Tải bản đầy đủ (.pdf) (2 trang)

Củ gừng ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.92 KB, 2 trang )

Củ gừng
Gừng là một gia vị rất quen thuộc và hầu như lúc nào cũng có sẵn ở
ngăn bếp của các bà nội trợ. Gừng không những thêm hương vị cho
món ăn mà còn giúp cơ thể tiêu hóa và hấp thụ thức ăn dễ dàng

Ngoài ra, gừng còn là một
vị thuốc quý trong kho tàng y học dân gian mà mỗi người có thể vận dụng
để tự chữa bệnh cho mình.
Gừng có tên khoa học là Zinziber Officinale Rosc, là một loại cây nhỏ, cao
từ 5cm - 1m, thân rễ phát triển thành củ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ
hình mác dài khoảng 15cm-20cm, rộng 2cm, vò lá có mùi thơm đặc trưng
của gừng.


Dược tính và công dụng
Theo y học cổ truyền, gừng có vị cay, tính ấm, vào 3 kinh phế, tỳ, vị, có tác
dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêu đàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu
hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy
thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống. Ngoài tác dụng hạn chế bớt
tính lạnh của các vị thuốc hàn, cách phối hợp này còn giúp cho tỳ vị dễ hấp
thu thuốc và người bệnh khỏi nôn ra đối với những thuốc khó uống. Ngoài
ra tùy theo hình thức sử dụng, gừng có nhiều công dụng khác nhau.
Gừng sống còn gọi là sinh khương có tác dụng phát tán phong hàn, chống
nôn ói. Gừng khô còn gọi là can khương, có tính nóng hơn sinh khương, có
thể làm ấm tỳ vị. Gừng đốt cháy tồn tính còn gọi là hắc khương. Hắc khương
có vị đắng, thường được tẩm đồng tiện, có thể làm ấm can thận, giáng hư
hỏa. Vỏ gừng được gọi là khương bì có tác dụng lợi tiểu. Trong kỹ thuật bào
chế, gừng cũng có thể giúp cho thầy thuốc đạt được một số mục đích quan
trọng. Sinh địa nấu với gừng sẽ hạn chế bớt tính mát. Bán hạ chế với gừng
để giải độc. Một số loại thuốc khác như sâm, đinh lăng cũng thường được
tẩm gừng, sao qua để tăng tính ấm và dẫn vào phế vị.đem lùi: ổi khương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×