NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÓI MÒN TRÊN LƯU VỰC
HỒ TRỊ AN
TS. LƯƠNG VĂN THANH
ViÖn Khoa häc Thñy lîi MiÒn Nam
Tãm t¾t: Hồ Trị An là một công trình điều tiết nước lớn nhất trên hệ thống sông Đồng Nai – La
Ngà với diện tích lưu vực vào khoảng 15.000 km
2
và địa hình xen kẽ đồi núi và đồng bằng. Lượng
mưa hàng năm trong lưu vực vào khoảng 2.000 mm gây ra hiện tượng xói mòn khá cao đối với các
vùng đất dốc và gây ảnh hưởng tới chất lượng đất, nước và khả năng an toàn hồ chứa trong lưu
vực.
Sử dụng nguồn tài liệu hiện có về đặc tính của đất, lượng mưa, thủy văn và ảnh viễn thám tác giả
đã sử dụng phương pháp mô hình để tính toán các hệ số xói mòn và xây dựng bản đồ phân vùng độ
dốc, hướng dòng chảy, bản đồ hình thái, bản đồ thảm phủ, bản đồ xói mòn đất và phân vùng mưa.
Sử dụng phương pháp giải đoán ảnh viễn thám để xây dựng bản đồ hiện trạng xói mòn đất của lưu
vực hồ Trị An phục vụ yêu cầu phát triển bền vững kinh tế-xã hội, an toàn hồ chứa và bảo vệ môi
trường.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hồ Trị An có một lưu vực rộng lớn (gần
15.000 km
2
) có địa hình đồi núi xen kẽ đồng
bằng và với lượng mưa trung bình hàng năm
của toàn lưu vực khoảng 2000mm nên vấn đề
xói mòn đất trên bề mặt là khá lớn và rất quan
trọng đối với công tác sản xuất nông nghiệp,
quản lý các hồ chứa và bảo vệ môi trường. Hiện
trạng xói mòn đất bề mặt trên lưu vực phụ thuộc
nhiều vào các yếu tố như: thảm phủ thực vật,
lượng mưa và cường độ mưa, loại đất, độ dốc
bề mặt, hướng dốc và chiều dài dốc, phương
pháp canh tác,… Kết quả nghiên cứu xói mòn
trên toàn lưu vực, lập bản đồ hiện trạng xói mòn
mang ý nghĩa quan trọng trong công tác chỉ đạo
sản xuất, bảo vệ an toàn các hồ chứa trên lưu
vực, bảo vệ môi trường đất và quản lý đất đai
trên vùng đất rộng lớn và nhiều tiềm năng của
miền Đông Nam Bộ.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
Hiện tượng xói mòn đất bề mặt đã được
nghiên cứu từ những năm 1940 bằng việc sử
dụng phương trình mất đất phổ dụng được sử
dụng để tính toán lượng đất mất đi do xói mòn.
Trong phương trình này, lượng đất xói mòn
hàng năm được tính toán dựa trên cơ sở đánh
giá sự ảnh hưởng của các yếu tố: mưa, khả năng
xói mòn do cấu tạo đất, chiều dài sườn dốc và
độ dốc sườn cũng như thông số về hệ lớp phủ
thực vật và phương pháp canh tác đất. Phương
trình mất đất phổ dụng do Wishmeier và Smith
đề xuất được tính toán theo công thức sau:
A = R×K×L×S×C×P
A Luợng mất đất trung bình trên một đơn vị
diện tích trong năm, đơn vị A phụ thuộc
xác định đơn vị biểu diễn K, R. Trên thực
tế tính toán đơn vị A tính là [tấn/ha]
R Hệ số mưa/chảy tràn, là hệ số đánh giá
năng lượng mưa và dòng chảy tràn.
K Hệ số xói mòn đất - tỉ lệ mất đất trên một
đơn vị diện tích đối với diện tích đặc biệt
có chiều dài sườn 22,1m và nghiêng đều
với độ dốc 9% (≈5
o
).
L Hệ số chiều dài sườn, là tỉ lệ mất đất của
sườn thực tế so với sườn dài 22,1m và
nghiêng đều với độ dốc 9% (≈5
o
).
