Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Rạn san hô ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (600.05 KB, 7 trang )

Download» Agriviet.com
CORAL REEF
Coral: san hô
Reef: đá ngầm, vóa, rạn

Rạn san hô được hình thành từ võ của một loài động vật nhỏ sống ở biển, được
gọi là coral polyps. Khi coral polyps sống thành nhóm, thì gọi là tập đoàn (coral
colony).Khi polyps chết, con mới sẽ mộc trên đỉnh của các võ trống cũ. Theo thới
gian, tập họp của một nhóm các võ cũ và mới của tập đoàn san hô tạo thành một
cấu trúc giống như đá gọi là rạn san hô (coral reef). Mặc dù rạn san hô giống như
một khối đá lớn, nhưng trên bề mặt chúng vẫn là tập đoàn san hô đang còn sống
Rạn san hô có thể phát triển thành một cấu trúc rất lớn. Phần lớn rạn san hô
thực sự là một dãi của nhiều rạn khác nhau và dài đến 1 - 2 km hay 10 - 20 km.
Rạn san hô dài nhất thế giới ở Australia: Great Barrier Reef, 2.000 km.
Coral polyps xây dựng rạn san hô rất chậm. Điều này tùy thuộc vào loài coral
polyps và vò trí chúng đang sống, tính trung bình khoãng 250 năm để coral polyp
xây dựng được 1m rạn. Như vậy rạn san hô lớn nhất thế giới bắt đầu xây dựng từ
40 triệu năm trước đây. Nó là hệ sinh thái xưa nhất của trái đất.
Coral polyps chỉ có thể phát triển trong vùng biển cạn, sạch và ấm. Vài quốc
gia có điều kiện thích hợp cho san hô phát triển là: Australia, Japan, the United
States, the Philippines, Indonesia, the Red Sea, the Caribbean, Thailand, Malaysia
and the South Pacific and Micronesian countries. Coral reefs ở các nơi đó chiếm
một diện tích 600.000 km2. Chỉ riêng Philippines, coral reefs chiếm 44.000 km2.
Có rất nhiều loài coral polyps khác nhau trên thế giới. Tại Philippines đã xác đònh có
trên 488 loài. Mỗi loài coral polyp hình thành các dạng coral colony khác nhau.
Kết quả của nhiều loại coral polyp sống gần nhau tạo rạn làm ta nhìn thấy rạn như là
một khối hổn độn của nhiều hình dáng khác nhau: khe, lổ, ống, vóa, thềm
Nhiều loài động vật khác nhau: cá, nhuyễn thể, giáp xác … nhanh chóng tìm được chổ
sống thích hợp trong rạn san hô. Nhiều loại thực vật khác nhau cũng phát triển trên đó.
Như vậy, rạn san hô trở nên một cộng đồng của rất nhiều loài động thực vật khác nhau
và ta gọi đó là hệ sinh thái rạn san hô (coral reef ecosystem)


• Dạng cành (branch)
• Dạng bàn (tabulate)
• Dạng phủ (encrusing)
• Dạng khối (massive)
• Dạng gần khối (semi massive)
• Dạng lá (Folliosa)
• Dạng nấm (Mushroom)
Download» Agriviet.com

Trong một phần nhỏ của rạn san hô, chúng ta thấy có rất nhiều loài sinh vật
khác nhau tồn tại trong đó, ta gọi nơi đó có tính đa dạng sinh học rất cao (high
diversity). Đa dạng sinh học là một từ có tính tương đối, nó mô tả có nhiều loài
sinh vật sống trên một diện tích nhất đònh.
Rạn san hô cũng có sức sản xuất rất cao. Nếu không có sự can thiệp, gây
thương tổn… rạn san hô là hệ sinh thái có sức sản xuất cao nhất trên trái đất.
Người ta ước tính 1 km2 rạn san hô có thể hổ trợ cho 30 tấn cá mổi năm, đủ cá cho
600 người.
Hệ sinh thái rạn san hô rất đa dạng và có năng suất cao vì chúng có nhiều loài
sinh vật cùng tồn tại trên đó, chúng phụ thuộc và có mối quan hệ tương tác với các
loài khác. Nếu bất kỳ mối quan hệ nào trong đó bò đứt gãy, sự đa dạng và sức sản
xuất của hệ sinh thái sẽ bò đổ vỡ. Vì vậy, người ta gọi hệ sinh thái rạn san hô rất
mõng manh
Imagine a very busy car factory with many employees all working on making
different parts….
The coral reef ecosystem is like a fish and marinelife-factory…
Khi rạn san hô phát triển, chúng hình thành 3 dạng khác nhau. Đó là: đường
viền (fringing reefs), rào chắn (barrier reefs) rạn san hô vòng (atolls). Sự khác biệt
chủ yếu của mỗi dạng là khoãng cách giữa rạn san hô và đường bờ biển.
Fringing reefs
phát triển rất gần đường bờ. Khoãng cách giữa rạn và đường bờ

