho chè 3
1.1.1 Một số ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây chè 3
1.1.2 Thực trạng ñất trồng chè trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.3 Vai trò của phân khoáng ñối với cây chè 10
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phân bón
cho cây chè 13
1.2.1 Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho chè trên thế giới 13
1.2.2 Những kết quả nghiên cứu về ñất và phân bón cho chè ở Việt Nam 17
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Vật liệu nghiên cứu 27
2.1.1 Giống chè 27
2.1.2 Loại phân bón 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.2 Nghiên cứu ñược ảnh hưởng của lượng phân bón ñạm, lân, kali thích
hợp, kết hợp với phân hữu cơ vi sinh NEB-26 ñến sinh trưởng, năng
suất, chất lượng, sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế của giống chè PH8. 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 30
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
v
2.4 Phạm vi nghiên cứu của ñề tài 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp tới sinh
trưởng, năng suất, chất lượng, sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế trên giống
chè PH8. 33
3.1.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, ñến sinh trưởng cây chè 33
3.1.2 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất 37
3.1.3 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến chất lượng của giống chè 39
3.1.4 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến sâu bệnh hại trên chè vụ xuân 44
3.1.5 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân NPK theo các lượng
bón phân 45
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay thế một phần phân ñạm vô cơ bằng
phân hữu cơ vi sinh NEB-26 ñến sinh trưởng năng suất, chất lượng,
sâu bệnh hại, hiệu quả kinh tế trên giống chè PH8. 47
3.2.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi
sinh NEB 26 ñến sinh trưởng cây chè 47
3.2.2 Ảnh hưởng của lượng bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 51
3.2.3 Ảnh hưởng của lượng bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến chất lượng chè 52
3.2.4 Ảnh hưởng của lượng bón NPK kết hợp với phân hữu cơ vi sinh
NEB26 ñến sâu bệnh hại trên chè vụ xuân 56
3.2.5 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân N P K kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh NEB26 56
KẾT LUẬN 59
1 Kết luận 59
2 ðề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 64
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CT : Công Thức
ðC : ðối chứng
K
2
O : Kali
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTCB : Kiến thiết cơ bản
LAI : Chỉ số diện tích lá
MN : Miền núi
N : ðạm
NLN : Nông lâm nghiệp
NXB : Nhà xuất bản
P
2
O
5
: Lân
SP : Sản phẩm
TB : Trung Bình
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK ñến sinh trưởng thân cành chè 34
3.2 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
dài búp(cm) 35
3.3 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến ñợt sinh trưởng của giống chè 36
3.4 Ảnh hưởng của bón phân NPK ñến diện tích lá và chỉ số diện tích lá 37
3.5 Ảnh hưởng của bón phân NPK ñến năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất 38
3.6 Ảnh hưởng của phân bón ñến thành phần cơ giới búp chè 40
3.7 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến phẩm cấp nguyên liệu 41
3.8 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến hàm lượng một số chất hóa học
trong búp chè 42
3.9 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK ñến chất lượng chè xanh 43
3.10 Ảnh hưởng của lượng bón NPK ñến một số sâu hại chính trên giống
chè vụ xuân 44
3.11 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phối hợp N P K theo các
lượng phân bón 46
3.12 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi
sinh NEB 26 ñến sinh trưởng thân cành chè 48
3.13 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB26 ñến ñộng thái tăng trưởng chiều dài búp (cm) 49
3.14 Ảnh hưởng của lượng bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến ñợt sinh trưởng của giống chè 50
3.15 Ảnh hưởng của bón phân NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến diện tích lá và chỉ số diện tích lá 51
3.16 Ảnh hưởng của bón phân NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 51
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
viii
3.17 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi
sinh NEB 26 ñến thành phần cơ giới búp chè 53
3.18 Ảnh hưởng của lượng bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến phẩm cấp nguyên liệu 53
3.19 Ảnh hưởng của lượng bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến hàm lượng một số chất hóa học trong búp chè 54
3.20 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi
sinh NEB 26 ñến chất lượng chè xanh 55
3.21 Ảnh hưởng của lượng bón NPK kết hợp với phân hữu cơ vi sinh
NEB26 ñến một số sâu hại chính trên giống chè vụ xuân 56
3.22 Hiệu quả kinh tế của lượng phân NPK kết hợp với phân hữu cơ vi sinh
NEB26 58
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
ix
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình Trang
2.1 Diện tích thí nghiệm 1- giống chè PH8 28
2.2 Diện tích thí nghiệm 2- giống chè PH8 29
3.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK ñến ñộng thái tăng trưởng chiều
dài búp 35
3.2 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK ñến năng suất của giống chè
PH8 39
3.3 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân vi
sinh NEB 26 ñến ñộng thái tăng trưởng chiều dài búp của giống chè 49
3.4 Ảnh hưởng của bón phân NPK thích hợp, kết hợp với phân vi sinh
NEB 26 ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 52
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
1
MỞ ðẦU
1. Tính cấp thiết của ñề tài
Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nhiệm
kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, ñem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn ñịnh. ðất ñai
và ñiều kiện khí hậu ở Việt Nam rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển.
ðây là cây có hiệu quả ñể khai thác các vùng ñất ñai rộng lớn của miền núi và trung
du Việt Nam.
Sự phát triển của cây chè phụ thuộc nhiều yếu tố: Khí hậu, ñất ñai, ñiều kiện
chăm sóc ñặc biệt là lượng nước và phân bón. Khác với cây công nghiệp khác, chè
là cây lấy búp, thu hoạch hàng năm, kéo dài suốt 9 – 10 tháng trong năm. Chè ñược
ñốn phớt hàng năm, ñịnh kỳ lại ñốn ñau. Vì thế lượng dinh dưỡng lấy ñi từ nương
chè là rất lớn.
