Tải bản đầy đủ (.docx) (46 trang)

BAI_PHAN TICH TC VNM doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 46 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA: TCDN

ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH CÔNG TY VINAMILK
Giảng viên hướng dẫn : ……………………………
Nhóm sinh viên thực hiện :
1.Phan Thúc Khánh TCDN12
2.Nguyễn Phúc Lân TCDN12
3.Nguyễn Văn Tùng TCDN12
4.Hà Thị Điệp TCDN12
Khoá : K34
1
HCM, 27 tháng 9 năm 2011NHÂN XÉT CỦA GIÁO VIÊN























2
MỤC LỤC :
1. Tổng quan ngành sữa thế giới và trong nước 5
1.1. Thị trường sữa thế giới 5

1.2 Thị trường sữa trong nước 6
2. Phân tích công ty Vinamilk 12
2.1 Tổng quan qua trình phát triển 13
a, Tầm nhìn và sứ mệnh công ty 13
b, Lĩnh vực hoạt động 13
c, Lịch sử
14
d, Cấu trúc tổ chức: 14
e, Hoạt động sản xuất kinh doanh 16
2.2 PHÂN TÍCH SWOT CÔNG TY VINAMILK 17
2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh 19
Năng lực cạnh tranh: qua mô hình 5 áp lực của Michael Porter
3. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 22
3.1: Phân tích cơ cấu 22
a, cơ cấu tài sản 22
b, Cơ cấu nguồn vốn: 26
c, cơ cấu doanh thu: 29
3.2: Phân tích hệ thống các chỉ số 34
a, Tổng quát về tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu: 34
b, Nhóm chỉ số khả năng thanh toán.` 36

c, Nhóm chỉ số đòn bẩy. 39
3
d, Nhóm chỉ số hoạt động kinh doanh 40
e, Các chỉ số tỷ suất sinh lợi 42
TÍNH TOÁN FCF, ROIC:
Kết luận 45













4
1. Tổng quan ngành sữa thế giới và trong nước.
1.1. Thị trường sữa thế giới
Giá sữa thế giới đã từng giảm xuống chỉ 1.841 USD/tấn vào tháng 7/2009, mức thấp
nhất kể từ tháng 1/2004, song sau đó hồi phục mạnh trong những tháng cuối năm do nhu
cầu tăng, với sữa bột nguyên kem trở lại mức gần 3.000 USD/tấn. Chỉ trong vòng mấy
tháng cuối năm, giá sữa bột nguyên kem đã tăng 54%.
Nhu cầu mua mạnh đang cải thiện tình hình trên thị trường sữa thế giới, với mậu dịch
hiện cao hơn 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu tiêu thụ sữa tại Châu Á tăng mạnh,
đặc biệt là Đông Nam Á và Trung Quốc. Trung Đông và Ấn Độ cũng đang là điểm sáng
trên thị trường tiêu thụ sữa thế giới. Nhập khẩu vào Trung Quốc đang tăng mạnh, khiến

thị trường này tiếp tục là động lực chính của xu hướng tăng nhu cầu nhập khẩu gần đây.
Tâm lý của người tiêu dùng là tin tưởng vào chất lượng các sản phẩm sữa nhập khẩu
hơn là sữa nội, sau dịch sữa nội nhiễm melamine hồi năm 2008. Trung Quốc chiếm tới
trên 75% tổng mức tăng mậu dịch sữa bột nguyên kem trong quý III/2009. Nhập khẩu
vào các thị trường Bắc Phi và Trung Đông cũng tăng, do tiêu thụ tăng khi kinh tế hồi
phục. Khách hàng Nga đã trở lại thị trường để mua hàng, trong khi thị trường Nhật Bản
có những dấu hiệu ổn định. Về nguồn cung, mặc dù sản lượng trì trệ ở hầu hết các khu
vực xuất khẩu sữa chính song không đến mức suy giảm. Brazil là khu vực duy nhất giảm
sản lượng sữa. Một số nước khác duy trì ở mức sản lượng như năm trước, trong khi một
số khác nữa tăng sản lượng. Chủ tịch Fonterra, Henry van der Heyder, cho biết thời tiết
lạnh và ẩm đang hậu thuẫn cho sản xuất sữa tại Niu Dilân. Sản lượng sữa nước này năm
vừa qua gần đạt mức kỷ lục cao như năm ngoái.
Tại Mỹ, Bộ Nông nghiệp (USDA) ước tính sản lượng sữa năm nay sẽ đạt 188,2 tỷ lb,
tăng 600 triệu lb so với dự báo trước đó. Dự báo về sản lượng năm 2010 cũng được điều
chỉnh tăng thêm 100 triệu lb lên 186,5 tỷ lb. Giá sữa tại Mỹ quý III/2009 đã tăng khoảng
20 – 30% trong quý III, là lần tăng đầu tiên kể từ khi khủng hoảng, và vẫn tiếp tục tăng,
5
đạt trung bình 12,20 USD/cwt năm 2009, dự báo sẽ tăng lên 15,15 USD/cwt vào năm
2010, trên cơ sở tiêu thụ tăng và cung giảm. Hãng Fonterra Cooperation Group Ltd. của
Niu Dilân – hãng xuất khẩu sữa bột, bơ và phomát lớn nhất thế giới, chiếm gần 40% mậu
dịch các sản phẩm sữa toàn cầu - dự báo giá sữa thế giới năm 2010 có thể sẽ tiếp tục hồi
phục chậm nhưng chắc, được khích lệ bởi nhu cầu tăng ở Châu Á, Trung Đông và Ấn Độ.
1.2. Thị trường sữa trong nước
a,Triển vọng ngành:
Trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành sữa Việt Nam đã có sự phát triển rất mạnh mẽ
nhờ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Các doanh nghiệp sản xuất sữa tại Viêt Nam đã
không ngừng nghiên cứu phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời cải tiến cơ
sở hạ tầng để tạo điều kiện cho sự gia tăng chung về tính đa dạng, và sản lượng sản phẩm
sữa được sản xuất tại Việt Nam. Thị trường sữa Việt Nam cũng đã tiếp nhận sự tràn vào
của các công ty đa quốc gia.

