Tải bản đầy đủ (.docx) (62 trang)

MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH KIM KHÍ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (295.36 KB, 62 trang )

Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm thực hiện nền kinh tế thị trường với biết bao nhiêu
những thăng trầm của lịch sử. Kinh tế đất nước đã có nhiều chuyển biến
và đạt được những thành tựu đáng kể. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp chuyển đổi thành nền kinh tế có quan hệ sản xuất được điều
chỉnh với tính chất, trình độ và yêu cầu của nền sản xuất.
Cơ chế kinh tế mở cửa đã tạo cho các doanh nghiệp mạnh dạn và
chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song bên cạnh đó
các doanh nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn và thử thách.
Để xác định được chỗ đứng của mình trong nền kinh tế thị trường
các doanh nghiệp không những cần phải cải tiến mẫu mã, chất lượng mà
còn phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ
vốn ra cho tới khi thu được vốn về.
Một trong những công cụ quản lý không thể thiếu được trong hoạt
động sản xuất kinh doanh là hạch toán kế toán. Vì nó đóng một vai trò
rất quan trọng trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong doanh nghiệp.
Đối với các hoạt động sản xuất, đặc biệt là với các doanh nghiệp kinh
doanh trong ngành xây dựng cơ bản, nguyên vật liệu đóng một vai trò rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Vì
vậy, việc ghi chép, phản ánh thu, mua, nhập, xuất, dự trữ nguyên vật liệu
đóng một vai trò rất lớn trong việc cung cấp thông tin sử dụng và đề ra
các biện pháp quản lý NVL một cách đúng đắn nên công việc tổ chức
công tác kế toán NVL là vấn đề cần thiết mà các doanh nghiệp thường
quan tâm.
NVL không thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Chính vì
những lý do đó tại công ty TNHH Kim Khí Hà Nội NVL cũng đóng một
1
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Công ty


làm cho Công ty ngày càng có chỗ đứng vững hơn trên thị trường.
Để đạt được điều đó là sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của toàn
doanh nghiệp trong công ty xây dựng. Bí quyết của công ty là đã năng
động khai thác tốt những gì mà mình sẵn có, mặt khác cũng xây dựng
được mô hình quản lý phù hợp, tiết kiệm được chi phí, sử dụng tốt NVL
thu được lợi nhuận trong kinh doanh.
Qua quá trình học tập lý luận tại trường và tìm hiểu thực tiễn trong
thời gian thực tập ở Công ty. Em nhận thấy tầm quan trọng của NVL và
những vấn đề còn hạn chế trong công tác kế toán NVL ở Công ty em đã
đi sâu nghiên cứu chuyên đề:
"MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ
TOÁN NVL TẠI CÔNG TY TNHH KIM KHÍ HÀ NỘI”.
Nội dung của chuyên đề: Ngoài phần mở đầu chuyên đề được chia
làm 3 phần chính:
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoàn thiện kế toán
nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Phần thứ hai: Thực trạng tổ chức trong công tác kế toán nguyên
vật liệu ở công ty TNHH Kim Khí Hà Nội.
Phần thứ ba: Một số kiến nghị và đề xuất nhằm góp phần hoàn
thiện công tác kế toán vật liệu ở công ty TNHH Kim Khí Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề em đã được sự giúp đỡ
thường xuyên tận tình của thầy giáo Phí Văn Trọng và các thầy, cô giáo
trong khoa Kế toán cùng toàn thể các cô, các bác trong công ty.
Tuy nhiên, do tình hình và thời gian có hạn nên chuyên đề này
không tránh khỏi những thiếu sót, em mong sự giúp đỡ của các thầy cô
2
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
và cán bộ của Công ty để chuyên đề thêm phong phú về lý luận và thiết
thực với thực tiễn hơn.

