NHIỆT ĐỚI BUỒN:
LỜI CẢNH BÁO VẪN NÓNG SAU NỬA THẾ KỶ
NGUYÊN NGỌC
Có thể nói không quá đáng, việc xuất bản tác phẩm Nhiệt đới buồn của
Claude Lévi-Strauss bằng tiếng Việt là một sự kiện trong đời sống tinh thần của
chúng ta.
Triết gia trăm tuổi
Trước đây cuốn Chủng tộc và lịch sử của ông, viết theo yêu cầu của UNESCO,
đã được dịch và in bằng tiếng Việt, cuốn sách rất mỏng, song đã gây ấn tượng mạnh.
Lần này là một trong những tác phẩm quan trọng và nổi tiếng nhất của ông, một tác
phẩm kinh điển về rất nhiều mặt, và thật kỳ lạ.
Claude Lévi–Strauss là một trong những nhà nhân học, dân tộc học, một nhà
tư tưởng và nhà văn lớn nhất của thế giới trong nửa cuối thế kỷ 20. Ông sinh năm
1908, cha là hoạ sĩ chân dung, rất thích sưu tầm những đồ vật quý hiếm. Theo gương
cha, cậu bé cũng say mê đi tìm những tác phẩm nghệ thuật của các dân tộc xa lạ.
Học khoa triết ở đại học Sorbonne, anh thanh niên Claude gặp và quen thân
với những trí tuệ lớn nhất của nước Pháp thời bấy giờ: Simone de Beauvoir và
Merleau-Ponty. Năm 1934, một cuốn sách đọc được tình cờ, cuốn Xã hội học nguyên
thuỷ của Lowie, đã quyết định cả cuộc đời anh: trở thành nhà dân tộc học.
Năm 1935, được bổ nhiệm giáo sư ở đại học São Paolo, Brazil, Claude Lévi–
Strauss lần đầu tiên có cơ hội tiến hành những chuyến khảo sát dân tộc học ngắn và
viết tác phẩm dân tộc học đầu tay Góp phần nghiên cứu tổ chức xã hội của người
Bororo. Bị gọi về Pháp để tham gia “cuộc chiến tranh kỳ quặc” vào năm 1939, đến
năm 1941 được giải ngũ ông liền sang Mỹ, dạy ở trường New School for Social
Research và viện Cao học New York. Ông còn sống và làm việc ở Mỹ cho đến năm
1947 với tư cách tuỳ viên văn hoá sứ quán Pháp.
Trở về Pháp sau đó, Claude Lévi–Strauss thực sự lao vào sự nghiệp sáng tác
phong phú và đồ sộ của mình. Những tác phẩm quan trọng nhất của ông lần lượt ra
đời: Đời sống gia đình của người Anh- điêng Nambikwara, Cấu trúc sơ đẳng của
quan hệ họ hàng, Nhiệt đới buồn, Nhân học cấu trúc, Tín ngưỡng tô-tem ngày nay,
Tư duy man dã, và bộ sách lớn Huyền thoại học gồm bốn cuốn Cái Sống và cái Chín,
Từ Mật ong đến Tro, Về nguồn gốc các lối ăn, Con người trần trụi, tiếp sau là Con
đường đi của các Mặt nạ, Bản sắc, Gần và Xa…
Nỗi buồn nơi ngã ba đường
Nhiệt đới buồn chiếm một vị trí đặc biệt trong toàn bộ sự nghiệp mênh mông
của ông. Nó được viết trong năm tháng, từ tháng 12.1954 đến 5.1955, như một thiên
tuỳ bút kỳ lạ, được tuôn ra một mạch liền không dứt, và đến nay, sau nửa thế kỷ,
dường như được khôi phục tính thời sự một cách kỳ diệu.
Thật khó xếp nó vào thể loại nào. Mở đầu bằng một câu gây sốc “Tôi ghét
các chuyến viễn du và các nhà thám hiểm”, nhưng nó lại là một cuốn du ký, hết
sức gợi tò mò, không thiếu cả những pha phiêu lưu mạo hiểm, đưa chúng ta đến
với những nhóm người ở xa xôi nhất trên hành tinh, còn gần nhất với tình trạng
nguyên thuỷ, sắp và chắc chắn sẽ biến mất – cách nay nửa thế kỷ, nghĩa là nay đã
biến mất hoàn toàn – mà ông là người chứng kiến và được tiếp xúc cuối cùng…
Cũng có khi, như trên một “tấm thảm bay” – tên một chương trong tác
phẩm – ông đưa ta từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ hoang vu, đột ngột đến những thành
phố nhân mãn chen chúc của Ấn Độ và Pakistan, mà ông e sẽ là hình ảnh tương lai
của châu Âu; hay lên tận những vùng biên giới Myanmar, để gặp các nhà sư phi
giới tính và được chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật vừa thô sơ vừa vĩnh
cửu, và cũng từ đó suy nghiệm về ý nghĩa sâu xa của văn hoá và đời sống con
người…
Cũng chính ở mặt này, ta nhận ra ở Claude Lévi–Strauss một nhà văn tài
năng. Xin hãy thử đọc lại chương Trên tàu, có lẽ trong toàn bộ các nền văn học ta
từng biết, hiếm có những trang mô tả nào tinh tế hơn, tuyệt vời hơn về một buổi
hoàng hôn trên đại dương.