Có nhiều kết quả ñiều tra cho thấy lượng sử dụng phân N,P, K mất cân ñối,
chỉ chú ý nhiều tới lượng ñạm, ít chú ý ñến lượng kali, ñặc biệt là lân hầu như
chưa ñược bón trong các hộ sản xuất. ðất trồng chè lại thường là ñất xấu, chua,
dốc, nguy cơ xói mòn rửa trôi mạnh cho nên ñể bù lại lượng phân bón cao và việc
bổ xung cần tiến hành nhiều lần trong năm. Có như vậy nương chè mới giữ ñược
tuổi thọ lâu bền.
ðể phát triển các biện pháp canh tác chè bền vững, một loạt các vấn ñề về
kỹ thuật ñã và ñang ñược quan tâm, ñó là vấn ñề áp dụng kỹ thuật gieo trồng, kết
hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến. Trong các biện pháp kỹ thuật thì
vấn ñề quản lý dinh dưỡng cây trồng là một khâu quan trọng trong việc xây dựng hệ
thống nông nghiệp bền vững. Việc sử dụng phân bón là một trong những biện pháp
làm tăng sản lượng và chất lượng búp chè. Tác dụng của phân bón không những
tăng cao ñược sản lượng nguyên liệu chè mà còn nâng cao ñược chất lượng của nó.
Nếu bón phân không cân ñối như bón ñơn ñộc nitơ mà thiếu kali và phospho sẽ gây
ảnh hưởng xấu ñến chất lượng chè. Ngoài các loại phân ña lượng, thì phân vi lượng
cũng có ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng búp chè, chủ yếu ảnh hưởng ñến
hoạt tính của men.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
2
Xuất phát từ những vấn ñề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân hữu cơ vi
sinh NEB-26 trên cây chè tại Phú Hộ.”
2. Mục ñích của ñề tài nghiên cứu
- Xác ñịnh ñược lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân hữu cơ vi
sinh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống chè PH8
- Các tài liệu góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình bón phân cân
ñối cho giống chè.
3. Yêu cầu của ñề tài
- Xác ñịnh ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh NEB-26 ñến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống chè.
- Xác ñịnh ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh NEB-26 ñến năng suất của giống chè.
- Xác ñịnh ảnh hưởng của lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh NEB-26 ñến chất lượng của giống chè.
- Xác ñịnh lượng phân bón thích hợp trên giống chè PH8
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
- Kết quả nghiên cứu lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân hữu
cơ vi sinh NEP-26 cho giống chè PH8 góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy
trình bón phân cân ñối cho giống chè.
- Các kết quả nghiên cứu lượng phân bón NPK thích hợp, kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh NEP-26 ñã ñược áp dụng hiệu quả trên giống chè PH8 tại Phú Hộ.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sử dụng phân bón cho chè
Nghiên cứu các nhu cầu của cây trồng, từ ñó tìm các biện pháp kỹ thuật
nhằm tác ñộng nhằm ñáp ứng nhu cầu ñó ñể tạo ra nhiều nông sản có năng suất,
chất lượng và hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ cơ bản của khoa học Nông nghiệp.
Một trong những nhu cầu cơ bản của cây trồng là các chất dinh dưỡng và ñể ñáp
ứng nhu cầu ñó chủ yếu thông qua việc bón phân.
Nhiệm vụ của việc bón phân là cung cấp cho cây phần dinh dưỡng ít nhất
cũng ñủ bù lượng mà cây lấy ñi theo sản phẩm thu hoạch. Muốn xây dựng chế ñộ
bón phân hợp lý cần nghiên cứu ñặc tính của cây ñồng thời phân tích khả năng dinh
dưỡng trong ñất.
1.1.1. Một số ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây chè
Chè là loại cây thân gỗ, nếu ñể sinh trưởng tự nhiên có thể cao 5- 20m.
ðường kính tán rộng. Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè, nếu cây
chè có bộ khung tán khỏe, các cành phân bố hợp lý sẽ là tiền ñề cho năng suất cao.
Bộ rễ cây chè ăn sâu 1- 2m, ưa ñất chua, chịu hạn tốt. Rễ nhánh và rễ hút phân bố ở
tầng ñất sâu từ 0- 40cm, rễ tập trung giữa hai hàng chè, nếu ñể sinh trưởng tự nhiên
tán rễ so với tán cây lớn hơn 2- 2,5 lần. Trong kĩ thuật trồng chè theo hàng rào ña số
rễ tập trung dưới hình chiếu của tán cây.
Khác với cây trồng khác, ở cây chè, búp và lá vừa là cơ quan quang hợp vừa
là sản phẩm cho thu hoạch. ðể nâng cao năng suất cây chè cần phải kết hợp ñồng
thời việc thu hái búp với việc nuôi chừa bộ lá. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến bộ
lá chừa trong ñó có ñất ñai và dinh dưỡng.
Toàn bộ ñời sống của cây chè ñược chia ra thành 2 chu kỳ phát triển: chu kỳ
phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ.
- Chu kỳ phát triển lớn: bao gồm suốt cả ñời sống cây chè, kể từ khi tế bào
trứng thụ tinh, bắt ñầu phân chia cho ñến khi cây chè già cỗi và chết. Cây chè thuộc
nhóm cây nhiều ñời quả, hàng năm ñều ra hoa kết quả trong suốt mấy chục năm
sinh trưởng phát triển. Chu kỳ phát triển lớn của cây chè ñược các nhà khoa học
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
4
Trung Quốc chia làm 5 giai ñoạn: giai ñoạn phôi thai (giai ñoạn hạt giống), giai
ñoạn cây con, giai ñoạn cây non, giai ñoạn chè lớn, và giai ñoạn già cỗi.
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm): bao gồm các giai ñoạn
sinh trưởng phát triển trong một năm như hạt nảy mầm, chồi mọc lá, ra hoa kết
quả và giai ñoạn tạm ngừng sinh trưởng, cây không ra các lá non mới, hoa quả
phát triển chậm, song bộ rễ lại phát sinh ra các rễ mới. Từ hạt mọc lên, ñến khi chết
vì già cỗi, cây chè trải qua những diễn biến về sinh trưởng phát triển nói trên, lặp ñi
lặp lại trong nhiều năm. Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
song song cùng tồn tại.