3
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN KẾ
TOÁN NVL TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức kế toán NVL trong doanh nghiệp sản
xuất
1.1.1. Khái niệm về nguyên vật liệu
Để tiến hành sản xuất kinh doanh một trong những điều kiện cần
thiết không thể thiếu được đó là đối tượng lao động. NVL là những đối
tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hoá.
Theo Các Mác tất cả mọi vật thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao
động có ích có thể tác động vào đối tượng lao động, như vậy nếu đối
tượng lao động được con người tác động vào thì đối tượng lao động đó
trở thành NVL. Đồng thời Các Mác cũng chỉ ra rằng bất cứ một loại
NVL nào cũng là đối tượng lao động, nhưng không phải bất cứ đối
tượng lao động nào cũng là NVL mà chỉ có trong điều kiện đối tượng
thay đổi do lao động thì đối tượng đó mới là NVL.
1.1.2. Đặc điểm NVL xây trong doanh nghiệp sản xuất
Sản phẩm của doanh nghiệp dựng là các công trình, hạng mục
công trình có kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị công trình
lớn. Do vậy NVL dùng trong doanh nghiệp xây lắp rất đa dạng, phong
phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật. Trong mỗi quá trình sản xuất,
vật liệu không ngừng chuyển hoá biến đổi về mặt hiện vật và giá trị. Về
hiện vật, VL chỉ tham gia vào một chu kỳ thi công công trình, bị tiêu hao
toàn bộ không giữ nguyên hình thái ban đầu. Xét về mặt giá trị thì NVL
là một bộ phận của vốn kinh doanh. Khi tham gia sản xuất, VL chuyển
dịch toàn bộ giá trị của chúng vào giá trị công trình mới tạo ra.
4

Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Trong các doanh nghiệp xây dựng, NVL thường có đặc thù cồng
kềnh, khối lượng lớn gây ra nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển,
bảo quản như: sắt thép, xi măng, cát và hao hụt tự nhiên thường rất cao.
Vì vậy việc quản lý quá trình mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ,
sử dụng cũng như các phương pháp hạch toán NVL trực tiếp tác động
đến chỉ tiêu sản lượng, chất lượng sản phẩm, chỉ tiêu giá thành vàchỉ tiêu
lợi nhuận.
1.1.3. Vị trí và vai trò của NVL trong quá trình sản xuất
Mỗi quá trình thi công xây lắp đều là sự kết hợp của ba yếu tố: đối
tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động. Vật liệu là đối tượng
lao động, vì thế chúng không thể thiếu được trong quá trình thi công xây
lắp. Mặt khác trong ngành XDCB, giá trị NVL thường chiếm từ 70%
đến 80% giá trị công trình. Số lượng và chất lượng công trình đều bị
quyết định bởi số lượng và chất lượng vật liệu tạo ra nó.
VL có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại phù hợp với
công trình thì mới tạo ra những công trình có chất lượng cao. Chi phí VL
thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành công trình nên việc tiết kiệm,
giảm bớt chi phí tiêu hao NVL thường vẫn phải đảm bảo chất lượng, đó
là yêu cầu cấp thiết của doanh nghiệp.
1.1.4. Vai trò của kế toán đối với việc quản lý và sử dụng NVL
trong doanh nghiệp sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, kế toán nói chung và kế toán NVL
nói riêng còn là công cụ quản lý trực tiếp của mọi đơn vị.
Hạch toán kế toán là việc ghi chép tính toán mọi hoạt động kinh tế
tài chính phát sinh ở các đơn vị cung cấp thông tin cho quản lý kinh tế
để đề ra các biện pháp quản lý đúng đắn.
5
Ninh Mạnh Tuấn

Luận Văn Tốt Nghiệp
Hạch toán NVL là việc ghi chép phản ánh đầy đủ tình hình thu
mua, nhập xuất, dự trữ NVL. Thông qua tài liệu kế toán NVL còn biết
được chất lượng, chủng loại NVL có đảm bảo hay không, số lượng thiếu
hay thừa, lãng phí hay tiết kiệm. Từ đó người quản lý đề ra các biện
pháp thiết thực. Nếu thiếu VL thì đơn vị tổ chức mua, kiểm soát được
giá cả, cố gắng làm giảm mức tiêu hao NVL sao cho không lãng phí
nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm.
Như vậy, kế toán NVL có vai trò quan trọng trong việc quản lý sử
dụng NVL. Song để thực hiện tốt vai trò đó trong công tác quản lý, kế
toán NVL phải đảm bảo được những yêu cầu quản lý nhất định.
1.1.5. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán NVL
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của NVL trong quá trình thi công
xây lắp là một yêu cầu không thể thiếu trong bất kỳ doanh nghiệp xây
lắp nào. Vì vậy các doanh nghiệp xây lắp cần tiết phải tổ chức việc quản
lý và hạch toán một cách chặt chẽ ở tất cả các khâu trừ khâu thu mua,
vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL. Quản lý tốt các khâu trên
là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí,
giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Để thuận lợi trong công tác quản lý và hạch toán NVL, trước hết
các doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống danh điểm và đánh số
danh điểm của NVL phải rõ ràng, chính xác tương ứng với quy cách,
chủng loại của NVL.
- Trong khâu thu mua: Cần quản lý về số lượng, chủng loại, quy
cách, chất lượng, giá cả và chi phí thu mua cũng như kế hoạch thu mua
theo đúng tiến độ thời gian phù hợp với kế hoạch thi công, xây dựng
công trình.
6
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp

Trong doanh nghiệp vật liệu luôn được dự trữ ở một mức nhất
định, hợp lý nhằm đảm bảo cho quá trình thi công được liên tục. Do vậy,
các doanh nghiệp phải xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu cho từng
danh điểm NVL, tách việc dự trữ quá nhiều hoặc quá ít một loạt nguyên
vật liệu nào đó gây ra tình trạng ứ đọng hoặc khan hiếm vật liệu ảnh
hưởng đến tốc độ chu chuyển vốn và tiến độ thi công các công trình.
Định mức tồn kho còn là cơ sở để xác định kế hoạch thu mua NVL
và kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
- Để bảo quản tốt NVL dự trữ, giảm thiểu hư hao, mất mát các
doanh nghiệp cần phải xác định hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn
kỹ thuật, thủ kho có đủ phẩm chất đạo đức trình độ chuyên môn để quản
lý NVL tồn kho và thực hiện chức năng tồn kho và thực hiện các nghiệp
vụ nhập - xuất kho, tránh việc bố trí kiêm nhiệm chức năng thủ kho với
tiếp liệu và tính toán vật tư.
- Trong khâu sử dụng đòi hỏi phải thực hiện việc sử dụng tiết kiệm
hợp lý nếu cơ sở định mức dự toán chi phí vật liệu nhằm hạ thấp mức
tiêu hao vật liệu, hạn chế các hao hụt mất mát trong thi công.
1.1.6. Nhiệm vụ của kế toán vật liệu
Để thực hiện tốt chức năng là công cụ quản lý kinh tế và xuất phát
từ vị trí, vai trò, yêu cầu quản lý vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp,
kế toán NVL cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức phản ánh chính xác, kịp thời trung thực về tình hình
nhập xuất và tồn kho vật liệu. Tính ra giá thành thực tế của vật liệu đã
thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua về
các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm bảo đảm cung cấp
đầy đủ kịp thời đúng chủng loại vật liệu cho quá trình kinh doanh.
7
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Áp dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán chi tiết, tổng hợp

vật liệu để theo dõi chi tiết, tình hình tăng giảm của vật liệu trong quá
trình xây lắp, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp và tính giá thành công
trình.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật
liệu phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý các vật liệu
thừa, thiếu, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất. Tính toán xác định tiêu
hao trong quá trình thi công, xây dựng phân bố chính xác vật liệu đã tiêu
hao vào các công trình, hạng mục công trình.
- Tham gia kiểm tra và đánh giá loại vật liệu theo chế độ nhà nước
quy định lập các báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản
lý tiến hành phụ trách kinh tế quá trình thu mua, bảo quản, dự trữ và sử
dụng vật liệu nhằm phục vụ công tác quản lý vật liệu một cách hợp lý
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hạ thấp chi phí kinh doanh.
1.2. Phân loại và đánh giá NVL
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu
NVL sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có
vai trò công dụng khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt và hạch
toán chi phí từng loại từng thứ vật liệu phục vụ yêu cầu quản lý doanh
nghiệp cần phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức cố định.
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại NVL như dựa vào công dụng
của vật liệu theo nguồn nhập vật liệu hoặc phân theo quyền sở hữu.
Nhưng trong thực tế của công tác quản lý và hạch toán ở các
doanh nghiệp, đặc trưng dùng để phân loại NVL thông dụng nhất là cách
phân loại căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp được chia thành các loại sau:
8
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
- NVL chính: là loại vật liệu không thể thiếu trong quá trình thi
công xây lắp NVLchính thường chiếm tỷ trọng lớn trong thông số