S Hệ số độ dốc là tỉ lệ lượng đất mất ở một
độ dốc thực tế so với sườn có độ dốc 9%
(≈5
o
).
C Hệ số lớp phủ là tỉ lệ lượng đất mất của
một diện tích trên thực tế với diện tích
trong điều kiện xác định và dòng chảy liên
tục. C=1 khi đất trơ trọi.
P Hệ số canh tác hay hệ số cách làm đất là tỉ
lệ lượng đất mất từ thực tế với lượng đất
mất với cách làm đất thích hợp.
1
Sử dụng phương pháp mô hình hoá, phần
mềm GIS và nguồn tài liệu thu thập từ ảnh viễn
thám, tài liệu khí tượng thủy văn, địa hình, thổ
nhưỡng và sử dụng đất để xây dựng các bản đồ
thành phần biểu diễn các thông số R, K, L, S. C
và P từ đó tổng hợp được bản đồ hiện trạng xói
mòn.
2.2 Sử dụng GIS và ảnh viễn thám để
xây dựng bản đồ xói mòn
Phương pháp kết hợp kỹ thuật GIS và xử lý
tư liệu viễn thám (Remote sensing) là phương
pháp mới, hiệu quả trong nghiên cứu xói mòn,
phương pháp này đã được ứng dụng phổ biến ở
rất nhiều nước tiên tiến trên thế giới và bước
đầu đã có thành công ở Việt Nam.
Phương pháp mô hình hóa địa hình (DEM):
một phương pháp đang được sử dụng rộng rãi
trong việc xây dựng mô hình độ cao địa hình
ngoài thực tế, nhờ DEM chúng ta có thể phân
tích các chỉ số về địa hình và địa mạo cũng như
phân tích các thông số mạng dòng chảy vv Cơ
sở phương pháp là dựa trên sự hiểu biết quan hệ
giữa sóng điện từ (EMR) và lớp phủ đất. Trong
nghiên cứu, phương pháp viễn thám sử dụng
không trực tiếp như một công cụ tính toán dữ
liệu vào cho mô hình xói mòn mà tư liệu ảnh vệ
tinh sau khi xử lý được liên kết trong dữ liệu
GIS nhằm mô tả đặc điểm các yếu tố bề mặt địa
hình.
Cơ sở tài liệu gồm có: (i) bản đồ nền:
bản đồ UTM tỉ lệ 1:250.000, (ii) Ảnh vệ
tinh Landsat ETM+ (Landsat Enhanced
Thematic Mapper Plus) năm 2002 với
độ phân giải 30mx30m. Phần mềm sử
dụng cho tính toán gồm: (i) phần mềm
xử lý dữ liệu vector dùng PC AR/INFO
3.5, MapInfo 6.0; Xử lý dữ liệu ảnh vệ
tinh bằng phần mềm Idrisi 3.2 và xử lý
phân tích số liệu dùng Excel 7.0.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Từ các kết quả phân tích dữ liệu đã thu thập
để nội suy xây dựng mô hình DEM cho lưu vực
hồ Trị An nhằm tính toán thiết lập được bản đồ
địa hình và phân loại địa hình theo độ cao, độ
dốc cho toàn lưu vực. Trên cơ sở bản đồ phân
loại địa hình được xây dựng sẽ tiến hành thành
lập các bản đồ xói mòn thành phần như đã đề
cập trong mục 2.1.
3.1 Thiết lập bản đồ độ dốc
Bản đồ độ dốc là bản đồ thể hiện độ dốc địa
hình từng điểm trên diện tích nghiên cứu. Sự
thay đổi độ cao địa hình về hai hướng x,y là
một thông số để xác định hướng sườn và độ lớn
độ dốc địa hình tại một điểm. Ở đây coi bề mặt
địa hình Z như là một hàm số của hai tọa độ
(x,y), có thể biểu diễn Z=f(x,y).
e là thông số thể hiện sự thay đổi độ cao địa
hình theo phương y (đạo hàm địa hình theo
phương y) .