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc thì tăng trưởng ngành sữa ở các nước
đang phát triển là trên 4% và xu hướng này càng tăng nhanh so với các nước phát triển.
Việt Nam cũng là một nước đang phát triển và ngành sữa là một trong những ngành đạt
tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam, với mức tăng trưởng
doanh thu trung bình đạt 18% năm. Trong những năm tới thì nhu cầu tiêu dùng sữa và sản
phẩm sữa trong nước sẽ ngày càng cao do dân số tăng, tốc độ đô thị hoá – công nghiệp
6
hoá, thu nhập được cải thiện và nhận thức của người tiêu dùng về giá trị dinh dưỡng của
sữa, đặc biệt cho trẻ em.
Môi trường nhân khẩu học của nước ta:
Kết cấu dân số. (số liệu của cục thống kê lúc0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009)
• Tổng dân số: 85.789.573 người
• Số nữ giới: 43.307.024 người.
• Tỷ số giới tính: 98,1 nam trên 100 nữ
• Tỷ lệ tăng dân số: 1,2% (2009)
• Số dân sống ở khu vực thành thị: 25.374.262 người (chiếm 29.6% dân số cả
nước).
Cơ cấu độ tuổi:
• 0-14 tuổi: 29,4% (nam 12.524.098; nữ 11.807.763)
• 15-64 tuổi: 65% (nam 26.475.156; nữ 27.239.543)
• trên 65 tuổi: 5,6% (nam 1.928.568; nữ 2.714.390)
Qua cơ cấu dân số cho thấy với hơn 85 triệu dân, tỉ lệ tăng hàng năm vào khoảng
1.2% , mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời, trẻ em dưới 14 tuổi chiếm gần 30%,
đây là độ tuổi cần dùng đến các sản phẩm nhiều nhất.
Theo báo cáo tổng kết thị trường Việt Nam của một công ty sữa đa quốc gia nêu rõ:
GDP Việt Nam tăng khoảng 7%/năm và theo Viện Dinh duỡng quốc gia Việt Nam (NIN)
đã báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Viêt Nam,
dựa trên điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 tại 63 tỉnh/ thành phố với hơn 50.000
trẻ từ 2-5 tuổi, cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn ở mức 19,62%, tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể thấp còi là 29,05%. Thị trường của các doanh nghiệp sữa nằm ở khả

năng mua sắm ngày càng lớn của người tiêu dùng với các khoản ngân sách quốc gia dành
cho chiến lược phòng chống, mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể
nhẹ cân xuống dưới 16,8%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống dưới 28,2%.
Như vậy thị trường sữa Việt Nam là một thị trường tiềm năng lớn.
Hơn nữa, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam chừng 14lít/người/năm,
còn ở mức rất thấp so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong khu vực và trên thế giới
như Thuỵ Sỹ 140 lít/người/năm, Hà Lan 120 lít/người/năm, Úc 110 lít/người/năm, Đài
Loan 40 lít/người/năm….
Sữa hiện nay được tiêu thụ chủ yếu tại các thành phố lớn, khu vực thành thị có kinh tế
phát triển, còn tại các vùng nông thôn thì rất thấp. Theo số liệu thống kê của Viện Dinh
7
dưỡng thì người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm nhiều gấp 4 lần
người dân nông thôn.
Các vùng nông thôn càng nghèo, càng xa thì cơ hội được dùng các sản phẩm sữa càng
ít. Ngay ở các vùng nông thôn thì mức tiêu thụ sữa của các xã nghèo chỉ bằng một phần
năm mức tiêu thụ sữa ở xã không nghèo. Trong tương lai khi mức thu nhập bình quân
tăng lên thì mức tiêu thụ sữa cũng sẽ gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập người dân ngày càng tăng làm cho
mức sống cũng tăng theo, do đó nhưu cầu sử dụng các sản phẩm làm từ sữ ngày càng gia
tăng đáng kể.
Chính sách về xuất nhập khẩu Sữa:
Theo số liệu ngày 01/10/2011 của Tổng cục Thống kê, tổng đàn bò sữa của cả
nước tăng 11,31% so với năm 2009, từ 115.518 con lên 128.583 con, tăng thêm 13.065
con. So với năm 2009, tổng sản lượng sữa tươi nguyên liệu sản xuất năm 2010 tăng
10.23%, tăng thêm 28.472 tấn từ 278.190 tấn năm 2009 lên 306.662 năm 2010. Lượng
sữa tươi nguyên liệu này chỉ đáp ứng được khoảng 22% nhu cầu tiêu dùng sữa ở Việt
Nam, phần còn lại Việt Nam phải nhập khẩu. Theo số liệu của tổng cục hải quan, nhập
khẩu sữa bột hàng năm ở mức 300 - 400 triệu USD.
Nhìn chung khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sữa Việt Nam không cao do
phải phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu. Tuy nhiên, tùy theo sản