nguyên vật liệu của doanh nghiệp sau quá trình thi công, hình thái của
nguyên vật liệu chính thay đổi hoàn toàn để hình thành công trình.
- Vật liệu phụ: là các loại vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình
thi công xây lắp, được sử dụng kết hợp nguyên vật liệu chính để hoàn
thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được dùng
để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc để phục
vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý như dầu mỡ bôi trơn, dầu
nhờn.
- Nhiên liệu: là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt
lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh gồm: xăng, dầu, than, củi, khí
ga…
- Phụ tùng thay thế: là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để
thay thế, sửa chữa những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản: là các loại thiết bị, vật liệu,
công cụ, khí cụ vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác: là loại vật liệu đặc trưng của từng doanh nghiệp
hoặc phế liệu thu hồi nhưu gỗ, sắt, thép vụn…
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết của từng
doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu được chia thành từng nhóm,
từng thứ một cách chi tiết hơn. Cách phân loại này là cơ sở để xác định
mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ NVL và là cơ sở
để tổ chức hạch toán chi tiết NVL trong doanh nghiệp.
Việc phân chia này giúp cho kế toán tổ chức các TK chi tiết dễ
dàng hơn trong việc quản lý, hạch toán VL. Việc phân chia này còn giúp
cho doanh nghiệp nhận biết rõ nội dung kinh tế và vai trò, chức năng của
9
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
từng loại VL trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó đề ra những biện
pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả của

các loại VL.
Căn cứ vào nguồn hình thành:
- Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận góp vốn
liên doanh, nhận biếu, tặng…
- Nguyên vật liệu tự chế: Do doanh nghiệp tự chế.
1.2.2. Đánh giá NVL
1.2.2.1. Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá vật tư là việc xác định giá trị của vật tư ở những thời
điểm nhất định và theo những nguyên tắc quy định.
Khi đánh giá nguyên vật liệu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thận trọng: (theo chuẩn mực 02 hàng tồn kho) vật tư,
hàng hoá phải được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc ở đây là trị giá vốn
thực tế của vật tư, hàng hoá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã
bỏ ra để có được vật tư hàng hoá đó ở thời điểm và trạng thái hiện tại.
Nguyên tắc thận trọng: vật tư, hàng hoá được đánh giá theo giá
gốc, nhưng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá
gốc thì tính theo giá trị thuần có thể được thực hiện. Giá trị thuần có thể
thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kì sản xuất,
kinh doanh trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí
ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. Thực hiện nguyên tắc thận
trọng bằng cách dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Kế toán ghi theo giá
gốc và phản ánh dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Do đó, trên báo cáo
tài chính phản ánh chỉ tiêu này thông qua hai chỉ tiêu:
- Trị giá vốn thực tế vật tư hàng hoá
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
10
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong
đánh giá vật tư, hàng hoá phải đảm bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã

chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong
suốt niên độ kế toán.
1.2.2.2. Đánh giá NVL theo thực tế
1.2.2.1.1. Xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập
kho
Giá thực tế của vật liệu nhập kho là toàn bộ chi phí cấu thành liên
quan đến nguyên vật liệu nhập kho, được xác định theo từng nguồn
nhập.
* Đối với vật liệu mua ngoài:
- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ:
= +
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc những cơ sở kinh doanh không thuộc đối
tượng chịu thuế GTGT:
= +
* Đối với vật liệu tự chế:
= +
* Đối với NVL thuê ngoài gia công chế biến:
= + +
Đối với các cơ sở nộp thuế theo phương pháp trực tiếp và các cơ
sở không thuộc diện chịu thuế GTGT, thì số tiền trả cho người nhận gia
công phải bao gồm cả thuế GTGT.
* Trường hợp đơn vị khác góp vốn liên quan bằng NVL:
=
11
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
* Phế liệu thu hồi: được đánh giá theo giá ước tính (giá vốn thực tế
có thể sử dụng hoặc có thể bán được).