d là thông số thể hiện sự thay đổi độ cao địa
hình theo phương x (đạo hàm địa hình theo
phương x)
Sự biến đổi địa hình theo hai phương kết hợp
được thể hiện như phương trình sau:
Như vậy, độ dốc tại một điểm trên địa hình
có thể tính toán như sau:
Bản đồ độ dốc có thể tính toán theo hai dạng:
(i) bản đồ góc dốc mỗi mắt lưới tính theo độ (
o
)
và (ii) bản đồ độ dốc mỗi mắt lưới tính theo
phần trăm dốc (%). Trong tính toán xói mòn có
2
(1)
thể sử dụng cả hai dạng bản đồ trên. Kết quả tính toán độ dốc từ mô hình DEM tỉ lệ
1:250.000 cho kết quả như trong bảng 1.
3
Bảng 1. Phân bố độ dốc trên lưu vực hồ Trị An
Độ dốc (
o
) Diện tích (km
2
) Độ dốc (
o
) Diện tích (km
2
)
Bằng phẳng 5297.047 20-25 428.584
0-5 4834.414 25-35 313.663
5-10 2102.573 35-45 49.415
10-15 1150.922 >45 23.688
15-20 729.694
Kết quả tính toán mô hình cho thấy
3.2 Thiết lập bản đồ hướng dòng chảy:
Bản đồ hướng dòng chảy là bản đồ thể hiện
hướng dòng chảy trên bề mặt sườn
Theo công thức tính e và d đã trình bày trong
mục 3.1 ta có thể tính toán đại lượng hướng
nghiêng dòng chảy theo công thức (2):
)arctan(
d
e
aspect =
(2)
Trên ma trận điểm DEM, phần mềm Idrisi sẽ
tính toán góc hướng sườn cho từng
3.2 Xây dựng bản đồ hệ số hình thái
Trong tính toán xói mòn đất thường hai hệ số
L, S được kết hợp thành một hệ số duy nhất
theo công thức (3), (Wischmeier và Smith,
1978).
Trong đó: λ: chiều dài sườn, đơn vị met;
ξ =0.4 nếu độ dốc từ 3.5 ÷ 5%;
S: sin góc dốc bề mặt địa hình;
ξ = 0.3 nếu độ dốc từ 1 ÷ 3%;
ξ = 0.5 nếu độ dốc > 5%;
ξ = 0.2 nếu độ dốc < 1%.
Như vậy, qua việc đánh giá thông số LS ta
có thể xác định được nguy cơ xói mòn cho từng
vị trí. Khu vực có chiều dài sườn lớn và độ dốc
cao (giá trị LS lớn) sẽ xói mòn mạnh hơn khu
vực có chiều dài sườn ngắn và độ dốc thấp.
Biểu đồ biểu thị mô hình tính hệ số hình thái
LV HTA được thể hiện trong Hình 1 với trục
tung thể hiện tần suất và trục hoành biểu thị giá
trị hình thái (LS) của lưu vực.
Hình
Biểu đồ phân bố chủ yếu phần diện tích bằng
phẳng của các vùng trũng, đồng
3.3 Thiết lập bản đồ hệ số lớp phủ
4
(3)
Độ che phủ đất có ý nghĩa quyết định tới
lượng đất bị xói mòn. Nguyên nhân chủ yếu gây
ra xói mòn đất ở vùng nhiệt đới và ở nước ta là
do nước mưa. Mưa với cường độ lớn đã tạo ra
các dòng chảy bề mặt làm bào mòn bề mặt đất.
Xói mòn đất xảy ra rất mạnh ở những nơi đất
dốc và lớp phủ thực vật nghèo nàn. Do vậy, để
thiết lập bản đồ hiện trạng xói mòn LVHTA cần
thiết phải xây dựng bản đồ hệ số lớp phủ thực
vật.
Bề mặt trái đất được phủ bởi nhiều chủng
loại thực vật khác nhau, dữ liệu thực vật được
quan tâm nhiều từ ảnh vệ tinh nằm trong những
kênh thấy được, cận hồng ngoại và giữa hồng
ngoại. Những áp dụng viễn thám trong nghiên
cứu thực vật để theo dõi sự phân bố các chủng
loài và những điều kiện phát triển của chúng.