phẩm sữa mà tính cạnh tranh khác nhau. Chẳng hạn như sản phẩm sữa đặc có đường,
sữa nước và sữa chua được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao do tỷ lệ sữa tươi
trong nước sản xuất ngày càng cao (hiện nay đáp ứng 22% nguyên liệu, dự kiến
đến năm 2020, nguồn nguyên liệu sữa tươi đáp ứng từ 38- 40% cho sản xuất).
Các chính sách chăn nuôi bò đang được đẩy mạnh góp phần tăng cường nguồn
nguyên liệu cho các công ty sản xuất sữa trong nước thay vì nhập khẩu, để tăng sức cạnh
tranh.Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội lớn cho sữa Việt Nam gia
nhập thị trường thế giới và học hỏi kinh nghiệm trong việc chế biến chăn nuôi và quản
lý…để hoàn thiện hơn tạo ra những sản phẩm sữa chất lượng tốt và giá cả rẻ hơn.
 Qua đó chúng ta cũng thấy được mối đe dọa cho ngành sữa Việt Nam là việc hội nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO sẽ khiến cho các nhà máy sản xuất sữa nhỏ tại Việt Nam
sẽ không có sức cạnh tranh với các tập đoàn sữa lớn mạnh trên thế giới như Mead
Johnson, Abbott… Thêm vào đó chúng ta lại chưa có một mô hình chăn nuôi quản lý một
cách hiệu quả. Nguồn nguyên liệu của chúng ta còn thiếu rất nhiều buộc chúng ta luôn
phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài làm cho giá của các loại sữa tăng cao, chính vì
thế ngành sữa Việt Nam cần phải nổ lực rất lớn.
8
Về thị trường nhập khẩu thì 7 tháng đầu năm nay Việt Nam có thêm thị trường đó là
Ấn độ với kim ngạch là 828,3 nghìn USD. Niudilan vẫn là thị trường chính cung cấp sữa
và sản phẩm cho Việt Nam với kim ngạch trong tháng là 12,9 triệu USD, giảm 50,68% so
với tháng liền kề trước đó và giảm 25,78% so với tháng 7/2010. Tính chung 7 tháng đầu
năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu 136,3 triệu USD sữa và sản phẩm từ thị trường này,
chiếm 28,1% thị phần, tăng 40,38% so với cùng kỳ năm trước. Kế đến là thị trường Hoa
Kỳ với kim ngạch trong tháng 7 này là 22,5 triệu USD, tăng 23,53% so với tháng 6 và
tăng 21,32% so với tháng 7/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã nhập
khẩu 123,9 triệu USD sữa và sản phẩm từ thị trường Hoa Kỳ, tăng 60,46% so với cùng
kỳ năm 2010. Đáng chú ý, thị trường Đức tuy kim ngạch trong 7 tháng đầu năm chỉ nhập
13,9 triệu USD, nhưng nếu so với cùng kỳ năm trước thì nhập khẩu sữa và sản phẩm từ
thị trường này tăng trưởng vượt lên hơn cả (tăng 174,09%). Dẫn nguồn tin từ TTXVN,
sản lượng sữa bột trên toàn quốc tăng hơn 18%. Theo Bộ Công Thương, hoạt động sản