Hai chu kỳ trên có quan hệ mật thiết với nhau, các chu kỳ phát triển nhỏ
ñược thực hiện trên cơ sở của chu kỳ phát triển lớn. Các hiện tượng hàng năm như
hạt nảy mầm, ñâm chồi, nảy lộc, mọc lá, ra hoa kết quả ñều tiến hành trên cơ sở của
chu kỳ lớn tích luỹ hàng năm gọi là tuổi sinh vật (tuổi chung) của cây chè.
Những ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng
hợp giữa ñặc ñiểm của giống (tính di truyền) với những ñiều kiện ngoại cảnh. Như
vậy, nghiên cứu ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của từng
giống sẽ giúp chúng ta sẽ ñánh giá ñược khả năng thích ứng của giống trong vùng
sinh thái. Từ ñó làm cơ sở xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp, tạo
ñiều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển cho năng suất cao, chất lượng tốt.
1.1.2. Thực trạng ñất trồng chè trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1. Sự phân bố của cây chè
Cây chè có khả năng thích nghi rất rộng. Qua ñiều tra ñiều kiện khí hậu, ñịa
hình, ñất ñai của một số nước trồng chè trên thế giới, chúng ta thấy cây chè, phát
triển tốt trong ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới và á nhiệt ñới với nhiệt ñộ ñiều hòa quanh
năm như Srilanka- vùng gần xích ñạo (6
0
vĩ Bắc). Chè sinh trưởng không những ở
ñịa hình bằng phẳng như Gruzia mà còn sinh trưởng ñược trên ñịa hình ñồi dốc cao
như Srilanka, Việt Nam, Indonesia
Chè sinh trưởng tốt cả ở vùng có ñộ cao 20- 25m ñến vùng có ñộ cao hàng
nghìn mét so với mặt biển. Với ñặc tính chung là ở vùng thấp cây chè sinh trưởng
tốt, cho sản lượng búp cao nhưng chất lượng chè chế biến không ngon, còn ở vùng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
5
cao chè sinh trưởng chậm, năng suất búp không cao nhưng chất lượng chè chế biến
lại ngon (Astika) [28].
Ở các nước nhiệt ñới với những vùng có ñộ cao từ 20- 25m trở lên so với mặt
biển, có lượng mưa từ 1500mm trở lên, phân bố ñều trong năm, nắng nhiều là những
nơi có ñiều kiện tối ưu ñể cây chè cho năng suất cao, phẩm chất tốt [12], [32].
Nhiều tài liệu ở các nước trồng chè cho thấy cây chè ñòi hỏi ñất chua, ñất có
trị số pH
KCL
từ 4 ñến 6 là thích hợp cho cây chè phát triển và tối ưu là pH
KCL
khoảng 4,5 ñến 5,6 [12].
Cây chè sống và sinh trưởng ñược trên nhiều loại ñất như ñất Ultisols,
Oxisols, Inceptisols
Về ñời sống cây chè, cây chè thường sống từ 30 ñến 50 năm, thậm trí ñến
hàng trăm năm, người ta ñã tìm thấy những cây chè cổ thụ có thể sống 300- 400
năm ở vùng Suối Giàng, thuộc tỉnh Yên Bái của Việt Nam hay hàng ngàn năm như
ở cao nguyên Vân Nam, Trung Quốc. ðời sống cây chè có lẽ phụ thuộc nhiều vào
ñiều kiện dinh dưỡng trong ñất và ñiều kiện thâm canh của từng nơi. Qua ñiều tra
khảo sát có nhiều nương chè không bón phân hàng năm vẫn cho thu hoạch. Nhưng
cũng có nương chè chỉ sau khi trồng 2- 3 năm ñã phải hủy bỏ, do tập quán “quảng
canh” cây chè chết dần không cho thu hoạch.
Tóm lại cây chè phân bố rộng trên nhiều loại ñất, trên nhiều loại ñịa hình, ở các
vùng có khí hậu thời tiết khác nhau. Tuổi thọ cây chè kéo dài nhiều năm hay ít năm tùy
thuộc vào ñiều kiện dinh dưỡng trong ñất và ñiều kiện thâm canh của mỗi nơi.
1.1.2.2. Thực trạng ñất trồng chè trên thế giới
Cây chè có lịch sử lâu ñời và phân bố rất rộng trên rất nhiều các loại ñất khác
nhau nhưng chủ yếu trên các loại ñất chua Acrisols; Feralsols; Andosols và một
phần trên ñất Alisols, Podzoluvisols.
Nhiều nhà khoa học ñều thống nhất chè chỉ phù hợp với ñất chua, nhưng về
khoảng pH thích hợp thì có nhiều ý kiến khác nhau. ðến nay pH ñối với chè ñược
thống nhất giới hạn dưới là 4, giới hạn trên là 6 và thích hợp trong khoảng 4,5-5,5.
Phản ứng chua cho ñất trồng chi phối rất nhiều ñến chế ñộ dinh dưỡng cả hữu cơ và
vô cơ cung cấp cho cây. ðiều này thể hiện rõ nhất ở sự tích luỹ ñạm amon thay thế
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
6
tích luỹ ñạm nitrat và hiện tượng giữ chặt lân, dễ tiêu trong ñất ở dạng phốt phát sắt,
phốt phát nhôm.
Trong môi trường chua, sinh trưởng của cây chè bị hạn chế nhiều bởi sụ khó
hòa tan của nhôm, nó bị tích tụ và tạo thành kết von, sự ngưng tụ của lignin qua ñó
làm tăng hàm lượng H
2
O
2
. Khi hàm lượng nhôm tự do thấp sẽ ảnh hưởng rõ ñến
thành phần sinh hóa và chất lượng chè, ñặc biệt là chỉ tiêu tannin [45].