Phổ của thực vật gồm hai dạng thông thường:
thực vật phát triển và cây khô. Phổ của thực vật
phát triển có chiều dài sóng dưới 800nm thì có
sự phản xạ thấp. Tán lá có độ phản xạ thấp
trong phần thấy được của phổ điện từ. Trong
phần cận hồng ngoại, tán lá có sự phản xạ cao,
với sự chuyển tiếp rất nhanh giữa vùng màu đỏ
và cận hồng ngoại ở ≈ 750nm. Điều này cho
thấy sự khác nhau hoàn toàn từ sự phản xạ của
các vật chất trên trái đất (Hình 2).
Như vậy, sự hấp thu cao ở kênh phổ xanh
dương (0.43µm) và kênh phổ đỏ (0.6µm), cũng
như sự phản xạ cao ở kênh phổ cận hồng ngoại
(0.75-1,1µm) đánh dấu sự khác nhau về phổ của
các thực vật.
Dựa trên sự phản xạ khác nhau mà màu xanh
của thực vật được thể hiện giữa kênh phổ thấy
được và kênh phổ cận hồng ngoại. Chỉ số thực
vật NDVI (Normalized Difference Vegetation
Index) được tính toán theo công thức:
NDVI = (NIR-Vi) / (NIR+Vi) (4)
Trong đó: NIR : kênh cận hồng ngoại
Vi : kênh thấy được ở đây
thường là kênh đỏ (Red)
Giá trị của NDVI là dãy số –1 đến +1. Giá trị
NDVI thấp thể hiện nơi đó NIR (near infrared)
và Vi (visible) có độ phản xạ gần bằng nhau,
cho thấy khu vực có độ phủ thực vật thấp, trong
khi những khu vực có giá trị NDVI cao thì nơi
đó NIR có độ phản xạ cao hơn độ phản xạ của
Vi cho thấy khu vực đó có độ phủ thực vật tốt.
Còn NDVI có giá trị âm chỉ cho thấy ở đó Vi có
độ phản xạ cao hơn độ phản xạ của NIR, nơi
đấy không có thực vật.
5
Chiu di súng (nm)
Hỡnh 2. Ph phn x ca t, thc vt phỏt trin v cõy khụ
Chỳ thớch: t thc vt phỏt trin cõy khụ
Din tớch khụng cú lp ph chng xúi mũn
xy ra ln nht, khi ú h s C s bng 1.
xỏc nh chớnh xỏc h s C cho tng din tớch
c th cn cú nhng quan trc lõu di, õy
mt s thụng s c tham kho t cỏc cụng
trỡnh khỏc. X lý nh v tinh landsat ETM +
nm 2002, chn phõn gii nh l 30m tng
ng vi phõn gii DEM. Tớnh ch s NDVI
cho LVHTA. Trong phn mm IDRISI x lý
theo trỡnh t: Analysis Image Processing
VEGINDEX NDVI. Kt hp nghiờn cu
ngoi thc a, kim chng tỡm mó khúa v
tham kho mt s cụng trỡnh khỏc thỡ s tng
ng h s C LVHTA c tớnh nh trong
bng 2.
Kt qu phõn tớch H s thm ph (C ) t
Bng 2. Phõn chia i tng thc vt v cỏc h s thm ph
Loi i tng Ch s NDVI H s C
Rng tỏi sinh, rng trng. > 0.4 0,008
Cõy cụng nghip lõu nm 0.3-0.4 0.08
Cõy cụng nghip mi trng (1-2 nm), cõy ngn ngy
(mỡ, u phng, ngụ )
0.2-0.3 0.5
t trng < 0.2 0.8
Nc, ao, h < 0 0
Bng
H s C Din tớch (km
2
) H s C Din tớch (km
2
)
0 2.746,6 0,5 2.815,2
0,008 1.539,0 0,8 3.947,0
0,08 3.882,2
3.4 Thit lp bn h s xúi mũn t
(K)
Cu trỳc, thnh phn c gii v mựn ca t
cng l nhng yu t quan trng nh hng n
6
ẹoọ phaỷn xaù
quá trình xói mòn đất, đất có liên kết vững chắc
thì quá trình xói mòn ít, ngược lại đất có cấu tạo
bở rời thì quá trình xói mòn sẽ xảy ra nhanh
hơn. Việc xác định hệ số K cho mỗi loại đất đòi
hỏi phải có một quá trình quan sát lâu dài và
thực nghiệm công phu.
