Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

đạo đức trong sử dụng lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.82 KB, 15 trang )

DANH SÁCH NHÓM
TÊN SINH VIÊN MSSV
Phạm Thị Huyền Trang 11009673
Lã Thị Huyền Trang 11025833
Nguyễn Khắc Trang 11034453
Lê Thị Vân 11007523
Nguyễn Thành Vân 11007683
Trịnh Thị Vân 11024043
Trương thị Xinh 11024693
Hồ Thị Yến 11024483
Trương Thị Yến 11008863
PHẦN MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang trở thành một xu
thế khách quan và tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, không kể các nước
đang phát triển hay phát triển, các nước giàu hay nghèo. Trong xu thế đó quốc
gia nào có chiến lược, chính sách, biện pháp và công cụ quản lí hợp lí sẽ mang
lại lợi ích, sự phát triển về kinh tế cho quốc gia đó, ngược lại sẽ mang lại kết
quả xấu.Nếu một đất nước ko có đạo đức sẽ khó lòng phát triển mạnh mẽ được.
Một trong nhưng mặt biểu hiện của đạo đức chính là cách sư dụng lao động. Để
hiểu rõ hơn về vấn đề lao đông – một vấn đề nóng và đang được xã hội rất quan
tâm, và đạo đức trong sử dung lao đông như thế nào? Chúng em đã lựa chọn đề
tài “ Đạo đức trong sử dụng lao động làm đề tài nghiên cứu”.
Tuy rằng đã có nhiều cố gắng nhưng bài làm sẽ có nhiều thiếu sót rất
mong nhận được nhưng ý kiến đóng góp của giáo viên và các bạn để bài làm
hoàn thiện hơn. Nhóm em xin trân thành cảm ơn!
PHẦN THÂN
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Đạo đức là gì?
Đạo: Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở.
Đức: Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức. Theo Đạo (Lão tử) tu
thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức.


Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về
vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm
vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn
được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân
văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.
Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui
tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với
nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai
chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội.
Đạo đức được coi là nguyên tắc luân lý căn bản và phổ biến mà mỗi người phải
tuân theo xã hội.
Đạo là đường đi là đướng sống của con người.
Đức là đức tính, nhân đức, là nguyên tắc luân lý.
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về
vấn đề tốt - xấu, đúng – sai. Đạo đức gắn liền với nền văn hoá, tôn giáo, chủ
nghĩa nhân
văn, triết học và luật lệ xã hội.
Đạo đức có đặc điểm:
- Đạo đức có tính giai cấp, tính khu vực, tính địa phương.
- Nội dung các chuẩn mực đạo đức thay đổi theo điều kiện lịch sử cụ thể. Đạo
đức khác với pháp luật: đạo đức không có tính cưỡng bức, cưỡng chế mà mang
tính tự nguyện.
I.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh.
Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoắc tổ chức nhằm đạt mục đích
lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh như: Quản trị, tiếp thị, tài chính
kế toán, sản xuất…
Đạo đức kinh doanh là các nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh, đánh giá,
hướng dẫn và kiểm soát hànhvi của các chủ thể kinh doanh, trong điều kiện môi
trường kinh doanh của cá nhân và tổ chức đó.

Vi phạm đạo đức kinh doanh tại quốc gia này, nhưng có thể đối với tại một
quốc gia khác là không vi phạm.
Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt
động kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh là một dang của đạo đức nghề nghiệp
I.3. Lao động là gì?
Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do
con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa
này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động.
Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường,
gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản
xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.
II. ĐẠO ĐỨC TRONG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG.
II.1. Suy nghĩ về những yếu tố tác động đến đạo đức công nhân lao động ở
nước ta hiện nay.
Theo quan điểm Mác xít cho rằng cá nhân là sản phẩm của xã hội, cho nên sự
hình thành phát triển đạo đức cá nhân chủ yếu do điều kiện xã hội - lịch sử và
hoạt động của cá nhân quyết định. Quá trình hình thành nền đạo đức xã hội chủ
nghĩa, đạo đức của giai cấp công nhân, là một quá trình chuyển hoá từ đạo đức
của cá nhân người công nhân, đến nền đạo đức xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách
mạng. Đạo đức của công nhân lao động chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu
tố, nhưng xét từ quan điểm trình bày ở trên, theo chúng tôi đạo đức của công
nhân lao động hiện nay chịu ảnh hưởng của những yếu tố sau:

Thứ nhất: Quan hệ sản xuất, đó chính là quan hệ giữa người và người trong quá
trình sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội. Nó thể hiện trong quan hệ giữa
con người với tư liệu sản xuất, với tổ chức và quản lý sản xuất, phân phối kết
quả lao động.

Đó là nguồn gốc trực tiếp quyết định phẩm chất đạo đức cá nhân. Hiện nay, quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ cấu kinh tế có những thay đổi lớn, với nhiều
hình thức sở hữu. Theo đó cơ cấu công nhân lao động cũng có nhiều thay đổi,
công nhân lao động trong doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh, công nhân lao
động khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng mạnh.

Công nhân lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có những nét khác
với công nhân lao động trong doanh nghiệp nhà nước. Cá nhân người công nhân
lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh về cơ bản không có tư liệu sản
xuất, họ là những người thợ, quan hệ với quá trình sản xuất trong doanh nghiệp
là quan hệ chủ-thợ.

Trong quan hệ xã hội rộng lớn, công nhân lao động ở địa vị làm chủ, thông qua
Đảng Cộng sản, thông qua Nhà nước của giai câp công nhân, quản lý và điều
hành đất nước. Đối với chủ doanh nghiệp, tuy nắm một phần cơ bản tư liệu sản
xuất (trong phạm vi doanh nghiệp), nhưng họ phải tôn trọng và tuân theo hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuân theo
sự quản lý và điều hành đất nước của Nhà nước Việt Nam.

Như vậy công nhân lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước tuy là ở địa
vị làm thuê trong phạm vi doanh nghiệp nhưng hoàn toàn khác với công nhân
lao động ở các nước tư bản làm thuê cho giới chủ.

Những yếu tố tinh thần, hệ tư tưởng chính trị, pháp luật đều ảnh hưởng đến
đời sống tâm lý, đạo đức của cá nhân người công nhân lao động, trong đó hệ tư
tưởng chính trị giữ vai trò chủ yếu chi phối sự hình thành và phát triển phẩm
chất đạo đức, quyết định xu hướng, nội dung chủ yếu của đời sống tâm lý, đạo
đức của cá nhân.
Thứ hai: Hoạt động của cá nhân giữ vai trò quan trọng đối với sự hình thành và
phát triển đạo đức giai cấp, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng.


Cá nhân người công nhân lao động không chỉ chịu sự tác động của hoàn cảnh
một cách tiêu cực, thụ động, mà còn tích cực tác động trở lại hoàn cảnh. Trong
quá trình hoạt động, khi người công nhân lao động làm biến đổi hoàn cảnh xung
quanh thì bản thân cũng biến đổi và trưởng thành. Chỉ có thông qua hoạt động
thực tiễn, công nhân lao động mới phát triển các năng lực một cách đầy đủ,
hoàn thiện, mới nhận thức được sức mạnh của mình, tiếp thu được tri thức, rèn
luyện được bản thân, làm cho phẩm chất đạo đức của cá nhân được phát triển
toàn diện, phong phú và lành mạnh.

Trong các hoạt động thực tiễn thì lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành và phát triển phẩm chất đạo đức
mạng của người công nhân lao động.

Thứ ba: Tự giáo dục, tự rèn luyện là một trong những yếu tố quan trọng. Tác
động của giáo dục bao gồm giáo dục của gia đình các đoàn thể, các tổ chức
chính trị xã hội giữ vai trò trực tiếp trong sự hình thành và phát triển ý thức đạo
đức của công nhân lao động.