Theo Chen Zong Mao (1994) [29] thì trong suốt quá trình trồng, quản lý
chăm sóc chè, việc quản lý ñất là quan trọng nhất trong tất cả các việc cần làm, tác
giả cho biết ñất chè Trung Quốc có hàm lượng dinh dưỡng thấp, chủ yếu do ñất bị
xói mòn, rửa trôi.
Qua kết quả phân tích 200 mẫu ở các loại ñất trồng chè khác nhau ở Trung
Quốc ñã cho thấy hàm lượng kali diễn biến từ 15,3- 1031 mg/1kg ñất. Hàm lượng
này giảm dần từ Bắc xuống Nam. 63% ñất chè Trung Quốc có hàm lượng Mg <
40mg/1 kg ñất. 69% ñất chè có hàm lượng S<80mg/1 kg ñất. Với ñất trồng chè ở
Trung Quốc hiệu lực sử dụng N chỉ từ 30- 50%. Cũng như một số nước vùng nhiệt
ñới và á nhiệt ñới, việc bón lân cho chè là kém hiệu quả vì tới 90% lượng lân bón
vào ñất bị giữ chặt, do trong ñất chứa phần lớn lượng Fe
2+
và Al
3+
, khi bón lân vào
ñất tạo thành dạng phốt phát sắt nhôm khó tiêu, cây chè khó sử dụng.
Theo Astika và các cộng tác viên [28], Wibowo 1994 [43], hầu hết chè ở
Indonesia ñược trồng ở ñộ cao 800- 1300m so với mặt biển, trên loại ñất có nguồn
gốc của núi lửa hoạt ñộng từ thế kỷ thứ IV. ðất chè ở Indonesia bao gồm ñất
Oxisols, Alfisols và Ultisols.
ðất trồng chè ở Indonesia ñược phân làm 5 loại chính với những chỉ tiêu là:
ñộ sâu tầng ñất, cấu trúc ñất, hàm lượng chất hữu cơ tổng số và hàm lượng một số
chất dinh dưỡng khác. Nhìn chung ñất trồng chè ở Indonesia có ñộ sâu tầng ñất,
hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng một số chất dinh dưỡng khác từ trung bình ñến
cao. ðây là ñiều kiện tốt cho cây chè sinh trưởng (ðarma wijaya 1985) [30].
Theo Anon 1993 [27] ñất trồng chè ở Srilanka gồm 3 nhóm chính: Ultisols,
Oxisols và Inceptisols, trong ñó nhóm ñất Ultisols chiếm diện tích nhiều nhất. Nhìn
chung ñất chè ở Srilanka thuộc diện nghèo dinh dưỡng. Hàm lượng chất hữu cơ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
7
tổng số trên dưới 1%, pH
KCl
: 5,0- 5,5 thành phần cơ giới ñất 50% cát, 20% limon,
30% sét. ðịa hình ñồi núi cao, dốc nhiều ñất thường bị xói mòn do mưa nhiều và
mưa lớn.
Theo Sharma, V.S-1994 [39] Ở Nam Ấn ðộ, ñất ñai xấu hơn vùng
ðông Bắc Ấn ðộ, ñất thường thiếu kali.
Theo Sharama- 1977 [36] ñất có hàm lượng kali dễ tiêu dưới 60 ppm là ñất
bị thiếu kali, 61- 100ppm là trung bình và trên 100 ppm là cao. Ngoài kali thì kẽm
cũng là nguyên tố ñược quan tâm, ñây là nguyên tố mà ñất không ñủ cung cấp cho
cây chè.
ðất trồng chè của một số nước trên thế giới có diện tích chè tập trung và lớn là
rất ña dạng và phong phú. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong mỗi loại ñất của từng
miền có ñịa hình khí hậu khác nhau là rất khác nhau. Do ñó nghiên cứu chế ñộ phân
bón cho chè hoàn toàn phụ thuộc vào từng ñiều kiện ñất ñai cụ thể của mỗi nước.
1.1.2.3. Thực trạng ñất trồng chè ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây chè có thể trồng ñược ở hầu hết trên các loại ñất với ñiều
kiện là ở ñộ cao so với mặt biển từ 20m trở lên, mực nước ngầm ở sâu dưới 1m, ñất
chưa có ñộ pH
KCL
4- 6, lượng mưa trung bình từ 1200 mm/năm trở lên, ñộ ẩm
không khí khoảng 80%, ñộ dốc không quá 30
0
, tầng dày trên 50cm (Nguyễn Ngọc
Kính [12], ðỗ Ngọc Quỹ [20], Hồ Quang ðức [31])
Từ lâu ñời do ñiều kiện kinh tế, tập quán canh tác của từng nơi, cây chè ñã
ñược trồng và hình thành ở 5 vùng chính với ñiều kiện ñất ñai, khí hậu và các giống
chè khác nhau.
Vùng chè trung du
Cây chè ñược trồng chủ yếu ở một số huyện như Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn
Dương, Chiêm Hóa thuộc tỉnh Tuyên Quang, một số huyện trong tỉnh Yên Bái như:
Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình Một số huyện trong tỉnh Phú Thọ như Thanh Sơn,
Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hòa và ðoan Hùng.
ðất ñồi vùng trung du có ñộ cao so với mặt biển từ 25- 200m, chiếm 1/10
diện tích cả nước, không có ñộ dốc ñứng và lòng chảo sâu. Ranh giới giữa núi và
ñồi khó phân biệt chính xác [25]. ðất ñược hình thành trên nhiều loại ñá mẹ khác
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
8
nhau như phiến sét, phiến thạch mica, gnai dưới những thảm thực vật khác nhau,
có mức ñộ Feralit khác nhau, vì lẽ ñó mà ñất ñai vùng trung du không ñồng ñều,
hàm lượng các chất dinh dưỡng trong ñất chênh lệch nhau ñáng kể [26].