Kết quả nghiên cứu một số công trình trong
và ngoài nước cho thấy K phụ thuộc nhiều vào
thành phần độ hạt cát, sét, bột và chất hữu cơ
chứa trong chúng. K được tính như sau:
100K = 2,1 M
1.14
(10
-4
)×(12 - a)+3,25(b-2)+2,5(c-3) (5)
M= (% bột + cát mịn)×(100 - %sét)
a: % chất hữu cơ; b: hệ số cấu trúc đất; c:
tính thấm.
Dựa vào công thức trên và biểu đồ xác định
các nhân tố gây xói mòn đất ta tính được hệ số
xói mòn đất trung bình KTB cho các loại đất
như trong bảng 4.
Bảng 4. Giá trị tính xói mòn của đất (hệ số K) cho các loại đất
TT Tên đất Kí
hiệu
K
TB
theo
toán đồ
TT Tên đất Kí
hiệu
K
TB
theo
toán đồ
1 Đất cát Cc 0,19 14 Đất phèn hoạt động Sj 0.43
2 Đất cát biển Cd 0.01 15 Đất phèn tiềm tàng lợ Sp 0.68
3 Đất đá bọt diển hình Rk 0,48 16 Đất phù sa P 0.67
4 Đất đỏ và xám nâu Nk 0,23 17 Đất phù sa chua Pc 0.41
5 Đất glây chua Glc 0,51 18 Đất phù sa có đốm rỉ Pr 0.25
6 Đất lầy Glu 0.38 19 Đất phù sa glây Pg 0.30
7 Đất mặn nhiều Mn 0.03 20 Đất xám có tầng loang lổ X4 0,25
8 Đất mặn sú vẹt Mm 0.04 21 Đất xám feralit
Xf
0.23
9 Ñaát maën trung bình M 0.035 22 Đất xám glây Xg 0.57
10 Đất mùn alit trên núi A 0,15 23 Đất xám mùn trên núi Xh 0.19
11 Đất nâu đỏ Fd1 0.22 24 Đất xói mòn trơ sỏi đá E 0.78
12 Đất nâu thẫm trên núi Ru 0.56 25 Sông hồ Da
13 Đất nâu vàng
Fx
0.65 26 Cồn cát đỏ C 0.34
Giá trị K đặc trưng khả năng xói mòn của
đất, K của đất càng lớn thì khả năng xói mòn
của đất ấy càng cao. Đất có K cao nhất
(C=0,78) là đất xói mòn trơ sỏi đá, với các điều
kiện chất hữu cơ thấp. Từ kết quả tính ta xây
dựng được bản đồ hệ số xói mòn đất (K) cho
vùng LVHTA.
3.5 Tính toán hệ số mưa
Hệ số xói mòn do mưa (R
Tại các nơi có giá trị R cao, khả năng diễn ra
các quá trình xói mòn mạnh do
Phương trình quan hệ:
SS = 18,541*R – 113,07 Với r = 0,92 (6)
Trong đó:
- SS: khối lượng vật liệu trầm tích
thoát khỏi lưu vực (tấn)
- R: lượng mưa (mm)
Dựa vào mối quan hệ tuyến tính của các đại
lượng của hình 3-3 cho thấy lượng mưa và
cường độ mưa càng lớn thì xói mòn đất và dòng
chảy mặt tăng lên, lượng vật liệu bị cuốn trôi
càng lớn hơn. Hệ số tương quan giữa hai đại
lượng này có ý nghĩa lớn trong việc tính toán
lượng đất thoát khỏi lưu vực cho từng cơn mưa
và tổng các cơn mưa trong năm.