Do ảnh hưởng của quá trình sản xuất, ảnh hưởng của giáo dục và hoạt động
thực tiễn công nhân tích cực tham gia vào các phong trào của các tổ chức, tổ sản
xuất, tổ công đoàn, thanh niên ý thức và tự ý thức của công nhân lao động
được hình thành và phát triển.

Quá trình hoạt động trong doanh nghiệp, công nhân lao động nhận thức được
đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng ta, yêu cầu sự phát triển đúng
hướng của các doanh nghiệp trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, biết đối
chiếu nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của bản thân với yêu cầu phát triển của
doanh nghiệp và của xã hội, biết tự kiềm chế, tự rèn luyện mình một cách có ý
thức, bồi dưỡng mình một cách toàn diện cả về phẩm chất đạo đức, năng lực tư

duy, thể lực theo yêu cầu của xã hội, tạo cho mình một cuộc sống có lý tưởng,
có ý thức giai cấp.
Đồng thời, biết sử dụng vũ khí phê bình và tự phê bình để phát huy ưu điểm phù
hợp với bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, khắc phục những nhược
điểm, đấu tranh với những lối sống tiêu cực, xa lạ với lối sống của nền đạo đức
cách mạng, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân Việt Nam ngày càng lớn
mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
II.2. Biểu hiện của đạo đức trong sử dụng lao động.
II.3. Đạo đức trong quản trị nguồn lao động.
Vấn đề đạo đức trong quản lý nguồn lao độngliên quan đến các vấn đề cơ bản
sau:
- Đạo đức trong tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng lao động.
Trong hoạt động sử dung lao động sẽ xuất hiện một vấn đề khá nan giải, đó là
tình trạng phân biệt đối xử. Phân biệt đối xử xuất phát từ định kiến về phân biệt
chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, vùng văn hóa, tuổi tác
- Đạo đức trong đánh giá người lao động.
Đó là hành vi mà người quản lý đánh giá người lao động trên cơ sở định kiến.
Nghĩa là
người quản lý dùng ấn tượng của mình về đặc điểm của nhóm người đó để xử
sự và
đánh giá người lao động thuộc về nhóm đó. Các nhân tố như quyền lực, ganh
ghét, thất
vọng, tội lỗi và sợ hãi là những điều kiện duy trì và phát triển sự định kiến.
- Đạo đức trong bảo vệ người lao động.
Đảm bảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có đạo đức nhất trong vấn đề
bảo
vệ người lao động. Người lao động có quyền làm việc trong một môi trường an
toàn. Mặt
khác xét từ lợi ích, khi người làm công bị tai nạn rủi ro thì không chỉ ảnh hưởng

xấu đến
bản thân họ mà còn tác động đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
- Việc sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển cỏc loại mỏy, thiết bị, vật tư,
năng lượng, điện, húa chất, thuốc bảo vệ thực vật, việc thay đổi cụng nghệ, nhập
khẩu cụng nghệ mới phải được thực hiện theo tiờu chuẩn an toàn lao động, vệ
sinh lao động. Cỏc loại mỏy, thiết bị, vật tư, cỏc chất cú yờu cầu nghiờm ngặt
về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được đăng ký và kiểm định theo quy
định của Chớnh phủ.
- Người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không
gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc,
phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác. Các yếu
tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường.
- Người sử dụng lao động phải định kỳ kiểm tra, tu sửa máy, thiết bị, nhà
xưởng, kho tàng theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động;
- Người sử dụng lao động phải có đủ các phương tiện che chắn các bộ phận dễ
gây nguy hiểm của máy, thiết bị trong doanh nghiệp; nơi làm việc, nơi đặt máy,
thiết bị, nơi có yếu tố nguy hiểm, độc hại trong doanh nghiệp, phải bố trí đề
phòng sự cố, có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đặt ở vị trí
mà mọi người dễ thấy, dễ đọc;
- Trong trường hợp nơi làm việc, máy thiết bị có nguy cơ gây tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện ngay những biện pháp
khắc phục hoặc phải ra lệnh ngừng hoạt động tại nơi làm việc và đối với máy,
thiết bị đó cho tới khi nguy cơ được khắc phục;
- Nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải đuợc
người sử dụng lao động trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ
lao động thích hợp để bảo đảm ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao
động;
- Người sử dụng lao động phải bảo đảm các phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu
chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định của pháp luật;
- Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào

tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng
dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp an toàn, vệ
sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người
lao động;
- Người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng, khi hết
giờ làm việc phải được người sử dụng lao động bảo đảm các biện pháp khử độc,
khử trùng, vệ sinh cá nhân;
- Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tai nạn lao
động theo quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi
phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã
hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia các
loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho
người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ bảo hiểm
xã hội.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường lớn nhất bằng 30 tháng tiền
lương và phụ cấp lương (nếu có) cho người lao động bị suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên hoặc cho người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
mà do lỗi của người lao động. Trong trường hợp do lỗi của người lao động thỡ
cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất cũng bằng 12 tháng tiền lương và phụ
cấp lương (nếu có).
2.4. Các khía cạnh biểu hiện của đạo đức trong sử dụng lao động
Trong hoạt động tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự sẽ xuất hiện một vấn đề đạo
đức khá nan giải, đó là tình trạng phân biệt đối xử.
Phân biệt đối xử là việc không cho phép của một người nào đó được hưởng
những lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến về phân biệt. Biểu hiện ở phân
biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, vùng văn hoá, tuổi tác
Có những trường hợp cụ thể, sự phân biệt đối xử lại là cần thiết và không hoàn
toàn sai. Chẳng hạn như một người quản lý không bao giờ để tôn giáo trở thành
một cơ sở để phân biệt đối xử khi tuyển chọn nhân sự. Tuy nhiên, trong trường

hợp phải chọn nhân sự cho Nhà thờ đạo Tin lành thì việc để tôn giáo là một cơ
sở để lựa chọn là hoàn toàn hợp lý. Tương tự vậy, một nhà quản lý kiên quyết
chỉ phỏng vấn những phụ nữ để tuyển người cho vị trí giám đốc chương trình
giáo dục phụ nữ hoặc một người gốc Phi cho chương trình giáo dục người Mỹ
gốc Phi là hợp lý.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người quản lý dựa trên cơ sở phân biệt
đối xử để tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự. Quyết định của họ dựa trên cơ sở
người lao động thuộc một nhóm người nào đó, đặc điểm của nhóm người đó sẽ
được gán cho người lao động đó bất kể họ có những đặc điểm đó hay không và
dựa trên giả định là nhóm người này kém cỏi hơn nhóm người khác. Ví dụ, như
phụ nữ dường như không thể đưa ra được những quyết định hợp lý vì họ quá
thiên về tình cảm. Người da màu kém cỏi hơn người da trắng. Như vậy quyết
định của người quản lý dựa trên cơ sở phân biệt đối xử chứ không phải dựa trên
khả năng thực hiện công việc. Quyết định như vậy ảnh hưởng đến quyền lợi của
người lao động như vị trí, thu nhập
Một vấn đề đạo đức khác mà các nhà quản lý cần lưu ý trong tuyển dụng, bổ
nhiệm và sử dụng người lao động đó là phải tôn trọng quyền riêng tư cá nhân
của họ.
Để tuyển dụng có chất lượng, người quản lý phải thu nhập thông tin về quá khứ
của người lao động xem có tiền án tiền sự không, về tình trạng sức khoẻ xem có
thích hợp với công việc không, về lý lịch tài chính xem có minh bạch không
Đó là tính chính đáng của công tác quản lý. Song sẽ là phi đạo đức nếu người
quản lý từ thông tin thu thập được can thiệp quá sâu vào đời tư của người lao
động, tiết lộ bệnh án/(hồ sơ y tế), xuất bản về những vấn đề riêng tư của họ và
sử dụng tên của họ vì các mục đích thương mại khác.
Trong công tác tuyển dụng và sử dụng người lao động, trong một số trường hợp
cụ thể, với những công việc cụ thể (lái máy bay, lái tầu, điều khiển máy móc )
người quản lý phải xác minh người lao động có dương tính với ma tuý không,
hoạt động này hoàn toàn hợp đạo lý. Tuy nhiên, nếu việc xác minh này phục vụ
cho ý đồ cá nhân của người quản lý (để trù dập, để trả thù cá nhân, để thay thế