Thành phần cơ giới nặng vì ñược hình thành từ những ñá mẹ giàu sét, cấu
trúc kém, ít tơi xốp. ðất thường chua, pH
KCL
có chỗ < 4,5. Các cation Ca
++
, Mg
++
,
K
+
rất nghèo. ðất tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng chất hữu cơ thấp, nhiều
nương chè hàm lượng chất hữu cơ chỉ chung quanh 1%, ñạm tổng số thường <0,2%,
kali rất nghèo trung bình khoảng 0,15- 0,2% (Lương ðức Loan, Nguyễn Tử Siêm-
1979, Vũ Ngọc Tuyên- 1977) [13], [25]. Với ñất ñai vùng trung du như vậy nên
trong quá trình trồng và chăm sóc chè cần ñược chú ý tới biện pháp bảo vệ và bồi
dưỡng ñất.
Vùng chè thượng du (miền núi) phía Bắc
Cây chè ñược trồng ở một số huyện thuộc các tỉnh như: Sơn La, Hà Giang,
Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên
ðất ñai vùng ñồi núi các tỉnh phía Bắc chiếm 3/4 diện tích ñất tự nhiên
(Nguyễn Vy, ðỗ ðình Thuận, Vũ Ngọc Tuyên ) [26], [25] có ñộ cao so với mặt
biển từ 200m trở lên, phần lớn các loại ñất ñược hình thành tại chỗ, có hàm lượng
mùn cao, càng lên cao sự hình thành mùn càng chậm, nhưng sự phân hủy mùn yếu
hơn so với vùng thấp. Tầng ñất có ñộ dày mỏng hơn ñất vùng ñồi, do bị xói mòn
mạnh. ðất ñược phát triển trên phiến thạch, sa thạch và ñá gnai (ở vùng ðông Bắc),
còn ở vùng Tây Bắc ñất ñược hình thành từ ñá gnai, Granit, phiến thạch là chính
(Vũ Ngọc Tuyên, Phạm Gia Tu ) [25]. ðất có mầu vàng, ñỏ vàng và nâu. ða số ñất
có ñộ dày trung bình từ 0,6 ñến 1m, ñất khá tơi xốp, ñộ chua cao pH
KCL
từ 4- 4,5
thành phân cơ giới thuộc loại thịt nhẹ và trung bình, hàm lượng mùn biến ñộng
mạnh, hàm lượng lân tổng số và dễ tiêu ñều nghèo (lân tổng số phổ biến ở mức
0,03- 0,05%) theo Lương ðức Loan, Nguyễn Tử Siêm 1979 [13].
Theo tác giả Nguyễn Thi Dần [3]. ðất ferarit vàng ñỏ phát triển trên phiến
thạch Mica thích hợp cho phát triển cây chè ở miền Bắc Việt Nam, nhóm ñất này
luôn chịu ảnh hưởng của quá trình ferarit hóa, nên ñất thường chua, màu ñỏ hay
màu vàng, tích lũy nhiều sắt, nhôm, hàm lượng sét vật lý cao, quá trình trồng chè có
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
9
hiện tượng rửa trôi sét xuống tầng sâu, lân dễ tiêu nghèo do bị giữ chặt dưới dạng
phosphat sắt, nhôm.
Vùng chè khu 4 cũ
Ở vùng khu 4 cũ chè thường ñược trồng ở một số huyện như Hậu Lộc, Thiệu
Hóa, ðông Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia của tỉnh Thanh Hóa. Một số huyện như
Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Can Lộc thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
ðất ñai ở ñây phần lớn là ñất ñỏ vàng, phát triển trên các loại ñá mẹ khác nhau.
ðịa hình bị chia cắt, tầng ñất chỗ dày chỗ mỏng, thường gặp từ 60cm- 120cm. ðất
vùng trồng chè thường chua pH
KCL
từ 4- 4,5, khoáng vật chủ yếu là Kaolinit, hàm
lượng kali tổng số từ 0,2- 0,3%, hàm lượng chất hữu cơ chênh lệch nhau nhiều [25].
Vùng khu 4 cũ mùa mưa thường ñến muộn nên chè bị hạn vào cuối mùa khô.
ðất ñai thuộc diện nghèo dinh dưỡng, nên trong quá trình trồng chè phải chú ý thâm
canh ngay từ ñầu.
Vùng chè Gia Lai- Kon Tum
ðất ñai vùng Tây Nguyên rất phù hợp cho việc trồng các loại cây lương thực
nói chung, cũng như cây chè nói riêng.
Các ñồn ñiền chè, cà phê ñã ñựơc thành lập ngay từ những năm 1925 ñến
năm 1940, với quy mô 300- 400 ha.
ðất ñai vùng chè Gia Lai- Kon Tum thuộc loại ñất Ferarit nâu vàng, nâu ñỏ,
vàng ñỏ và phát triển trên ñá Bazan, ở ñộ cao 700m so với mặt biển.
ðất có tỷ lệ sét cao, trên 50% ñất có cấu trúc viên, tơi xốp, thoáng khí. Hàm
lượng lân tổng số trung bình (0,10- 0,15%) kali tổng số ở mức nghèo (0,08- 0,10%),
hàm lượng chất hữu cơ trong ñất khá cao pH
KCL
: 4,5- 5,5.
Theo Nguyễn Vy- 1977 [26], Vũ Cao Thái- 1996 [24], (dẫn theo Nguyễn
Khả Hòa 1994) [9] thì ñất Bazan giàu lân tổng số, nhưng nghèo lân dễ tiêu.
Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt ñới gió mùa ñiển hình. Mùa khô hạn trầm
trọng, mùa mưa lượng mưa rất lớn (từ 1800 trên 2000mm), nhiệt ñộ dao ñộng ngày
ñếm lớn.
Cây chè sinh trưởng trên vùng ñất Bazan rất thuận lợi, sản lượng thu bình quân
40- 50 tạ/ha. Tuy nhiên vì mùa khô thiếu nước nên trồng chè gặp nhiều khó khăn.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
10
Vùng chè cao nguyên Lâm ðồng
Tính ñến năm 2010 Lâm ðông có trên 16000 ha chè. Cây chè ñược trồng tập
trung ở các huyện: Di Linh, ðơn Dương, ðức Trọng, Bảo Lộc. Vùng chè Lâm ðồng ở
ñộ cao >800m so với mặt biển, ñây là vùng rất thuận lợi về mặt chất lượng chè.