Cũng có thể nhận ra con mắt soi mói, tinh tế nhiều khi đến khắt khe của một
nhà văn không hề dễ tính, ngắm nhìn và so sánh những đền đài, chùa chiền của các
nền văn minh lớn từng sinh ra, tồn tại và biến đi, khiến người du khách bỗng như
choáng váng khi được đưa qua hàng ngàn vạn năm biến đổi của thế giới và con
người, vừa phù du vừa vĩnh hằng…
Tuy nhiên, bằng một lối viết vừa phóng khoáng vừa chặt chẽ, đây lại là một
công trình khảo sát nhân học, dân tộc học hết sức tỉ mỉ, khoa học, đến mức mẫu mực.
Những quan sát sắc sảo, tỉnh táo, đặc biệt những phân tích và so sánh rất nhiều
khi đầy tính phát hiện đến bất ngờ, như những phân tích về các hình vẽ trên cơ thể và
trên khuôn mặt của người Caduévo so với các con bài trên bộ bài tây, sự phản ánh tinh
vi của các hình vẽ ấy về cơ cấu đẳng cấp chặt chẽ đến riết róng trong xã hội này; hoặc
những nghiên cứu bất ngờ, thú vị về chế độ đa thê của các thủ lĩnh ở bộ lạc
Nambikwara và Tupi-Kawahib, những thiết chế thông minh và hiệu quả khác nhau
của các xã hội đó, cả đến những cơ chế kỳ lạ như tục luyến ái đồng tính, để giải quyết
những vấn đề nảy sinh do sự cần thiết của quyền lực tập trung cho chính sự tồn tại của
nhóm người; và thật thú vị, chương Bài học chữ viết, với phát hiện kỳ lạ: chữ viết
chính là công cụ của quyền lực và áp bức!
Từ những quan sát chăm chú, khách quan, tinh tế và thông minh, có thể thấy rõ
cả hiệu quả của phương pháp phân tích cấu trúc luận nhân học mà ông khởi xướng,
Claude Lévi–Strauss đã chạm đến một vấn đề lớn, sâu xa và lâu dài nhất của xã hội
con người: sự phát sinh, phát triển, chuyển động và suy thoái của các hình thái quyền
lực.
Từ đó đi đến những suy tư lịch sử và triết học không xa và hẳn là tất yếu. Ở
chương Chợ, Claude Lévi–Strauss nói đến kinh nghiệm của Ấn Độ bốn ngàn năm
trước trong việc tìm giải pháp cho vấn đề một số lượng người quá lớn trên một
không gian quá nhỏ, để cho mọi người đều có thể sống làm người, vậy thì buộc
phải làm người theo những cách khác nhau, tức sáng tạo ra cơ chế đẳng cấp.
Và ông nói rằng thất bại này của kinh nghiệm Ấn Độ cách nay bốn thiên
niên kỷ là một bi kịch không có lối ra của nhân loại. Khi một số lượng quá đông
người phải sống trên một không gian quá hẹp, thì xã hội tất yếu “tiết ra” sự nô lệ –
ông viết. Chúng ta biết lời cảnh báo nửa thế kỷ trước ấy của Claude Lévi–Strauss
đang hiển hiện nóng bỏng đến chừng nào.
Claude Lévi–Strauss nói đến ba tôn giáo lớn của nhân loại trong suốt lịch sử:
Phật giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo, sự nối tiếp và tương tác của những tín ngưỡng lớn
ấy, sự hoà hợp đã có thể có giữa phương Đông và phương Tây qua con đường tinh
thần này, mà phương Tây đã đánh mất cơ hội.
Và thật bất ngờ với nhận định này của ông: “Hồi giáo là phương Tây của
phương Đông”, là cái cứng nhắc phương Tây tràn lấn cái mềm mại uyển chuyển
phương Đông, chính nó đã dựng bức tường ngăn trở sự hoà hợp đã có thể có giữa
hai thế giới. Có thể tranh luận về nhận định này của Claude Lévi–Strauss, nhưng
phải công nhận nó vẫn thời sự biết bao.
Càng về cuối tác phẩm, giọng nói của tác giả như càng da diết, khẩn thiết. Và
ông tự hỏi về sứ mệnh và tương lai của nhân học, dân tộc học, thậm chí qua đó, sứ
mệnh của con người. Ông tìm đến Đức Phật. Ông nói đến sự tan biến giữa hữu
nghĩa và vô nghĩa của sự vật mà nhà minh triết vĩ đại của phương Đông đã nghiệm
ra.
Có lẽ có một câu hỏi: Vì sao Claude Lévi–Strauss đặt tên cho tác phẩm của
mình là Nhiệt đới buồn?
Quả thật cuốn sách kết thúc trên một âm điệu buồn. Và không phải chỉ ở miền
nhiệt đới, , cho miền nhiệt đới. Nỗi buồn trầm tư của nhân loại đang đứng trên ngã
ba đường, ngoái nhìn lại phía sau, trước một chọn lựa mất còn, và tự hỏi một cách
đau đớn, đồng thời lại vui mừng như một phát hiện cơ bản: chúng ta đã đi đến chỗ
hơn gì tình trạng ban đầu, xa hơn “nơi ta đã cất bước ra đi”?
Cũng có người gọi Nhiệt đới buồn là một thiên tự truyện tinh thần, của một
con người muốn tự soi và tự hiểu mình trong đối chiếu với lịch sử toàn nhân loại từ
thuở khai sinh.