Chết vì các bệnh thoát vị
Thực tế điều trị đã ghi nhận có trường hợp bị biến
chứng nặng, tử vong do chậm trễ điều trị thoát vị.
Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức và
chuyên gia Hàn Quốc điều trị lấy
thoát vị đĩa đệm qua da. Ảnh bệnh
viện cung cấp.
Do bệnh tồn tại trong khoảng thời gian dài mà không ảnh
hưởng gì đến chức năng cơ thể, cũng như không gây khó
chịu đáng kể nên có không ít người nhầm tưởng bệnh
thoát vị không nguy hiểm. Thực tế điều trị đã ghi nhận có
trường hợp bị biến chứng nặng, tử vong do chậm trễ điều
trị.
Các loại thoát vị vùng bụng
Thoát vị là từ dùng để chỉ tình trạng một bộ phận nào đó
của cơ thể bị đẩy ra khỏi vị trí bình thường được giới hạn
của nó trong cơ thể. Tình trạng này làm ảnh hưởng đến
cấu trúc hay chức năng của bộ phận đó hoặc các bộ phận
khác. Ở vùng bụng có thể có những loại thoát vị sau:
Thoát vị thành bụng: một chỗ thành bụng có lớp cân cơ bị
hở hoặc yếu (do vết sẹo mổ hoặc chấn thương, do bẩm
sinh) làm ruột hoặc mỡ chài lòi ra qua chỗ yếu này và đội
da bụng phồng lên thành một khối.
Thoát vị rốn: rốn là một sẹo tự nhiên của cơ thể. Nếu sau
khi cuống rốn rụng, sự lành sẹo chỉ xảy ra ở lớp da, còn
lớp cân cơ thì không liền sẹo chắc, sẽ xảy ra thoát vị qua
chỗ yếu này (kiểu thoát vị thành bụng). Trẻ nhỏ khóc
nhiều, ho nhiều làm tăng áp lực ổ bụng là điều kiện thuận
lợi để bị thoát vị rốn.
Thoát vị bẹn: dân gian còn gọi là bệnh ruột thòng, sa ruột.
Trong bệnh này, chỗ yếu của thành bụng là vùng bẹn, ruột
và mỡ chài chui qua đó, có thể xuống đến bìu. Đây là loại
thoát vị thường gặp nhất do bẹn là vùng mà cơ thành bụng
không bao bọc kín, vì phải cho thừng tinh đi qua từ bụng
xuống bìu, mỗi người đều có đến hai bẹn (phải và trái).
Thoát vị đùi: là thoát vị qua “lỗ đùi”, phồng ra vùng đùi
ngay dưới nếp bẹn.
Ngoài ra còn phải kể đến “thoát vị bên trong” là thoát vị
qua các khe, lỗ bẩm sinh hay mắc phải bên trong ổ bụng.
Bệnh không biểu hiện thành khối phồng lên ngoài thành
bụng, nên bệnh nhân hoàn toàn không hay biết trước khi
có các biến chứng xảy ra.
Cảnh giác khối phồng bất thường
Ngoài loại thoát vị bên trong, các loại thoát vị còn lại rất
dễ nhận biết bởi sự xuất hiện một khối phồng lên bất
thường ở các vị trí thành bụng, tương ứng với chỗ thoát
vị. Khối này mềm, lùng nhùng, không đau hay chỉ cảm
giác tưng tức nếu không bị biến chứng nghẹt. Khi đi
đứng, ho rặn thì khối thoát vị xuất hiện và to ra. Khi nằm
nghỉ thì tự nhỏ lại hoặc biến mất. Đôi khi phải dùng tay
đẩy ép mới đẩy được khối thoát vị biến vào trong bụng.
Các vị trí thoát vị thường là vùng bẹn một hay hai bên, có
thể xuống bìu, vùng rốn, vùng vết mổ ở bụng. Nếu tồn tại
lâu, khối thoát vị có thể bị kẹt lại và lúc nào cũng phồng,
không đẩy xẹp được. Trường hợp biến chứng nghẹt thì
bệnh nhân rất đau ở khối thoát vị, kèm theo có thể có
những biểu hiện tắc ruột như đau quặn bụng, nôn ói, bí
trung đại tiện, trướng bụng. Nặng hơn nữa có thể nhiễm
trùng, nhiễm độc và choáng.
Bệnh thoát vị có thể tồn tại trong khoảng thời gian dài mà
không ảnh hưởng gì đến chức năng cơ thể và không gây
khó chịu đáng kể. Tuy nhiên, không sớm thì muộn sẽ gây
ra những hậu quả ở những mức độ khác nhau. Khối thoát
vị lớn dần theo thời gian gây cảm giác căng tức và vướng
víu khó chịu trong sinh hoạt. Khối này kẹt không xẹp
xuống được mà lúc nào cũng phồng to, gây khó chịu và
mất thẩm mỹ. Biến chứng nghẹt là hậu quả nghiêm trọng
nhất, gây hoại tử thành phần bên trong túi thoát vị (ruột,
mỡ chài) làm bệnh nhân đau dữ dội, và thậm chí có thể
dẫn đến tử vong nếu không phẫu thuật cấp cứu kịp thời.
Có chữa khỏi thoát vị?
Điều trị khỏi bệnh thoát vị chỉ có một chọn lựa duy nhất
là phẫu thuật. Những trường hợp có chống chỉ định phẫu
thuật không thể mổ (bệnh nhân có bệnh khác quá nặng,
thể trạng quá suy kiệt, rối loạn đông máu bẩm sinh ) thì
không chữa khỏi mà chỉ dùng những biện pháp giảm nhẹ
như mặc quần thun ôm sát vùng bẹn nếu thoát vị bẹn,
mang đai bụng nếu thoát vị thành bụng, hạn chế gắng sức,
điều trị các chứng bệnh gây tăng áp lực bụng.
Ngoại trừ biến chứng nghẹt phải mổ cấp cứu, bệnh thoát
vị không cần phải mổ gấp. Tuy nhiên, bệnh không thể
chữa khỏi nếu không phẫu thuật nên cần phải mổ càng
sớm càng tốt. Nếu để lâu, khối thoát vị sẽ lớn dần và khó
phẫu thuật hơn, chưa kể nguy cơ biến chứng nghẹt có thể
xảy ra bất cứ lúc nào.
Nên mổ mở hay mổ nội soi?
Ngày xưa có rất nhiều phương pháp phẫu thuật thoát vị
bẹn, bụng theo kỹ thuật mổ mở. Tuy nhiên, các phương
pháp này đều có một hạn chế chung là tỷ lệ tái phát khá
cao, từ 5 – 10%. Hiện nay, nhờ công nghệ tiên tiến chế
tạo ra các mảnh ghép nhân tạo để đặt vào diện yếu của vị
trí thoát vị, kết quả phẫu thuật cải thiện hơn nhiều. Đặt
các mảnh ghép này có thể qua phẫu thuật mở hoặc nội soi.
Mổ nội soi ngoài ưu điểm sẹo mổ nhỏ, ít đau, mau bình
phục còn có ưu điểm nổi bật là không có tái phát nếu mổ
đúng kỹ thuật. Đa số trường hợp đều có thể mổ nội soi,
ngoại trừ trẻ em và các trường hợp thoát vị kẹt hoặc
nghẹt. Mổ mở cũng rất nhẹ nhàng và kết quả tốt ở trẻ em