ðất tích lũy nhiều sắt, nhôm, là một trở ngại lớn cho việc cung cấp lân cho cây
chè nói riêng và cây công nghiệp nói chung. Hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng ñạm,
lân, kali tổng số ñều ở mức khá, ñất chua, pH
KCL
biến ñộng từ 4,5- 5,5 [26].
Cũng như ñất ñai vùng Gia Lai- Kon Tum, có ñộ ẩm cây héo lớn, lượng
nước khuếch tán thấp nên mùa khô hạn hán xảy ra nghiêm trọng (Nguyễn Vy, ðỗ
ðình Thuận 1977) [26], Trần Công Tấu, Nguyễn Thị Dần 1984 [23].
Với cây chè chú ý biện pháp trồng và chăm sóc cây cẩn thận trong mùa khô,
cũng như thời gian nắng nóng kéo dài trong mùa mưa.
Ở Việt Nam cây chè ñược trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau với ñiều
kiện canh tác, ñất ñai khác nhau. Nhưng chè ñược trồng nhiều nhất vẫn là trên loại
ñất ñỏ vàng phát triển trên ñá sét và biến chất tập trung ở vùng ñồi bị phân cách.
Nhìn chung, ña phần ñất ñai của các vùng trồng chè ở nước ta là nghèo các
chất dinh dưỡng (N, P, K) kể cả tổng số và dễ tiêu, ñất chua, hàm lượng hữu cơ
thấp. ðồng thời do ñiều kiện khí hậu thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài ñã dẫn
ñến năng suất chè giảm sút. Do vậy nghiên cứu bổ sung phân bón cho chè ñặc biệt
là phân hữu cơ, tạo ñiều kiện thâm canh cho chè ngay từ khi trồng mới là ñiều cần
thiết ñể ñạt năng suất cao.
1.1.3. Vai trò của phân khoáng ñối với cây chè
Sử dụng phân khoáng cho cây trồng nói chung và cây chè nói riêng là vô
cùng phong phú.
Mục ñích của việc bón phân là nhằm bảo ñảm dinh dưỡng cân ñối cho cây
trồng và không ñể các chất dự trữ trong ñất giảm xuống dưới mức cây cần. Trên
nguyên tắc duy trì ñộ phì sẵn có trong ñất dễ dàng và ñỡ tốn kém hơn là khôi phục
ñộ phì của ñất do hậu quả của việc bón phân không hợp lý trong thời gian dài
(Andre Gros, 1967) [1].
Sử dụng phân bón cho chè là vấn ñề khá phức tạp bởi tính ña dạng và phức
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
11
tạp của ñất ñai vùng ñồi núi. Xu thế hiện nay các tác giả ñều cho rằng bón phân cho
chè kết hợp 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song tỷ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp
lý cũng rất phụ thuộc vào ñiều kiện ñất ñai, thời tiết và khí hậu của từng vùng. Nhu
cầu dinh dưỡng của cây chè ñược nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận từ các khía cạnh
khác nhau, hoặc hiệu suất thu hoạch trên ñơn vị phân bón, hoặc với một ñơn vị năng
suất lấy ñi một lượng dinh dưỡng cần thiết các yếu tố khác nhau.
Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về hiệu
lực phân bón ñã chứng minh: ñạm là yếu tố chủ yếu ñối với cây chè, có tương quan
chặt chẽ với năng suất. Tương quan giữa năng suất chè với ñạm là tuyến tính với cả
mức bón phân cao hơn 120kg N/ha. Khi lượng bón trên 80 – 90kg N/ha thì tối thiểu
phải bón làm 2 lần. Hiệu ứng của ñạm là tác ñộng tích lũy, vượt qua giới hạn của
một năm mà phải tính qua các chu kỳ thu hái.
Theo kết quả nghiên cứu ở Assam Ấn ðộ thấy rằng hiệu lực ñạm tăng ñều
ñặn theo thời gian: hiệu suất của 1kg N của lần bón thứ 1, 2, 3 và 4 là 2kg, 4kg, 6kg
và 8kg chè khô.
Ở ðông Phi hiệu suất của 1kg N là từ 4 – 8kg chè khô. Nếu như hiệu suất dưới
4 kg chè khô/kg N thì ñã xuất hiện yếu tố hạn chế P hoặc K. Tác dụng ñầy ñủ của ñạm
ñược thể hiện chỉ trên nền ñảm bảo các yếu tố khác. (Willson K. C, 1992) [44]
Trong nhiệm kỳ kinh tế vài chục năm của ñời sống cây chè với các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học Willson K. C (1992) [44] ñã xác ñịnh rằng
cây chè ở giai ñoạn ñầu sau trồng (1 – 3 tuổi) sang giai ñoạn cho thu búp (4 – 6
tuổi) lượng ñạm ñược bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không
vượt quá 100kg N/ha. Hiệu lực của lượng ñạm 100kg N/ha ñạt cao nhất ở ñộ tuổi 7
– 8 ñến 10 – 12 tuổi. Thời kỳ 10 – 12 tuổi lượng ñạm bón có hiệu lực cao nhất từ
200 – 300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của 1 kg N cao nhất không quá 200 kg
N/ha ở những nương chè có mức năng suất 5 – 8 tấn ñọt tươi/ha, còn những nương
chè có năng suất trên 10 tấn/ha ñầu tư ñến 300kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao. Tất cả
các liều lượng bón trên 300kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất
giảm. Các nương chè trên 20 tuổi hiệu lực phân ñạm tốt nhất với liều lượng không
quá 200kg N/ha.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
12
Cũng theo Willson K.C and M.N. Lifford (1992) [44] ñể thu hoạch 1 tấn chè
búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P
2
O
5
; 2,0 – 10,0kg K
2
O.
