Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Vắc-xin phòng chống ung thư cổ tử cung pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.94 KB, 5 trang )

Vắc-xin phòng chống ung thư
cổ tử cung
Gần đây, báo chí trong và ngoài nước loan tin cho biết công
ti dược Merck vừa công bố kết quả thử nghiệm lâm sàng cho
thấy vắc-xin Gardasil có hiệu quả phòng chống ung thư
100%. Trên một số tạp san y khoa ở Mĩ và Âu châu cũng loan
tin này dưới dạng “tin tức”. Phải nói đó là một tiến triển rất
đáng chú ý trong việc phòng chống ung thư cổ tử cung. Nhưng ý
nghĩa của con số “hiệu quả 100%” này là gì đối với y tế công
cộng ở nước ta? Có quả thật vắc-xin có khả năng ngăn ngừa
100% ung thư cổ tử cung? Trong bài viết này tôi sẽ bàn qua hai
vấn đề đó, và hi vọng sẽ cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn
chính xác và trung thực hơn.
Ung thư cổ tử cung tại nước ta là một loại ung thư phổ biến
nhất trong các nước Đông Nam Á. Đặc biệt, tại Thành phố Hồ
Chí Minh và miền Nam nói chung, tỉ lệ phát sinh ung thư hàng
năm (khoảng 26 trên 100.000 phụ nữ) cao gấp 4 lần so với tỉ lệ ở
Hà Nội và phụ nữ Tây phương (1). Tại các nước Tây phương
như Mĩ và Úc có đông người Việt cư trú, vấn đề ung thư cổ tử
cung ở phụ nữ Việt cũng được giới y tế địa phương đặc biệt
quan tâm bởi vì tỉ lệ phát sinh trong cộng đồng người Việt thuộc
vào hàng cao nhất thế giới (2,3).
Hiện nay, y tế có hai sách lược để phòng ngừa ung thư: một
là xúc tiến một phong trào sức khỏe cộng đồng; và hai là truy
tìm ung thư và ngăn ngừa trước khi bệnh xảy ra. Phong trào sức
khỏe cộng đồng là một hình thức tuyên truyền, giáo dục quần
chúng sao cho họ có một cuộc sống lành mạnh, như tập thể dục
thường xuyên, ăn uống điều độ, tránh hay ngưng hút thuốc, giảm
hay tránh uống rượu bia thái quá, cẩn thận trong quan hệ tình
dục, v.v… Truy tìm ung thư có nghĩa là xét nghiệm ung thư; và
nếu ung thư được phát hiện thì chữa trị có thể cứu sống bệnh


nhân, hay ít ra là kéo dài tuổi thọ.
Mặc dù ung thư nói chung là một bệnh có nguyên nhân từ
rối loạn về quá trình sản sinh và tái sản sinh tế bào, nhưng nhiều
bằng chứng trong vòng ba thập niên qua cho thấy ung thư cổ tử
cung xuất phát từ nhiễm trùng. Yếu tố nguy cơ chính gây nên
phần lớn trường hợp ung thư cổ tử cung là virút “human
papilloma virus” (viết tắt là HPV). Theo một nghiên cứu tổng
hợp gần đây, có đến 96% các trường hợp ung thư cổ tử cung có
tiền sử bị nhiễm HPV. Xuất phát từ kết quả trên, các nhà nghiên
cứu đã phát triển được phương pháp xét nghiệm HPV một cách
nhanh và gọn, và phương pháp này đã được áp dụng trong hơn
hai mươi năm qua trên thế giới.
Bởi vì ung thư cổ tử cung một phần lớn liên quan đến nhiễm
trùng, cho nên bước kế tiếp là phát triển vắc-xin để phòng chống
ung thư trước khi bệnh phát sinh. Công ti dược Merck (Mĩ) đã đi
tiên phong trong việc nghiên cứu và sản xuất vắc-xin này (có tên
là Gardasil). Năm vừa qua (2005), Merck thử nghiệm vắc-xin
trên hơn 10.000 phụ nữ trong 33 nước trên thế giới tuổi từ 15
đến 26, và sau 17 tháng theo dõi, kết quả cho thấy trong nhóm
5301 người được chích vắc-xin Gardasil không có ai bị tiền ung
thư (ở giai đoạn 2), nhưng trong nhóm 5258 người không chích
vắc-xin có 21 phụ nữ bị tiền ung thư (4). Một nghiên cứu lớn
khác ở 33.000 phụ nữ tuổi từ 15 đến 25 trong 14 nước cũng cho
thấy kết quả tương tự.
Kết quả rất khả quan trên cộng với những chiêu thức tiếp thị
tinh vi của kĩ nghệ dược phẩm làm cho nhiều người, kể cả giới
bác sĩ, tưởng rằng vắc-xin có hiệu quả ngăn ngừa ung thư cổ tử
cung 100%. Nhưng trong thực tế thì vắc-xin không thể phòng
chống ung thư cổ tử cung 100% được. Để hiểu lí do tại sao, có
lẽ cần phải xem xét qua quá trình phát triển của ung thư như