* Đối với vật liệu được biếu tặng:
Giá thực tế của vật liệu nhập kho = Giá thị trường tương đương
1.2.2.1.2. Xác định giá trị vốn thực tế nguyên vật liệu xuất kho
Vật tư được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời
điểm khác nhau nên có nhiều giá trị khác nhau. Do đó, khi xuất kho tuỳ
thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện
trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn
trong các phương pháp sau để xác định trị giá vốn thực tế vật tư xuất
kho.
Theo chuẩn mực kế toán, phương pháp xác định trị giá vốn thực tế
của vật tư xuất kho bao gồm:
Phương pháp tính theo giá trị đích danh:
Theo phương pháp này khi xuất kho vật tư thì căn cứ vào số lượng
xuất nhập khẩu thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính trị giá
vốn vật tư xuất kho.
Phương pháp bình quân gia quyền
Trị giá vốn thực tế của vật tư xuất kho được tính căn cứ vào số
lượng xuất nhập khẩu thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính
trị giá vốn vật tư xuất kho.
Phương pháp bình quân gia quyền
Trị giá vốn thực tế của vật tư xuất kho được tính căn cứ vào số
lượng xuất kho và định giá bình quân gia quyền, theo công thức:
= x
=
Đơn giá bình quân thường được tính cho từng thứ vật tư.
12
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đơn giá bình quân có thể xác định cho cả kỳ (đơn giá bình quân cố
định)

Đơn giá bình quân có thể xác định sau mỗi lần nhập (đơn giá bình
quân liên hoàn hay đơn giá bình quân di động).
Phương pháp nhập trước, xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định hàng nào nhập trước sẽ được
xuất trước sẽ được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập.
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần
nhập sau cùng.
Phương pháp nhập sau xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định là hàng rào nhập sau được xuất
trước lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập.
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính trước những lần nhập đầu
tiên.
1.3. Kế toán chi tiết NVL
Hạch toán chi tiết VT là việc hạch toán kết hợp giữa thủ kho và
phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập xuất kho, nhằm đảm
bảo theo dõi chặt chẽ số liệu hiện có và tình hình biến động từng loại,
nhóm, thứ vật tư về số lượng và giá trị. Các doanh nghiệp phải tổ chức
hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết và vận dụng phương pháp
hạch toán chi tiết VT phù hợp để góp phần tăng cường quản lý vật tư.
1.3.1. Chứng từ kế toán sử dụng
Các hoạt động nhập xuất kho NVL xảy ra thường xuyên trong các
doanh nghiệp sản xuất. Để quản lý theo dõi chặt chẽ tình hình biến động
và số hiện có của NVL, kế toán phải lập những chứng từ cần thiết một
cách đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ qui định.
13
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Theo chế độ chứng từ kế toán ban hành theo
QĐ1141/TK/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 và theo QĐ885/1998/QĐ/BTC
ngày 167/1998 của Bộ Tài chính, các chứng từ kế toán về vật tư bao

gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 08-VT)
- Hoá đơn GTGT-MS01 GTKT-2LN
- Hoá đơn cước phí vận chuyển (Mẫu 03-BH)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của
nhà nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ hướng
dẫn.
- Phiếu xuất VT theo hạn mức (mẫu 05-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm VT (mẫu 05-VT)
- Phiếu báo VT cuối kỳ (mẫu 07-VT)
-Đối với các chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải được lập
kịp thời, đầy đủ theo đúng thời gian quy định về mẫu biểu, nội dung,
phương pháp lập. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp
lý, hợp pháp của chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh.
1.3.2. Các phương pháp kế toán chi tiết NVL
Trách nhiệm quản lý trực tiếp nhập, xuất, tồn kho NVL do thủ kho
và bộ phận kế toán hàng tồn kho đảm nhận. Để phối hợp sử dụng các
chứng từ nhập, xuất tồn kho trong hạch toán chi tiết NVL giữa thủ kho
và kế toán, doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp sau:
1.3.2.1. Phương pháp ghi thẻ song song
* Nội dung:
14
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày tình hình
nhập, xuất, tồn kho vật tư của từng danh điểm vật tư, ở từng kho theo chỉ
tiêu số lượng.

- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ chi tiết NVL để ghi chép
tình hình nhập xuất tồn kho theo chỉ tiêu số lượng và số tiền.
Cuối tháng, kế toán cộng sổ chi tiết NVL và kiểm tra đối chiếu với
thẻ kho rồi ghi vào Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn.
Trình tự ghi sổ theo phương pháp ghi thẻ song song được khái quát
trong sơ đồ sau:
Thẻ kho
Sổ chi tiết
Bảng kê tổng hợp N-X-T
Sổ kế toán
tổng hợp
Chứng từ xuất
Chứng từ nhập
15
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu cuối tháng
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết NVL theo phương pháp ghi thẻ song
song
* Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng:
- Ưu điểm: Đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu và phát hiện sai
sót.
- Nhược điểm: Việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán bị
trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng công việc ghi chép lớn.
- Điều kiện áp dụng:
Phương pháp này chỉ thích hợp áp dụng đối với doanh nghiệp có ít
chủng loại NVL, khối lượng các nghiệp vụ nhập xuất ít, không thường
xuyên.

1.3.2.2. Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
* Nội dung:
- Ở kho: Thủ kho sử dụng "thẻ kho" để ghi chép giống như phương
pháp ghi thẻ song song.
- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng "Sổ đối chiếu luân chuyển"
đểghi chép cho từng thứ vật tư theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị.
"Sổ đối chiếu luân chuyển" được mở cho cả năm và được ghi vào cuối
tháng, mỗi thứ vật tư được ghi một dòng trên sổ.
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi tiết NVL theo phương pháp
sổ đối chiếu luân chuyển
16
Ninh Mạnh Tuấn
Thẻ kho
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu cuối tháng
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng:
- Ưu điểm: Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt do chỉ
thị ghi một lần vào cuối tháng.
- Nhược điểm: Phương pháp này vẫn còn ghi sổ trùng lặp giữa kho
và phòng kế toán về chỉ tiêu số lượng; việc theo dõi kiểm tra đối chiếu
giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành được vào cuối tháng nên hạn
chế tác dụng kiểm tra của kế toán. - Điều kiện áp dụng: Thích hợp với
các doanh nghiệp có chủng loại vật tư, hàng hoá ít, không có điều kiện
ghi chép, theo dõi tình hình nhập, xuất hàng ngày; phương pháp này
thường ít được áp dụng trong thực tế.
17
Ninh Mạnh Tuấn

Phiếu xuấtPhiếu nhập Phiếu xuất
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê nhập Bảng kê xuất
Sổ kế toán tổng
hợp
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.3.2.3. Phương pháp ghi sổ số dư
* Nội dung:
- Thủ kho: Vẫn sử dụng "thẻ kho" để ghi chép như hai phương
pháp trên. Đồng thời cuối tháng thủ kho còn ghi vào "Sổ số dư" số tồn
kho cuối tháng của từng thứ vật tư cột số lượng.
- Phòng kế toán: Kế toán mở Sổ số dư cho từng kho dùng cho cả
năm để ghi số tồn kho của từng thứ, nhóm, loại vào cuối tháng theo chỉ
tiêu giá trị. Căn cứ vào chứng từ nhập, xuất kế toán lập các bảng kê
nhập, bảng kê xuất; sau đó vào bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn. Cuối
tháng, khi nhận được Sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số
tồn kho theo chỉ tiêu số lượng mà thủ kho đã ghi và đơn giá hạch toán để
tính ra số tồn kho theo từng thứ theo chỉ tiêu giá trị và ghi vào cột số tiền
trên sổ số dư.
Việc kiểm tra đối chiếu được tiến hành vào cuối tháng, căn cứ vào
cột số tiền tồn kho cuối tháng trên Sổ số dư đối chiếu với số tiền tồn kho
cuối tháng trên Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn.
Có thể khái quát nội dung, trình tự hạch toán chi tiết VL theo
phương pháp ghi sổ số dư theo sơ đồ sau:
18
Ninh Mạnh Tuấn
Thẻ kho
Phiếu xuất khoPhiếu nhập kho
Sổ số dư