Trong ñó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy ñi bởi thu hái búp, ñược tích lũy trong 25 –
28% lượng vật chất khô trong búp thu hoạch. Bởi vậy cung cấp lượng dinh dưỡng
hằng năm cho cây chè cần quan tâm ñến sự tiêu hao cho quá trình duy trì bộ khung
tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần ñốn hằng năm, và duy trì hệ sinh vật ñất, các quá
trình rửa trôi, bốc hơi, cỏ dại
Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy:
Cây chè là loại cây thu hoạch lá nên yếu tố N là chất dinh dưỡng quan trọng
hàng ñầu, N có ảnh hưởng tốt ñến năng suất búp chè. Bón N có thể làm tăng năng
suất chè búp 40- 50%, hoặc có khi còn cao hơn nữa, nhưng khi bón N ñơn ñộc kéo
dài ñã làm giảm năng suất và ảnh hưởng xấu ñến chất lượng chè.
Lân là yếu tố rất cần thiết trong ñời sống cây chè, có tác dụng tăng cường sự
phát triển của rễ mới, còn yếu tố N chỉ kích thích sự phát triển chiều dài của rễ. Bộ
rễ chè có tương quan rất chặt chẽ với năng suất. Bón kết hợp lân và N ñã làm tăng
cường sự sinh trưởng của bộ rễ. Lân còn có tác dụng tích cực trong việc nâng cao
chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè ñen.
Vai trò của kali ñối với sự sinh trưởng và năng suất chè còn nhiều ý kiến
chưa ñược thống nhất, có tác giả cho rằng hiệu lực kali ñối với chè là tùy thuộc vào
từng loại ñất. Trên các loại ñất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp, bón kali
cho chè ñã làm tăng năng suất rõ rệt. Song cũng có những nghiên cứu bón kali trong
thời gian dài ñã không làm tăng năng suất chè ở mức ñộ có ý nghĩa. Thậm chí, có
thí nghiệm bón kết hợp N và kali kéo dài trong 21 năm cũng không thấy tăng năng
suất ñáng kể. (Wanyoko Othieno, 1987) [41].
Xu thế hiện nay các tác giả ñều cho rằng bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố
N,P, K là cần thiết, song tỉ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng rất phụ thuộc
vào ñiều kiện ñất ñai, thời tiết và khí hậu của từng vùng.
Ở Ấn ðộ, với những ñất nghèo dinh dưỡng, K dễ bị rửa trôi, người ta ñề
nghị bón N:P:K theo tỉ lệ 1:2:2 hay 1:2:3 nhưng ở Indonesia chè ñược trồng ở vùng
ñất hình thành trên sản phẩm phong hóa của núi lửa nên không cần bón kali cho chè
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
13
mà hàng năm chỉ cần bón khoảng 120- 150N và 30 P
2
O
5
/ha. Còn vùng ñất thiếu kali
có thể bón N:P:K theo tỷ lệ 2:1:2. Khác hơn nữa ở Kenya bón phân cho chè trưởng
thành với tỷ lệ thích hợp là N:P:K=5:1:1 hoặc N:P:K:S = 5:1:1:1 (Hakawata, 1993
[34]; Darma Wijaya, 1985 [29]; Othieno, 1994) [37].
Ở Việt Nam vấn ñề sử dụng phân khoáng cho chè còn gặp nhiều khó khăn,
phần lớn ñất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, ñịa hình ña dạng và phức tạp, khả năng
ñầu tư phân bón thâm canh cho chè rất hạn chế, kết quả nghiên cứu chưa nhiều.
Một số kết quả nghiên cứu mới ñề cập ñến vấn ñề bón N ñơn ñộc cho chè ñã
cho năng suất tăng rõ rệt, nhưng cho ñến năm thứ 7, thứ 8 năng suất giảm dần, tăng
tỷ lệ chè bị chết. Bón ñạm liều lượng cao (ñã có ảnh hưởng ñến chất lượng chè (ðỗ
Ngọc Quỹ, 1979 [19]; Phạm Kiến Nghiệp,1984 [14].
Bón kali kết hợp với N cho chè ñã tăng năng suất khoảng 13,3- 20,0%. Bón
lân với các dạng supe lân Lâm Thao, lân chậm tan (lân nung chảy) ñã có tác dụng
tăng năng suất chè 23- 24%. (Hồ Quang ðức, 1994 [31]; Bùi ðình Dinh, Lê Văn
Tiềm, Võ Minh Kha, 1993 [5]).
Rải rác còn một số kết quả tương tự nhưng cũng chỉ mới là sơ khởi. ðể có
thể góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè. Việc tiếp tục nghiên cứu các tỷ
lệ và liều lượng N, P, K thích hợp cho từng loại ñất trên từng vùng trồng chè ở
những ñiều kiện khí hậu khác nhau là những vấn ñề cần phải quan tâm.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phân bón cho
cây chè
1.2.1. Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho chè trên thế giới
1.2.1.1. Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè
Tất cả các cây trồng nói chung và cây chè nói riêng ñều cần thức ăn ñể sinh
trưởng và phát triển bằng việc hút nước và các chất khoáng từ ñất, CO
2
từ không khí.
Ngay từ những ngày ñầu tiên của nông nghiệp con người ñã biết sử dụng các
chất thải của gia súc, các tàn dư thực vật ñể bón cho cây trồng mà sau này người ta
gọi là phân hữu cơ. Tuy nhiên có ñược nguồn phân hữu cơ bón cho chè không phải
ở ñâu và lúc nào cũng giải quyết ñược. Vì thế thành tựu từ cuộc cách mạng xanh
trong nông nghiệp, việc sử dụng phân hoá học ñể bón cho cây từ những năm 1891 -
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
14
1900 ñược coi là bước tiến quan trọng trong nền nông nghiệp.