sau:
Bốn giai đoạn phát triển ung thư
Đối với ung thư cổ tử cung, quá trình phát triển của một tế
bào bình thường đến ung thư được chia ra làm 4 giai đoạn chính,
từ nhẹ đến nặng như sau (5):
 Giai đoạn 1 là bị nhiễm HPV. Như nói trên phần lớn ung
thư cổ tử cung là do nhiễm HPV, nhưng không phải bất cứ
ai bị nhiễm HPV đều có ung thư! Trong thực tế, ở độ tuổi
đôi mươi (hay khi mới có quan hệ tình dục), có khoảng
60% đến 80% phụ nữ bị nhiễm virút HPV; nhưng sau 12
tháng, 70% trong số này không còn bị nhiễm nữa, và sau 24
tháng chỉ còn 9% tiếp tục bị nhiễm HPV.
Sau khi bị nhiễm HPV, một trong ba tình huống lâm sàng sẽ xảy
ra: hoặc là virút chỉ thụ động (tức là chỉ có mặt trong tế bào
nhưng không gây tác hại); hoặc là virút sẽ gây nên một vài bệnh
liên quan đến cổ tử cung; hoặc virút sẽ tiến triển và làm hại tế
bào gây tên tình trạng “tiền ung thư”.
 Giai đoạn 2 là tiền ung thư. Phụ nữ nằm trong tình trạng
này vẫn bình thường, và vẫn chưa thể gọi là mắc bệnh “ung
thư”. Đây chính là giai đoạn mà y khoa muốn nhận bệnh và
ngăn ngừa bệnh trước khi tế bào phát triển thành ung
thư. Chỉ có khoảng 10% phụ nữ bị nhiễm HPV (giai đoạn
1) trở thành tiền ung thư. Phần lớn những phụ nữ bị tiền
ung thư thường ở độ tuổi 25 đến 29. Nói cách khác, thời
gian từ khi bị nhiễm HPV đến tiền ung thư kéo dài từ 5 đến
10 năm. Khoảng 1 phần 3 trường hợp trong giai đoạn này
sẽ không phát triển thành ung thư, nhưng khoảng 12% sẽ
phát triển thành ung thư chưa di căn (giai đoạn 3).
 Giai đoạn 3 là ung thư chưa/không di căn (thuật ngữ y
khoa gọi là carcinoma in-situ). Ở giai đoạn này, tế bào có

dấu hiệu ung thư nhưng chỉ giới hạn trong cổ tử cung, và
do đó điều trị có thể đem lại kết quả khả quan. Một số
trường hợp ung thư cổ tử cung ở giai đoạn này cũng không
phát triển thêm, và một số trường hợp thì bệnh tự nhiên
biến mất!
 Giai đoạn sau cùng là ung thư di căn, tức là tế bào ung thư
xâm lấn sang các cơ phận khác, và đây chính là giai đoạn
nguy hiểm nhất của bệnh. Nhưng chỉ khoảng 1% trường
hợp từ giai đoạn 2 phát triển thành loại ung thư nguy hiểm
ở giai đoạn cuối này. Phần lớn phụ nữ mắc bệnh trong giai
đoạn này là 50 tuổi trở lên, tức sau thời kì mãn kinh.
Do đó, như trình bày trên, không phải bệnh nhân nào cũng
tiến triển từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4. Trong thực tế, có nhiều
trường hợp ung thư ở giai đoạn 2 và 3 tự nhiên dừng lại và
không còn biểu hiện ung thư nữa. Ngay cả quá trình hình thành
và phát triển ung thư thường biến chuyển với tốc độ khác nhau,
tùy thuộc vào hệ thống miễn dịch có đủ mạnh hay không. Do đó,
danh từ “ung thư” trong thực tế bao gồm một số thực thể được
“tiến hóa” bằng nhiều cách khác nhau. Tính trung bình, trong số
1000 phụ nữ sống đến 90 tuổi, sẽ có khoảng 4 phụ nữ bị ung thư
tử cung trước khi qua đời.
Vắc-xin phòng chống bao nhiêu ung thư ?
Ở đây cần phải hiểu rõ rằng nghiên cứu trên chỉ cho chúng ta
biết vắc-xin chỉ có hiệu quả ngăn ngừa tiền ung thư (tức giai
đoạn 2), chứ không phải ngăn ngừa ung thư ở giai đoạn chưa di
căn hay giai đoạn di căn.
Thế thì câu hỏi đặt ra là nếu vắc-xin có hiệu quả ngăn ngừa
tiền ung thư 100%, và với quá trình phát triển ung thư như trình
bày trên, thì vắc-xin này sẽ ngăn ngừa bao nhiêu trường hợp ung
thư trong một dân số? Chúng ta chưa có câu trả lời cho câu hỏi

này, bởi đơn giản là chưa có nghiên cứu nào theo dõi một quần
thể từ lúc bị nhiễm HPV, tiêm chủng vắc-xin, cho đến khi ung
thư cổ tử cung phát sinh. Một nghiên cứu như thế kéo dài nhiều
thập niên và không thực tế.
Cho nên, câu trả lời không đơn giản, và phải dựa vào mô
hình toán học. Nói một cách ngắn gọn, hiểu quả của vắc-xin
trong một quần thể tùy thuộc vào các giả định về hiệu quả phòng
chống tiền ưng thư, và tỉ lệ vắc-xin là bao nhiêu. Ở mức độ đơn
giản nhất, giả dụ như chúng ta tiêm chủng vắc-xin cho 100%
phụ nữ ở độ tuổi vị thành niên (trước khi có quan hệ tình dục),
thì vắc-xin sẽ ngăn ngừa được khoảng 51% ung thư chưa di căn
và di căn.


×