Phiếu giao
nhận chứng từ
Phiếu giao
nhận chứng từ
Bảng luỹ kế
nhập
Bảng luỹ kế
xuất
Bảng kê
N-X-T
Luận Văn Tốt Nghiệp
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư
* Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng:
- Ưu điểm: Giảm được khối lượng ghi chép, kiểm tra được thường
xuyên việc ghi chép và bảo quản trong kho của thủ kho; công việc được
dàn đều trong tháng.
- Nhược điểm: Do kế toán chỉ ghi chỉ tiêu thành tiền nên để có
thông tin chi tiết của từng thứ NVL phải căn cứ vào thẻ kho, nếu số liệu
không khớp thì việc tra cứu rất phức tạp.
- Điều kiện áp dụng: Doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư
hàng hoá, việc nhập xuất diễn ra thường xuyên; và đã xây dựng được hệ
thống giá hạch toán và xây dựng được hệ thống danh điểm vật tư hàng
hoá hợp lý. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của kế toán vững vàng.
1.4. Kế toán tổng hợp NVL
NVL là tài sản lưu động của doanh nghiệp và được nhập xuất kho
thường xuyên, tuy nhiên tuỳ theo đặc điểm NVL của từng doanh nghiệp
mà các doanh nghiệp có các phương thức kiểm kê khác nhau. Có doanh
nghiệp thực hiện kiểm kê theo từng nghiệp vụ nhập - xuất kho (mỗi lần
nhập - xuất kho đều có cân, đo, đóng, đếm) nhưng cũng có những doanh
nghiệp chỉ kiểm kê một lần vào thời điểm cuối kỳ bằng cách cân, đo,

đong, đếm ước lượng NVL tồn cuối kỳ. Tương ứng với hai phương pháp
kiểm kê trên, trong kế toán NVL nói riêng và kế toán các loại hàng tồn
kho nói chung có hai phương pháp hạch toán tổng hợp là kê khai thường
xuyên (KKTX) và kiểm kê định kỳ (KKĐK).
19
Ninh Mạnh Tuấn
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Sổ kế toán tổng hợp
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.4.1. Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường
xuyên
1.4.1.1. Đặc điểm của phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp KKTX là phương pháp kế toán phải tổ chức ghi chép
một cách thường xuyên, liên tục các nghiệp vụ nhập kho, xuất kho và
tồn kho củac các loại vật tư trên các tài khoản và sổ kế toán khi có các
chứng từ nhập - xuất vật liệu.
Việc xác định trị giá vốn thực tế của vật tư xuất kho được tính căn
cứ trực tiếp vào các chứng từ xuất kho. Sau khi đã tập hợp, phân loại
theo đối tượng sử dụng để ghi vào các tài khoản và các sổ kế toán.
Trị giá vốn thực tế của vật tư tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán có
thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán.
- Ưu điểm: Phương pháp này có độ chính xác cao, nắm rõ được
tình hình hiện có và biến động NVL, cung cấp kịp thời đầy đủ theo yêu
cầu quản lý rất phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các
mặt hàng có giá trị lớn.
- Nhược điểm: Khối lượng công việc nhiều, tốn thời gian.
1.4.1.2. Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX
* Tài khoản kế toán sử dụng

- TK 152 "Nguyên vật liệu": Tài khoản này được dùng để phản
ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại NVL.
TK152 có thể được mở theo dõi chi tiết các TK cấp 2 theo từng
loại NVL phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh tế và yêu cầu
quản trị doanh nghiệp, bao gồm:
+ TK 1521: NVL chính
+ TK 1522: VL phụ
+ TK 1523: Nhiên liệu
20
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
+ TK 1524: Phụ tùng thay thế
+ TK 1525: Thiết bị XDCB
+ TK 1528: VL khác
Trong từng TK cấp 2 có thể mở chi tiết các TK cấp 3, cấp 4… tới
từng nhóm, từng thứ NVL tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng doanh
nghiệp.
Các TK liên quan: Hàng mua đang đi đường: phản ánh trị giá vốn
thực tế vật tư, sản phẩm, hàng hoá mà doanh nghiệp dã mua nhưng chưa
về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đang đi đường đã về nhập
kho.
- TK 331: "Phải trả cho người bán": TK này phản ánh các khoản
phải thanh toán cho người bán, người nhận thầu hoặc người gia công vật
tư thiết bị. TK331 được mở chi tiết cho từng người bán, người nhận thầu
cụ thể.
- TK133: "Thuế GTGT được khấu trừ": phản ánh số hiện có và
tình hình biến động của khoản thuế GTGT được khấu trừ.
TK 133 được mở 2 TK cấp 2:
+ TK1331: "Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, vật tư"
+ TK1332: "Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ".