các quan hệ khác ) thì lại là vi phạm quyền riêng tư cá nhân và đáng bị lên án
về mặt đạo đức.
Một vấn đề đạo đức mà các nhà quản lý không thể xem nhẹ trong tuyển dụng,
bổ nhiệm và sử dụng người lao động đó là sử dụng lao động, sử dụng chất xám
của các chuyên gia nhưng không đãi ngộ xứng đáng với công sức đóng góp của
họ.
Đây là một hình thức bóc lột lao động để gia tăng lợi nhuận tiêu cực. Lợi nhuận
của một công ty luôn có tương quan với sự đóng góp của người lao động. Công
ty kinh doanh muốn gia tăng lợi nhuận thì nhất định phải quan tâm đến lợi ích
của người lao động trực tiếp làm ra của cải vật chất. Quan hệ chủ thợ sẽ tốt đẹp
nếu chủ nhân quan tâm tới lợi ích công nhân, ngược lại công nhân luôn lao động
tích cực và tìm cách gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.Đó là 2 vế tương hỗ
của một bài toán kinh tế, cần được xử lý một cách lành mạnh, phù hợp với
lợi ích của đôi bên.
2.5. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau:
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ
sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.
- Việc xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo
quản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu
nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải có luận chứng về các
biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của
người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật.
Danh mục các loại máy, thiết bị , vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn lao động, vệ sinh lao động do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ
Y tế ban hành.
2.6. Một số ví dụ về đạo đức
Ví dụ 1 : Giáo viên không dạy hết cho học trò khi lên lớp, giữ lại các phần bài
để dạy riêng trong các buổi học thêm . Sau đó ra bài kiểm tra bằng phần kiến
thức ấy để đánh đố những học sinh không đi học thêm ở nhà thầy cô.
Ví dụ 2 : Bác sĩ không chữa hết bệnh cho bệnh nhân. Họ cho thuốc theo kiểu