Bằng phương pháp phân tích hoá học người ta ñã tìm thấy trong cây có 74
nguyên tố hoá học trong ñó 4 nguyên tố C, H, O, N chiếm tới 95% và là thành phần
chủ yếu tạo nên chất hữu cơ của cây, các nguyên tố khoáng còn lại có trong thành
phần tro của cây nhưng với hàm lượng rất khác nhau ở các loại cây và các bộ phận
khác nhau trên cùng một cây. ðến nay người ta ñã xác ñịnh ñược 16 nguyên tố
không thể thiếu ñược ñối với sự sinh trưởng và phát triển của cây. Những nguyên tố
này ñược gọi là chất dinh dưỡng cơ bản. Chúng bao gồm các nguyên tố C, H, O
ñược cây nhận từ khí quyển, còn lại là các nguyên tố N, P, K, S, Ca, Mg, Fe, Zn,
Mn, Cu, B, Mo và Cl ñược cung cấp từ nguồn dự trữ trong ñất hoặc thông qua việc
sử dụng phân bón.
Phân vô cơ trong ñó 3 nguyên tố chính là N, P, K và một số nguyên tố trung
lượng như Mg, S, Ca, Fe, Al, … vẫn ñược coi là nguồn phân bón không thể thiếu
ñược với cây chè nói riêng cũng như các loại cây trồng nói chung.
Dinh dưỡng khoáng có liên quan mật thiết tới sinh trưởng phát triển của cây.
Trong ñó bộ lá chè là cơ quan mẫn cảm nhất phản chiếu mức ñộ tốt xấu của cây
trồng và ñiều kiện dinh dưỡng của môi trường sống.
- Với ñạm: cây chè là cây trồng thu hoạch lá nên ñạm là chất dinh dưỡng
quan trọng nhất. Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón N (Marwaha và
Sharma 1977 [36], Grice 1982 [33], Sandanam và Rajasingham 1987 [38].
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón N ñến năng suất chè, ñã cho thấy: trong
3 lượng bón 300N, 500N và 700N trên nền bón P, K, trong 3 năm ñầu năng suất
tăng 10,16% ở công thức bón 500N và 700N. Từ năm thứ 4 thứ 5 công thức bón
500N năng suất giảm ñi 6- 7%, với lượng bón 700N hầu như năng suất không tăng
(so với công thức bón 300N).
Bón các dạng phân ñạm khác nhau có ảnh hưởng nhiều ñến sự phát triển của
bộ rễ, cây chè có bộ rễ phát triển tốt làm cơ sở cho việc tăng năng suất. Với 3 loại
phân ñạm ñưa vào nghiên cứu (NH
4
)
2
SO
4
, (NH
4
)NO
3
, CaCN
2
thì dạng phân
(NH
4
)NO
3
có tác dụng tốt nhất ñến khối lượng bộ rễ, mà nhất là rễ dẫn (khối lượng
bộ rễ tăng gấp 3 lần so với bón P và K). Còn dạng CaCN
2
làm ảnh hưởng xấu ñến
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
15
sự phát triển của bộ rễ (khối lượng bộ rễ giảm 3 lần so với bón P, K).
Tác giả Othieno 1994 [37] cho biết việc bón N ñơn ñộc kéo dài nhiều năm
(từ những năm 1960 ñến những năm 1990) ñã gây ra sự thiếu hụt các chất dinh
dưỡng ñặc biệt là P và K trong ñất. Qua việc phân tích ñất và lá chè cho thấy cây
chè ở Kenya cần loại phân có N, P, K, S với tỷ lệ phối hợp 25:5:5:5 hoặc N, P, K
với tỷ lệ 20:10:10.
Tác giả Wang Xia Ping 1989 [40] cho biết ñất trồng chè ở Trung Quốc rất
nghèo và thiếu dinh dưỡng nên ngay từ những năm 1960 Trung Quốc ñã chú trọng bón
ñủ N, P, K và tăng lượng phân bón trên những diện tích ñất thiếu hụt dinh dưỡng.
- Với lân: lân chứa trong búp khá lớn, cứ thu hoạch 1 tấn búp, tức ñưa ra
khỏi ñất 4- 5 kg P
2
O
5
, mà lân có trong ñất, cây trồng khó sử dụng do ñất có khả
năng hấp phụ lân cao (ở ñất sét 73% lượng lân bị hấp phụ, ñất nâu rừng là 56%, ñất
podzolic 69%, ñất nâu bạc 86% ) vì thế khi bón lân cho chè cần bón với lượng cao
hơn nhiều so với yêu cầu của cây.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bón N, P, K ñến năng suất búp ñã kết luận:
khi bón P ñơn ñộc hoặc P kết hợp với K (không có ñạm), hiệu lực của 2 loại phân
này hầu như không có tác dụng, chỉ làm tăng năng suất búp ñược 2- 3% so với công
thức không bón phân, thí nghiệm lặp lại nhiều năm (5 năm) ñều cho kết quả tương
tự. Khi bón P, K trên nền N (300N) năng suất tăng 14% so với bón N ñơn ñộc.
- Với kali: vai trò của kali có ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất búp
còn là vấn ñề chưa rõ ràng, có nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau.
Wanyoko và Othieno 1987 [41] với thí nghiệm bón K cho chè trong thời
gian 5 năm, với 4 mức bón K khác nhau (0, 50, 100 và 250 kg K
2
O/ha/năm) ñi tới
kết luận: với mức bón kali khác nhau không làm tăng năng suất búp chè hàng năm ở
mức có ý nghĩa.
Với thí nghiệm bón N và K cho chè (2 mức bón N là 224 và 336 kg/ha kết
hợp với 2 mức bón kali là 70 và 140 K
2
O) kéo dài 21 năm (từ năm 1973- 1993) cho
thấy: ở các mức bón N và K khác nhau không làm tăng năng suất ở mức có ý nghĩa.
Khi nghiên cứu bón kali cho chè trong 3 năm, với 3 mức bón K
2
O khác
nhau (70, 140 và 200 kg/ha) trên nền bón N và P ñã kết luận: chè ñược bón kali