gọi là bãi rạn (reefflat). Lúc triều lên, bãi rạn thường ngập nước, lúc triều xuống,
bãi rạn thường bày khô. San hô phát triển tốt hơn ở mặt ngoài của rạn, nơi tiếp xúc
trực tiếp với đại dương. Mặt này gọi là mặt trước rạn (reef front).
Download» Agriviet.com
Barrier reefs phát triển hơi xa đường bờ. Khoãng nước giữa đường bờ và rào
chắn được bảo vệ bởi rạn. Nó thường cạn và yên tỉnh,… giống như trong một ao
nước tỉnh, được gọi là lagoon. San hô có thể phát triển ở mặt trước rạn cũng như
trong lagoon. Rạn rào chắn hoạt động như một bức tường bảo vệ lagoon bên trong.
Lagoon có thể là nơi tàu thuyền nằm tránh sóng.
San hô vòng (Atolls) phát triển dạng hình tròn. Bên trong đường tròn đó là
lagoon. Thông thường san hô vòng phát triển rất xa các đảo lớn và thềm lục đòa,
chúng cũng thường có bãi cát hẹp và các cây cọ mọc trên đó. San hô có thể phát
triển bên ngoài và bên trong rạn san hô vòng.


TẦM QUAN TRỌNG
Rạn san hô cung cấp cho sinh vật biển nơi ở, môi trường sống, và sự bảo vệ
Rạn san hô cung cấp cho con người thực phẩm, môi trường kiếm sống, tiền bạc
và bảo vệ khỏi sóng biển, du lòch, nghiên cứu…
Tại Philippines, rạn san hô cung cấp protein cho 30 triệu người dân ven biển
(1/2 dân số)
Các hệ sinh thái
Hệ sinh thái rạn san hô có mối quan hệ quan trọng (gần gũi) với các hệ sinh
thái gần chúng: bãi biển, rừng ngập mặn, cỏ biển, rong biển…. Các hệ sinh thái
này cùng hoạt động để duy trì sự đa dạng, sức sản xuất và cân bằng sinh thái rong
toàn khu vực.
Nếu một hệ sinh thái bò xáo trộn, phá hủy thì các mối quan hệ bò phá vở, các hệ
sinh thái còn lại có thể bò phá hủy.
Download» Agriviet.com
Các mối tương tác

Bãi cát ven biển với thực vật phát triển trên đó giữ nhiệïm vụ bảo vệ cho rạn
san hô:
1) lọc những chất lắng tụ (sediment)
2) bảo vệ sự xói lỡ bờ biển.
Rừng ngập mặn
1) bảo vệ sự xói ỡ bờ biển;
2) nơi sống cho các sinh vật biển còn non
3) cung cấp thực phẩm cho động vật biển (lá).
4) Nguồn muối dinh dưỡng
5) Lọc chất ô nhiễm.
Cỏ biển, rong biển…
1/ Bắt giữ chất ô nhiễm và lắng tụ.
2/ Cung cấp thức ăn
3/ Nơi sống của động vật non

Coral Polyp
Coral polyp là nhóm sinh vật nhỏ thuộc nhóm Cnidaria. Cnidaria là nhóm sinh vật
có các gai độc (cnidae) trong cơ thể. Nhóm này còn gồm có các nhóm khác: sứa
(Jellyfish), hải q (sea anemones) và thủy tức (hydroids)
Khi coral polyp phát triển, tùy theo loài mà chúng tạo thành các dạng khác nhau.
Một số tập đoàn tạo thành cấu trúc cứng gọi là san hô đá (stony coral), một số khác
tạo dạng mềm gọi là san hô mềm (soft coral). Tùy theo hình dạng, cấu trúc của tập
đoàn mà người ta đặt tên cho chúng (common name). Riêng các nhà khoa học thì gắn
cho chúng các tên khoa học rất riêng biệt, nhưng rất khó phổ biến.