TK 133 chỉ được mở và áp dung cho những đơn vị áp dụng nộp
thuế theo phương pháp khấu trừ, không áp dụng cho những đơn vị nộp
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
* Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX được thể hiện
qua sơ đồ sau:
21
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp
KKTX
TK111,112,14 1,131
TK133
TK152
TK621
TK333
TK151
TK411
TK154
TK128
TK627,641,642
TK632,157
TK154
TK128,222
TK128,222
Tổng giá
thanh toán
Thuế GTGT được khấu trừ
Nhập kho do mua ngoài
Xuất dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm
Xuất dùng tính ngay

vào CP
Thuế nhập khẩu
Nhập kho hàng đang đi đường kì trước
Xuất bán trực tiếp, gửi bán
Nhận vốn góp liên doanh
Xuất tự chế, thuế gia công chế biến
Xuất góp vốn liên doanh
Nhận do tự chế, thuê ngoài gia công chế biến
Nhập do nhận lại
vốn góp liên doanh
Xuất cho vay tạm thời
22
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.4.2. Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKĐK
1.4.2.1. Đặc điểm phương pháp KKĐK
Phương pháp KKĐK là phương pháp kế toán không tổ chức ghi
chép một cách thường xuyên, liên tục các nghiệp vụ nhập kho - xuất kho
và tồn kho của NVL trên các tài khoản hàng tồn kho. Các tài khoản này
chỉ phản ánh trị giá vốn thực tế của NVL tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Việc xác định trị giá vốn thực của NVL xuất kho không căn cứ vào
các chứng từ xuất kho mà được căn cứ vào kết quả kiểm kê cuối kỳ để
tính theo công thức:
23
Ninh Mạnh Tuấn
Luận Văn Tốt Nghiệp
= + +
- Ưu điểm: giảm nhẹ khối lượng công việc hạch toán.
- Nhược điểm: Trên sổ kế toán tổng hợp không thể hiện giá trị
NVL xuất dùng cho từng đối tượng, cho các nhu cầu khác nhau. Hơn

nữa trên tài khoản tổng hợp không thể biết được số NVL mất mát, hư
hỏng. Và độ chính xác về vật tư xuất dùng cho các mục đích khác nhau
không cao vì nó phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý tại kho, bến
bãi.
- Điều kiện áp dụng: phương pháp này phù hợp với những doanh
nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, với quy cách mẫu mã khác nhau, giá
trị thấp và được xuất thường xuyên.
1.4.2.2. Kế toán tổng hợp các nghiệp vụ chủ yếu
* Tài khoản sử dụng:
Kế toán tổng hợp tình hình nhập xuất vật tư theo phương pháp
KKĐK vẫn sử dụng TK152. Nhưng tài khoản này không phản ánh tình
hình nhập xuất vật tư trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển trị giá vốn
thực tế NVL tồn kho đầu kỳ, tồn kho cuối kỳ.
Ngoài ra còn sử dụng thêm TK611-TK mua hàng.
TK này phản ánh trị giá vốn thực tế của VT tăng, giảm trong kỳ.
TK611 không có số dư, được mở chi tiết theo TK cấp 2.
TK6111 "Mua NVL, CCDC"
TK6112 "Mua hàng hoá"
Cũng giống như phương pháp KKTX kế toán sử dụng các tài
khoản liên quan như TK111, 112, 621,641, 642, 331…
* Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKĐK được thể hiện
qua sơ đồ sau:
24
Ninh Mạnh Tuấn
TK151,152
TK611
TK151,152
Luận Văn Tốt Nghiệp
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp
KKĐK

1.5. Sổ kế toán áp dụng
Quá trình hạch toán bao giờ cũng xuất phát từ chứng từ gốc và kết
thúc bằng các báo cáo kế toán thông qua việc ghi chép, theo dõi tính
toán, xử lý số liệu trên các sổ sách kế toán. Sổ sách kế toán là khâu trung
25
Ninh Mạnh Tuấn
Thuế GTGT được khấu trừ
K/c tồn cuối kỳ
TK111,112,331
TK111,112,331
Thuế GTGT
được khấu
Tổng giá
thanh toán
Các khoản được giảm
trừ
Nhập kho do
mua ngoài
TK632
Xuất bán
TK621,627
Xuất dùng cho sản xuất
TK128,222
Xuất góp vốn liên doanh
TK333
Thuế nhập khẩu
TK411
Nhận vốn góp liên
doanh góp cổ phần
TK711

Được quyên tặng

×