xuất kinh doanh của ngành sữa từ đầu năm đến nay tăng trưởng đều. Cụ thể, tháng Bảy
sản lượng sữa bột đạt 5.400 tấn, tăng 23% so với tháng 7/2010; tính chung 7 tháng đạt
35.200 tấn, tăng 18,4% so với cùng kỳ.
Hiện nay, trên thị trường có hơn 300 loại sản phẩm sữa với nhiều nhãn mác khác nhau
do nhiều tổ chức, cá nhân tham gia quá trình sản xuất, nhập khẩu và phân phối. Do thị
trường phát triển nhanh nên Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị liên quan kiểm tra,
kiểm soát chặt chẽ chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sản phẩm sữa bột nhập
khẩu vì phần lớn sữa nước trên thị trường là sữa hoàn nguyên (được pha chế từ sữa bột);
đồng thời công khai các tiêu chuẩn về sữa tươi, sữa bột hoàn nguyên và sữa tiệt trùng để
người tiêu dùng có thể phân biệt, tránh nhầm lẫn.
Bảng 1: Thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm 7 tháng năm 2011 (ĐVT: USD)
9
Sữa ngoại đang thao túng thị trường sữa Việt Nam. Sữa ngoại chiếm đến hơn 70% thị
phần sữa bột Việt Nam, trong đó đứng đầu là Abbott, Dutch Lady (tức FreislandCampina
hiện nay), Dumex, Nestle Cứ hãng này tăng giá, lập tức các nhãn hiệu khác điều chỉnh
theo. 4 hãng sữa lớn của nước ngoài là Abbott chiếm 32% thị phần sữa bột, Dutch Lady
(16%), Dumex (8%), Nestle (4,2%). Với tỷ lệ này, 4 hãng sữa hoàn toàn có thể dẫn dắt
thị trường và quyết định giá bán", Vụ trưởng Vụ công nghiệp nhẹ Bộ Công thương Phan
Chí Dũng cho biết tại hội thảo Những cơ hội thách thức với sự phát triển của ngành sữa
Việt Nam hôm 29/10 tại TP HCM. Dù nhấn mạnh sữa ngoại chiếm lĩnh thị trường nội địa,
Vụ trưởng Dũng vẫn khẳng định: "Việc tăng giá trong thời gian qua chỉ diễn ra ở phân
khúc thị trường sữa bột nhưng các thông tin khiến mọi người đều lầm tưởng tất cả sản
phẩm sữa đều tăng giá cao. Ngoài ra, sở dĩ giá sữa luôn thất thường là do không có nguồn
nguyên liệu ổn định chứ không phải các hãng sữa cấu kết để tăng giá". Điều đặc biệt,
theo đại diện Bộ Công thương, giá sữa ngoại dù cao nhưng nhiều người tiêu dùng vẫn
chọn mua vì tâm lý "sính" hàng ngoại, hàng đắt tiền chất lượng mới tốt, ngoài ra chính
thương hiệu của các sản phẩm ngoại cũng làm tăng giá bán. Với sản phẩm sữa bột, chúng
10
ta đang thua ngay chính trên sân nhà của mình. Các nhà chế biến sữa trong nước vẫn phải
phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài, vì ngành chăn nuôi bò

sữa nội địa vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu chế biến. Lượng sữa tươi trong nước chỉ thỏa
mãn 22-25% nhu cầu nguyên liệu", ông Trịnh Quý Phổ, Tổng thư ký Hiệp hội sữa Việt
Nam đồng tình.
Mức tăng trưởng sản lượng sữa các loại giai đoạn 2006-2010 đều đạt thấp hơn chỉ tiêu
đề ra, đặc biệt là sữa bột (khoảng 48% đến 92%). Về cung cấp nguyên liệu sữa tươi, mục
tiêu kế hoạch đề ra đến năm nay phải tự túc khoảng 40% nhưng thực tế không thực hiện
được, ước năm 2010 chỉ được khoảng 24%. Đánh giá thách thức và sự phát triển của
ngành sữa Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu trong nước, các chuyên gia cho
rằng vấn đề cốt lỗi nằm ở chỗ phải làm sao thúc đẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi bò sữa
cả nước. Trên 95% số bò sữa hiện nay được nuôi phân tán trong nông hộ, quy mô nhỏ lẻ,
tính chuyên nghiệp chưa cao, nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò sữa còn hạn chế, phải nhập
khẩu đến 80% là thực trạng của ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay ở Việt Nam. Điển hình
như Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng vẫn phải nhập cỏ họ đậu ở vùng ôn đới về để
nuôi bò sữa cao sản", ông Đỗ Kim Tuyên, Trưởng phòng gia súc lớn, Cục chăn nuôi, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói. Năm 2009, số bò sữa cả nước là hơn 115.000
con, mục tiêu đến năm 2015, số này phải đạt 300.000 và 2020 là gần 500.000 con. "Mối
quan ngại khác cần được quan tâm đúng mức là giữa nhà chế biến và người chăn nuôi,
thiếu tính bền vững và tin tưởng nhau nên nhà chế biến chưa mạnh dạn đầu tư cho người
nuôi", ông Trần Văn Minh Văn, Giám đốc điều hành Công ty Vinamilk góp ý. Ông Lưu
Văn Tân, đại diện Công ty FrieslandCampina cho rằng một khó khăn nữa là hiện Chính
phủ chưa có quy hoạch và chính sách dài hạn cho vùng chăn nuôi bò sữa.
11
2. Phân tích công ty Vinamilk
Chúng ta rất tự hào Vinamilk là Công ty ĐẦU TIÊN và DUY NHẤT của Việt Nam đứng
trong danh sách 200 Doanh nghiệp tốt nhất Châu Á Thái Binh Dương năm 2010 của
Tạp chí Forbes.
CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VINAMILK: “ĐẠI GIA CỦA NGÀNH SỮA”
Một số danh hiệu của công ty năm 2010.