7
3.5 Xây dựng bản đồ hiện trạng
xói mòn LVHTA
Bản đồ hiện trạng xói mòn thể hiện được
mức độ xói mòn đất có thể đạt tối đa tại các vị
trí khác nhau trên diện tích nghiên cứu.
Dựa trên kiến thức về GIS và Viễn thám
cùng với kinh nghiệm điều tra và nghiên cứu
xói mòn tại một vài khu vực của lưu vực, chúng
tôi đã tiến hành xây dựng mô hình số độ cao
DEM của lưu vực, để từ đó đưa ra bản đồ hiện
trạng xói mòn có kiểm chứng từ các mô hình
nghiên cứu xói mòn chi tiết tại các tiểu lưu vực
Bình Phước và Đồng Nai. Dựa vào chỉ tiêu
phân tích đánh giá mức độ xói mòn, kết quả
đánh giá hiện trạng độ xói mòn để từ đó xây
dựng được bản đồ hiện trạng xói mòn của toàn
LVHTA và tổng hợp kết quả phân loại xói mòn
theo diện tích được thể hiện trong bảng 5.
Bảng 5. Kết quả phân cấp cường độ xói mòn lưu vực hồ Trị An
Cường độ xói mòn (tấn/ha/năm) Diện tích, km
2
Tỷ lệ % Mức độ xói mòn
Vùng tích tụ hoặc không bị xói mòn 8.717,1 58,2
0-25 1.325,6 8,9 Yếu
25-50 613,6 4,2 Trung bình yếu
50-100 736 4,9 Trung bình khá
100-150 739,1 5,0 Mạnh
150-200 399,6 2,7 Rất mạnh
>200 2.399 16,1 Nguy hiểm
3.6 Nhận xét chung
Trong toàn lưu vực, vùng tích tụ hoặc không
bị xói mòn chiếm đa phần diện tích (58,2%).
Diện phân bố của cấp xói mòn này chủ yếu ở
phần hạ lưu của lưu vực Bình Dương, Đồng Nai
và phân bố tại các nơi có điều kiện bề mặt địa
hình bằng phẳng bao gồm các đỉnh đồi, hoặc
các đáy thung lũng các tiểu lưu vực như Bình
Dương, Tây Bắc Đắc Nông. Xói mòn yếu (cấp
1, từ 0 ( 25tấn/ha/năm) chiếm 8,9%. Các khu
vực này độ độ dốc nhỏ, địa hình tương đối bằng
phẳng và phân bố ở các nơi thấp, thung lũng.
Do đó, động năng dòng nước gây xói mòn cũng
giảm đáng kể do ảnh hưởng của yếu tố địa hình
này.
Diện tích phân bố các dạng xói mòn từ trung
bình yếu đến rất mạnh, từ cấp 2 đến cấp 5 (25-
200 tấn/ha/năm) chiếm diện tích thấp, khoảng
16,8% tổng diện tích lưu vực. Loại xói mòn này
phân bố chủ yếu phần trung lưu của lưu vực,
nơi có điều kiện địa hình tương đối thoải, độ
dốc từ 5 đến 20
o
, cùng với các điều kiện về
lượng mưa tương đối lớn (>1500mm) và điều
kiện thảm phủ thay đổi từ dạng rừng tái sinh,
rừng trồng (cây công nghiệp ngắn ngày đến các
loại cây công nghiệp dài ngày). Xói mòn 25-
50tấn/ha/năm (cấp 2) phân bố chủ yếu ở Đa
Hoai (kéo dài từ Đông sang Tây), vùng giáp
ranh giữa Đồng Phú (Bình Phước) và Tân Phú
(Đồng Nai), Đắc Rlap. Xói mòn 100-
200t/ha/năm phân bố rải rác một số nơi của
Vĩnh Cửu, Bù Đăng.