nuôi bệnh để cho bệnh nhân cứ phải đeo theo nộp tiền cho họ. Nếu bạn chữa
bệnh trong các bệnh viện chuyên khoa thì đã có các phác đồ điều trị và có bệnh
án kê đơn thuốc rõ ràng , có sự quản lý và chịu trách nhiệm của các cấp lãnh
đạo. Nhưng bệnh viện luôn quá tải. Người bệnh thì ngày càng đông do môi
trường sống ngày càng ô nhiễm. Các phòng mạch tư mọc lên như nấm. Bao
nhiêu bác sĩ trong số này còn y đức? Họ kê đơn thuốc không đọc được. Chia
thuốc theo từng liều gói sẵn cho bạn để bạn chả biết được đó là thuốc gì. Nếu
đơn kê đúng mà thuốc có là bột khoai nghiền đóng viên bạn cũng chịu, không
thể kiểm tra. Tinh vi hơn họ vờ không bán thuốc (để có vẻ là họ chỉ khám bệnh
và kê đơn thôi) nhưng chỉ định nhà thuốc buộc bạn phải mua ở đó để ăn chia
tiền mua thuốc của bạn với nơi bán thuốc rất rất nhiều bài bản để lừa người xui
quẩy bị bệnh.
Ví dụ 3 : Nếu bạn thuê thợ xây mà không biết gì về xây dựng hoặc không có
thời gian để giám sát họ sẽ ăn cắp của bạn hoặc là vật tư , hoặc là các công đoạn
thực hiện công việc. Ví dụ như sơn tường phải lăn 2 lần họ chỉ lăn 1 lần, họ có
thể ko đầm nền nhà của bạn trước khi lót gạch v v Nếu bạn thuê người giám
sát. Trong thời gian thi công thợ xây dựng sẽ mời giám sát của bạn đi nhậu Họ
thành anh em với nhau và sẽ không "phản bội" nhau nữa. Vả lại bạn là người có
tiền để xây nhà, bạn là người giàu. Không thể đáng thương bằng những người
lao động kia được. Đó có phải là một kiểu "quan điểm giai cấp" không nhỉ? Có
người nói vì là bạn ôm đồm.
2.7. Nhận xét và đánh giá
Từ những ví dụ trên chung ta thấy được rằng đạo đức đối với việc sử dụng lao
động vô cùng quan trọng. Xã hội ở bất cứ thời điểm nào cũng cần những người
vừa có đức vừa có tài. Như ở ví dụ 1, ban lãnh đạo nhà trường nói chung hay
giáo viên nói riêng đang sử dụng ko đúng nguồn lao động. hay nói cách khác ko
có đạo đức trong sử dung lao động. Còn ví dụ thứ 2. Chúng ta thường xem bác
sỹ là thánh sống, một người có đạo đức, nhưng cuộc sống càng phát triển, đạo
đức dần dần ko được coi trọng, thầy thuốc trở thành nhà kinh doanh tài ba. Còn
ở ví dụ 3 thì lao động bị ăn bớt, cắt xén cong trình. Ở bất kỳ lĩnh vực nào của

công việc, lao động, càng đi sâu vào bên trong càng thấy những hành động vô
đức- vô đạo đức trong sử dụng lao động.Cần phải có một sự thay đổi trong cách
suy nghỉ của người sử dụng lao động để đất nước phát triển hơn, trong sạch
hơn.
PHẦN KẾT BÀI
Sau khi tìm hiểu về đề tài chúng đã thấy được tầm đươc tầm quan trọng
của đạo đức trong các lĩnh vực nói riêng và với việc sử dụng lao động nói riêng.
Những yếu tố trên đây (hoàn cảnh sống, hoạt động và tự giáo dục, rèn luyện) có
quan hệ tác động lẫn nhau, trong đó hoạt động cá nhân người công nhân lao
động và tự tu dưỡng có ý nghĩa trực tiếp quyết định sự hình thành và phát triển
ý thức đạo đức, phát triển phẩm chất đạo đức của công nhân lao động và người
sử dụng lao động.

Từ đó giúp nhóm em có quan điểm, phương pháp xem xét, đánh giá đúng đắn
mặt tích cực và mặt tiêu cực trong đời sống tâm lý, ý thức đạo đức, lối sống của
công nhân lao động, có biện pháp chủ trương thích hợp để bồi dưỡng phát huy
mặt tích cực, tiến bộ, đấu tranh khắc phục những yếu kém, tiêu cực ảnh hưởng
đến quá trình hình thành phẩm chất đạo đức.

Mặt khác chúng em mong muốn tất cả mọi người cần giáo dục cho công nhân
lao động nhận rõ yêu cầu phát triển kinh tế đất nứơc, yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vai trò và vị trí của giai cấp công nhân
Việt Nam, để công nhân lao động tự giác rèn luyện mình theo yêu cầu xây
dựng đội ngũ công nhân Việt Nam, nhằm phát huy tính tích cực phục vụ tốt
nhất cho quá trình phất triển kinh tế đất nước.

×