2.1. Tổng quan qua trình phát triển.

12
a, Tầm nhìn và sứ mệnh công ty.
• Tầm nhìn: “Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh
dưỡng và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người “
• Sứ mệnh: “Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất,
chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình
với cuộc sống con người và xã hội”
• Giá trị cốt lõi: Chính trực: liêm chính, trung thực trong ứng xử và trong tất cả các
giao dịch. Tôn trọng: tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp. Tôn trọng Công
ty, tôn trọng đối tác. Hợp tác trong sự tôn trọng.
• Công bằng: Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên
quan khác.
• Tuân thủ: Tuân thủ Luật pháp, Bộ Quy Tắc Ứng Xử và các quy chế, chính sách,
quy định của Công ty.
• Đạo đức: Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một cách đạo
đức.
b, Lĩnh vực hoạt động.
o
Sản xuất
và kinh doanh bánh,
sữa đậu
nành,
nước giải
khát,
sữa
hộp,
sữa
bột,
bột dinh
dưỡng


các
sản phẩm từ sữa
khác.
o Kinh doanh
thực phẩm
công
nghệ, thiết
bị
phụ tùng,
vật tư,
hóa
chất (trừ
hóa
chất
có tính ñộc
h

i m

nh),
nguyên
li

u.
o Kinh doanh
nhà.
o Môi
giới,
cho thuê

bất đ
ộng
s

n.
o Kinh doanh kho,
bến
bãi.
o Kinh doanh
vận tải
hàng
bằng
ô
tô.
o Bốc
xếp
hàng
hóa.
o
Sản xuất,
mua bán
rượu,
bia, đồ uống,
thực phẩm chế biến,
chè uống, cà phê
rang-xay-phin-hòa
tan
(không
sản xuất chế biến tại
trụ

s

).
o
Sản xuất
và mua bán bao
bì.
o In trên bao
bì.
o
Sản xuất,
mua bán
sản phẩm nhựa
(không
sản xuất
bột
giấy,
tái
chế phế thải
nhựa tại
trụ
s

).
o Phòng khám đa
khoa.
13
o
Chăn
nuôi, trồng trọt, các

hoạt
ñộng hỗ
trợ chăn
nuôi, trồng trọt
.
o
Dịch
vụ sau thu
hoạch
.
o
Xử

hạt
giống
ñể
nhân
gi

ng.
c, Lịch sử
.
Ngày 29/04/1993: Công ty
Sữa Việt
Nam
(loại
hình Doanh
Nghi

p

Nhà
Nước)
được
thành
lập
theo

Quyết
đ

nh
số 420/CNN/TCLD của Bộ Công
Nghi

p

Nh

.
Ngày 01/10/2003 : Công ty
được
cổ
phần
hoá
từ
Doanh
nghiệp
Nhà
Nước
của

Bộ Công
Nghi

p

theo

Quyết
đ

nh

155/2003/Q
đ
-BCN.
Ngày 20/11/2003 : Công ty
đăng

trở
thành một Công ty Cổ
phần

bắt ñầu
hoạt
động theo
Lu

t
Doanh
Nghi


p

Việt
Nam và
được Sở Kế
họach và đ

u


TP
HCM
cấp Giấy
phép
đăng
ký kinh doanh số 4103001932
.
Ngày 28/12/2005 : Ủy Ban
Chứng
khoán Nhà
nước cấp Giấy
phép niêm
yết
số
42/UBCK-GPYN.
Ngày 19/01/2006 : Cổ
phiếu
của Công Ty
được

niêm
yết
trên
Thị
trường chứng
khoán TP
HCM.
d, Cấu trúc tổ chức:
Cơ cấu tổ chức:

14

công ty con và công ty liên kết.
15
Một số công ty con và
công ty liên kết
e, Hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu tại Việt
Nam. Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa
bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem và phó
mát. Vinamilk cung cấp cho thị trường một những danh mục các sản phẩm, hương vị và
qui cách bao bì có nhiều lựa chọn nhất.
Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty đã xây dựng hệ thống phân phối
rộng nhất tại Việt Nam và đã làm đòn bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép,
sữa đậu nành, nước uống đóng chai và café cho thị trường.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu
“Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một
trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006.
Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ
năm 1995 đến năm 2007.

Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng trưởng
mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân 7.85% từ năm 1997
đến 2007. Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng công suất khoảng
570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn trên cả
nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản phẩm đến số lượng lớn người tiêu
dùng. Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất khẩu
sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.
Thị trường các SP sữa:
Thị trường tiêu thụ: chủ yếu nằm ở thị trường trong nước, chiếm khoảng 90%
tổng doanh thu. Doanh thu xuất khẩu chỉ chiếm tỷ lệ 10%. Thị trường xuất khẩu chủ
yếu của công ty đến từ khu vực Trung Đông, Campuchia, Philippines và Úc.
16
Thị phần SP sữa: Các sản phẩm của Vinamilk chiếm khoảng 39% thị phần, trong
đó cơ cấu thị phần như sau: sữa đặc chiếm khoảng 75%, sữa tươi 53% (tính trên 36
thành phố), sữa chua các loại 90% và sữa bột 25% (tính trên 6 thành phố lớn). Theo
nghiên cứu mới đây của Euromonitor
Hệ thống phân phối: Số điểm lẻ mà Vinamilk bao phủ cuối năm 2010 là khoảng
140.000 điểm. Trong năm 2010, Vinamilk cũng tiến hành cải tổ lại cấu trúc của hệ
thống phân phối theo hướng chuẩn hoá kênh truyền thống làm xương sống cho hệ thống
phân phối, tạo nền tảng cho đà phát triển những năm sau.
Sản phẩm mới: trong năm 2010 công ty đã tung ra 20 sản phẩm mới bao gồm sữa
chua lợi khuẩn, nước uống Artiso, trà xanh hương chanh, nước táo, nước cam, trà bí
đao, sữa tiệt trùng bổ sung vi chất và các loại bột dinh dưỡng.
2.2. PHÂN TÍCH SWOT CÔNG TY VINAMILK
ĐIỂM MẠNH
− Sản phẩm của Công ty vẫn có lợi thế cạnh
tranh do chất lượng tương với sản phẩm
nhập khẩu và giá bán cạnh tranh.
− Các chiến lược tận dụng tối đa nguồn
nguyên liệu trong nước của Công ty đề ra

có tác dụng giảm bớt áp lực về nguyên
vật liệu nhập khẩu để làm giảm tối thiểu
ảnh hưởng của tỷ giá.
− Vinamilk là công ty sữa hàng đầu Việt
Nam được hỗ trợ bởi truyền thống hoạt
động, uy tín, cũng như thương hiệu được
xây dựng tốt.
− VNM có danh mục các sản phẩm đa dạng
thích hợp cho các độ tuổi và đáp ứng các
nhu cầu khác nhau. Đây là lợi thế không
RỦI RO
- Dự báo giá sữa nguyên liệu trên thị trường
thế giới sẽ vẫn ở gần mức cao hiện nay về
ngắn hạn, song hiện đang có những tín
hiệu về nguồn cung trong nước sẽ tăng.
− Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo điều
kiện cho các công ty nước ngoài thâm
nhập vào thị trường trong nước, tăng sức
cạnh tranh giữa các công ty trong ngành.
− Ngoài ra, việc giảm thuế nhập khấu đối với
các sản phẩm sữa sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho các sản phẩm sữa ngoại nhập - cam
kết tiến tới tự do hóa thương mại hoàn
toàn trong ASEAN (nước ta sẽ xóa bỏ thuế
quan đối với hầu hết các mặt hàng vào
năm 2015)
17
phải công ty nào cũng có được.
− Các sản phẩm thay thế về sữa không
nhiều

ĐIỂM YẾU
− Với 50% nguyên liệu đầu vào của Công ty
là nhập khẩu và 30% doanh thu của Công
ty là từ xuất khẩu, những biến động về tỷ
giá có ảnh hưởng đến hoạt động của
Công ty (Tính đến hết tháng 11/2010, cả
nước đã nhập khẩu 646 triệu USD sữa và
sản phẩm phẩn sữa, chủ yếu từ New
Zealand, Hoa Kỳ, Hà Lan và Thái Lan)
− Thị trường sữa bột đang bị cạnh tranh
mạnh(Dutch Lady, Nestle, Abbott, Mead
Jonhson…), nhất là với tâm lý ưa dung
sữa ngoại.
TRIỂN VỌNG
Nhu cầu: Theo Tổ chức Nông Lương Liên
hiệp quốc thì tăng trưởng ngành sữa ở các
nước đang phát triển là trên 4% và xu
hướng này càng tăng nhanh so với các
nước phát triển. Ngành sữa Việt Nam là
một trong những ngành đạt tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm
ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh
thu trung bình đạt 18% năm.
− Nền kinh tế tăng trưởng nhanh của Việt
Nam đã có tác động tích cực tới sức mua
trong nước, trong đó có ngành chế biến
sữa, nhất là khi đời sống của người dân
được nâng cao.
− Tiềm năng phát triển ở các thị trường quốc
tế: Lào, campuchia, các nước châu phi…