Diện tích phân bố mức xói mòn nguy hiểm
lớn (xói mòn cấp 6), chiếm 16,1% tổng diện
tích lưu vực, phân bố chủ yếu phần thượng lưu
của lưu vực. Loại xói mòn này phân bố chủ yếu
ở các vùng Đa Hoai, Đức Linh (Bình Thuận);
Di Linh, Đơn Dương, Đà Lạt (Lâm Đồng); Tân
Phú (Đồng Nai); Bù Đăng (Bình Phước) và các
phần thuộc Đắc Lắc. Mức xói mòn này chủ yếu
xảy ra trên các khu vực có địa hình phân cắt sâu
lớn, các vùng có độ dốc lớn (>20o) cùng với
điều kiện lượng mưa khu vực lớn (>1.800mm).
Đặc biệt, tại các khu vực điều kiện thảm phủ
mất như một số khu vực đất trống đồi núi trọc ở
Bù Đăng, của Bình Phước; Tân Phú (Đồng
Nai); Đức Linh (Bình Thuận); Đức Trọng, Đơn
Dương (Lâm Đồng).
Nhìn chung, nếu xét từ phía Nam lên phía
Bắc (thượng nguồn) thì ta thấy cường độ xói
mòn tăng dần. Các vùng phía hạ lưu, địa hình
8
bằng phẳng và lượng mưa ít thì có mức xói mòn
thấp, càng chuyển lên phía thượng nguồn, độ
dốc tăng dần, độ cao địa hình nâng cao và
lượng mưa lớn nên xói mòn tiềm năng càng
tăng, và xói mòn cao nhất tại các vùng thượng
lưu có địa hình dốc và điều kiện thảm phủ thấp.
Kết quả tính toán độ xói mòn qua mô hình đã
nêu cho thấy phù hợp với các điều kiện khảo sát
thực tế của lưu vực.
Các khu vực có mức độ xói mòn mạnh và
nguy hiểm (>150 tấn/ha/năm) cần có các chính
sách quản lý và khai thác tài nguyên đất thích
hợp. Đặc biệt, đối với các khu vực đang phát
triển nông nghiệp cần tiến hành các biện pháp
kỹ thuật chống xói mòn và bảo vệ đất. Các khu
vực có độ dốc lớn (>25
o
) nhất định phải duy trì
rừng nguyên sinh (nếu có), hoặc nuôi trồng
rừng và bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Cần ngăn
chặn việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất
lâm nghiệp sang đất nông nghiệp hoặc từ lâm
nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản phổ biến hiện
nay vì chúng là nguyên nhân thúc đẩy các quá
trình xói mòn và thoái hoá môi trường đất ngày
càng trầm trọng hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Huỳnh Tấn Đạt và Thái Lê Nguyên, 2004. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng xói mòn và tác động
của dioxin tới môi trường đất lưu vực hồ Trị An. Báo cáo chuyên đề của đề tài: “Đánh giá ảnh
hưởng hiện nay của chất độc hoá học đối với môi trường hồ Trị An - Đề xuất các giải pháp khắc
phục”.
[2] Lương Văn Thanh và cs., 2004. Đánh giá ảnh hưởng hiện nay của chất độc hoá học đối với môi
trường hồ Trị An - Đề xuất các giải pháp khắc phục. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Nhà
nước. Chương trình 33.
Summary
RESEARCH AND EVALUATION OF EROSION IN TRI AN CATCHMENT
Dr. LUONG VAN THANH
Southern Institute of Water Resources Research
Tri An reservoir is the last water control works of the Dong Nai and La Nga river system with
the catchment about 15,000 km
2
and the topography of alternate hills, mountains and plain. The
annual rainfall in the catchment is about 2,000mm causing high erosion for slopy areas to affect
the soil, water quality and security of the reservoirs in the catchment.
Based on the satellite image and data set of soil characteristics, rainfall, and hydrology the
author use the modellization procedure to compute erosion coefficients and build the zonning maps
of slope, flow directions, geomorphology, plant covering, land erosion and rainfall. Using the GIS
method to compute and build a status quo of land erosion of all Tri An catchment for the purposes
of sustainable socio-economic development, reservoir security and environmental protection.
9
Người phản biện: PGS. TS. Nguyễn Quang Kim
10