Trong một quá trình gọi là Calcid hóa (calcification), tảo zoaxanthellae đang sống
trong cơ thể coral polyp có thể biến Carbonate calci hoà tan trở thành dạng không hòa
tan. Lúc này, polyp sẽ lấy lớp Carbonate Calci không hòa tan đó để xây dựng bộ
khung cho mình.
Sự hình thành đá vôi?

Download» Agriviet.com


Phylum Cnidaria
Nhóm cnidarians được gọi là dipoblastic. Nghóa là chúng chỉ hình thành bởi 2 lớp tế
bào. Lớp ngoài (outer layer) là lớp thượng bì, và lớp trong là lớp hạ bì (endoderm) hay
lớp tiêu hóa? (gastrodermis) Những lớp tề bào này chứa mạng lưới thần kinh để điều
khiển hệ cơ và các chức năng cãm giác khác của sinh vật. Giữa những lớp này là vật
chất keo được gọi là (mesoglea), rõ nhất là trong nhóm true jellyfish. Các nhóm khác,
lớp vật chất này gần như vắng mặt. Tất cả Cnidaria đều có một lổ mở đơn giản, chúng
hoạt động mang cả hai chức năng là miệng và hậu môn. Ở hầu hết các loài, quanh
miệng có một dãi các tiêm mao (tentacles) để bắt thức ăn.
Cnidarians có chu kỳ đời sống khá phức tạp, tùy theo loài mà có sự khác biệt của 2
dạng sống này. Dạng thứ nhất được biết là polyp (không có cuống – sessile). Polyp
thường có hình ống, có miệng với rất nhiều tua bám. Cơ thê có một bộ khung (xương)
có thể bên ngoài hoặc bên trong các mô (endoskeleton-exoskeleton). Bộ khung này có
thể được tạo thành bởi các loại muối khoáng như calcium carbonate, và hoặc các vật
chất hữu cơ như chitin. Polyps cũng có bộ khung thủy lực (hydrostatic skeleton-
tentacle). Một vài loài thuộc Cnidarians, như là true coral và sea anemone sống hoàn
toàn ở giai đoạn polyp stage và không biến thái thành dạng tiếp theo, medusa.


Download» Agriviet.com














Download» Agriviet.com
GIÔÙI THIEÄU VEÀ TAØI LIEÄU

Tài liệu bạn đang xem được download từ website


WWW.AGRIVIET.COM

WWW.MAUTHOIGIAN.ORG







»Agriviet.com là website chuyên đề về nông nghiệp nơi liên kết mọi thành viên
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng tôi thường xuyên tổng hợp tài liệu về tất cả
các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu
bạn cần không tìm thấy trong website xin vui lòng gửi yêu cầu về ban biên tập website để
chúng tôi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất.
»Chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn thành viên đã gửi tài liệu về cho chúng tôi.
Thay lời cám ơn đến tác giả bằng cách chia sẽ lại những tài liệu mà bạn đang có cùng
mọi người. Bạn có thể trực tiếp gửi tài liệu của bạn lên website hoặc gửi về cho chúng tôi

theo địa chỉ email

Lưu ý: Mọi tài liệu, hình ảnh bạn download từ website đều thuộc bản quyền của tác giả,
do đó chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất kỳ khía cạnh nào có liên quan đến nội
dung của tập tài liệu này. Xin vui lòng ghi rỏ nguồn gốc “Agriviet.Com” nếu bạn phát
hành lại thông tin từ website để tránh những rắc rối về sau.
Một số tài liệu do thành viên gửi về cho chúng tôi không ghi rỏ nguồn gốc tác giả,
một số tài liệu có thể có nội dung không chính xác so với bản tài liệu gốc, vì vậy nếu bạn
là tác giả của tập tài liệu này hãy liên hệ ngay với chúng tôi nếu có một trong các yêu cầu
sau :

• Xóa bỏ tất cả tài liệu của bạn tại website Agriviet.com.
• Thêm thông tin về tác giả vào tài liệu
• Cập nhật mới nội dung tài liệu

www.agriviet.com



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×