cùng nhiều nước khác với lượng cầu lớn.
Nguyên liệu: Theo số liệu ngày 1/10/2011
của Tổng cục Thống kê, tổng đàn bò sữa
của cả nước tăng 11,31% so với năm 2009,
từ 115.518 con lên 128.583 con, tăng thêm
13.065 con.
So với năm 2009, tổng sản lượng sữa tươi
nguyên liệu sản xuất năm 2010 tăng
18
10,23%, tăng thêm 28.472 tấn từ 278.190
tấn năm 2009 lên 306.662 năm 2010. đáp
ứng được khoảng 22% nhu cầu tiêu dùng
sữa ở Việt Nam.
2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh.
Vị thế của công ty trong ngành: VNM là công ty sữa lớn nhất cả nước với thị phần
39%. Quy mô nhà máy cũng lớn nhất cả nước với tổng công suất hiện nay là 504 nghìn
tấn/năm, đạt hiệu suất 70%.
Chiến lược phát triển:
- Củng cố, xây dựng và phát triển hệ thống các thương hiệu mạnh.
- Đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh qua thị trường của các mặt hàng nước giải
khát có lợi cho sức khoẻ của người tiêu dùng thông qua thương hiệu VFresh.
- Củng cố hệ thống phân phối nhằm đảm bảo thị phần.
- Phát triển nguồn nguyên liệu để đảm bảo nguồn cung sữa tươi được chủ động.
- Phát triển toàn diện danh mục các sản phẩm sữa và từ sữa nhằm hướng tới một
lượng khách hàng rộng lớn.
Năng lực cạnh tranh: qua mô hình 5 áp lực của Michael Porter
• Nhà cung cấp: VNM có lợi thế mặc cả với người chăn nuôi trong việc thu mua
nguyên liệu sữa do công ty là nhà thu mua lớn, chiếm 50% sản lượng sữa cả nước.
Bên cạnh đó, VNM gặp bất lợi vì phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu sữa nhập từ
nước ngoài. Tuy nhiên qua trao đổi với Vinamilk, tôi được biết, chi phí để pha chế

ra 1 kg sữa nước từ sữa bột nhập khẩu vẫn thấp hơn giá thu mua sữa tươi trong
nước. Do đó, đây không phải là nhược điểm quá lớn đối với VNM.
• Khách hàng, nhà phân phối: VNM không chịu áp lực bởi bất cứ nhà phân phối
nào. Hiện công ty có hai kênh phân phối: (1) kênh truyền thống (138 nhà phân
phối và hơn 94,000 điểm bán lẻ), thực hiện phân phối hơn 80% sản lượng của
công ty; (2) phân phối qua kênh hiện đại (như hệ thống siêu thị, Metro …). Đối
với sản phẩm sữa, khi giá nguyên liệu mua vào cao, các công ty sữa có thể bán với
19
giá cao mà khách hàng vẫn phải chấp nhận. Do vậy, VNM có khả năng chuyển
những bất lợi từ phía nhà cung cấp bên ngoài sang cho khách hàng.
• Sản phẩm thay thế: Mặt hàng sữa hiện chưa có sản phẩm thay thế. Tuy nhiên, nếu
xét rộng ra nhu cầu của người tiêu dùng, sản phẩm sữa có thể cạnh tranh với nhiều
mặt hàng chăm sóc sức khoẻ khác như nước giải khát…Do đó, VNM ít chịu rủi ro
từ sản phẩm thay thế. Hiện nay, VNM đang phát triển ra nhiều sản phẩm nước
uống có lợi cho sức khoẻ để mở rộng thị phần.
• Đối thủ tiềm tàng: Đối với sản phẩm sữa bột chi phí gia nhập ngành sữa không
cao, do đó các đối thủ tiềm năng dễ dàng tham gia vào phân khúc này. Ngược lại,
chi phí gia nhập ngành đối với sản phẩm sữa nước và sữa chua lại khá cao. Quan
trọng hơn, để thiết lập mạng lưới phân phối rộng đòi hỏi một chi phí lớn. Hiện
nay, VNM đã có lợi thế lớn trong vấn đề này. Dù vậy, chi phí chuyển đổi sản phẩm
của người tiêu dùng gần như bằng 0 nên VNM vẫn bị áp lực cạnh tranh ở mức độ
trung bình.
• Cạnh tranh nội bộ ngành: VNM cũng bị cạnh tranh cao ở các công ty sữa trong
nước như Hanoimilk, công ty nước ngoài như Abbott, Mead Johnson; Nestlé,
Dutch Lady Trong tương lai, thị trường sữa Việt Nam tiếp tục mở rộng và mức
độ cạnh tranh ngày càng cao hơn.
20
3. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
3.1: Phân tích cơ cấu.
a, cơ cấu tài sản

Chiếm tỷ trọng cao chủ yếu là: Tài sản cố định – hàng tồn kho – đầu tư tài chính ngắn
hạn - đầu tư tài chính dài hạn
Tài sản ngắn han
Tài sản ngắn han tăng 17%: Do hàng tồn kho (tăng 84%) và các khoải phải thu ngắn hạn
(tăng 49%, trong đó phải thu khách hàng tăng 10 và trả trước người bán 158%.
 Các khoản tăng phù hợp do doanh thu hoạt động kinh doanh tăng 49% so với 2009
Tiền: giảm 163 tỷ so với năm 2009, trong đó tiền gửi ngân hàng giảm 129 tỷ VND (từ
375 tỷ VND năm 2009 xuống còn 246 tỷ VND năm 2010) trong khi dó tiền đang chuyển
tăng 2,174 tỷ VND. Trong năm 2010, do giá nguyên liệu ngày càng tăng, nên Vinamilk
đã hạn chế việc giữ tiền mà tăng việc tích trử hàng tồn kho, nguyên liệu đề phòng trường
hợp giá tăng mạnh.
21
Trả trước cho người bán: tăng 215 tỷ trong so với năm 2009. Nguyên nhân ở đây là do
nguyên vật liệu chính của Vinamilk phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, do đó, công
ty phải ứng trước tiền cho nhà cung cấp để đảm bảo nguồn cung nguyên vật liệu cần thiết
cho sản xuất.
Hàng tồn kho: tăng 1034 tỷ VND so với năm 2009, chủ yếu là do công ty dự trữ
nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất và lượng hàng hóa đang trên đường về kho khá
lớn.
Các khoản phải thu khác: tăng 107 tỷ VND so với năm 2009, nguyên nhân là do công
ty đầu tư vào trái phiếu khá nhiều -> các khoản lãi trái phiếu và lãi cho vay phải thu tăng,
thêm vào đó, là doanh nghiệp nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào, Vinamilk còn có
một khoản thuế nhập khẩu được hoàn lại từ nhà nước mà công ty chưa thực nhận
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm
(1,955,640_chủ động nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh), giảm 10% là
do giảm lượng chứng khoán đã niêm yết: do thị trường chứng khoán trong thời kỳ này có
nhiều biến động, rủi ro lớn.
Tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn tăng 47%: chủ yếu là do tăng TSCĐ - các khoản đầu tư tài chính dài hạn
(108%), và các khoản bất động sản đầu tư tăng (167%)

Tài sản cố định hữu hình: tăng 754 tỷ VND so với năm 2009 phần nhiều là Công ty đã
hoàn thành và đưa nhà máy sản xuất nước giải khát tại Bình Dương đi vào hoạt động. Do
đó, chi phí xây dựng cơ bản dở dang dành cho nhà máy này đã được vốn hóa thành tài
sản cố định hữu hình và công ty có tiến hành đầu tư 879 tỷ VND vào hệ thống máy móc
thiết bị cần thiết cho sản xuất.
Lợi thế thương maị: Vào ngày 13 tháng 4 năm 2010, Công ty đã mua số cổ phần còn
lại (45%) từ các cổ đông thiểu số trong một công ty con - Công ty TNHH Một Thành
viên Sữa Lam Sơn (trước đây là Công ty Cổ phần Sữa Lam Sơn). Ngoài ra, tại ngày 13
tháng 10 năm 2010, Công ty đã hoàn tất thủ tục nhận bàn giao tài sản theo hợp đồng đã
ký ngày 4 tháng 6 năm 2010 nhằm mua lại 100% phần vốn góp của F&N Foods Pte.Ltd
trong Công ty TNHH Thực phẩm F&N Việt Nam.Lợi thế thương mại phát sinh từ hai
nghiệp vụ trên được phân bổ theo phương pháp đường thẳng trong 10 năm lần lượt bắt
đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 2010 và ngày 1 tháng 10 năm 2010.
Đầu tư tài chính dài hạn:
22
VINAMILK mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang bất động sản (căn hộ Horizon). Để
chủ động nguồn cung sữa tươi nguyên liệu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của
thị trường, Công ty đã đầu tư phát triển dự án vùng nguyên liệu ra ngước ngoài tại New
Zealand với tổng vốn đầu tư là 121 triệu NZD. Vốn điều lệ của dự án Miraka này là
55 triệu NZD, trong đó Vinamilk góp 12,5 triệu NZD, tương đương chiếm 19,3% vốn
sở hữu của Miraka.
Với tốc độ phát triển bền vững như vậy, Công ty đầu tư mở rộng và xây dựng thêm 03
nhà máy mới sản xuất sữa, bao gồm: 01 nhà máy sữa bột công suất 54.000 tấn/năm sẽ đi
vào hoạt động năm 2012; 01 nhà máy sữa nước tại Binh Dương có công suất giai đoạn 1
là 400 triệu lít/năm sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2012. Đây là nhà máy sữa nước có
qui mô lớn nhất, công nghệ hiện đại nhất củakhu vực Đông Nam Á và một nhà máy tại
Đà Nẵng có công suất sữa nước là 64,4 triệu lít/ năm và sữa chua ăn là 240 triệu hủ/ năm
sẽ đi vào hoạt động trong năm 2011.
23
Đầu tư vào công ty liên kết

 Các khoản đầu tư dài hạn của công ty chủ yếu là phục vụ cho quá trình sản xuất mở rộng,
chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng.
Đồng thời các khoản đầu tư dài hạn khác cũng tăng _ công ty mua trái phiếu chính phủ:
Một khoản mục đầu tư khá an toàn
24
b, Cơ cấu nguồn vốn:
 Tình hình tài chính của Vinamilk rất tốt, không chịu áp lực vay nợ, nhất là trong bối cảnh
“tiền mặt là vua” như thời điểm hiện tại. VNM là một công ty có tình hình tài chính lành
mạnh với tỷ lệ tiền mặt khá dồi dào và hầu hết các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của
công ty là tiền gửi ngân hàng và đang được lợi với mức lãi suất cao như hiện tại.
74% là vốn CSH, 26% là nợ
- Trong nguồn vốn huy động bằng nợ vay thì 96% nợ ngắn hạn:
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×