GS Nguyễn Tài Cẩn – Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt
Lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo) của Nguyễn Tài Cẩn, xuất bản năm 1995,
là một cuốn sách trong “cụm công trình” được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Qua 350 trang sách, tác giả đã bước đầu trả lời câu hỏi nói trên.
GS Cẩn và các học trò của ông đã vận dụng có phê phán phương pháp
Swadesh, tức phương pháp ngữ thời học (grottochronology). Đó là phương
pháp xuất phát từ quan niệm cho rằng, qua thời gian, việc thay thế từ vựng cơ
bản cổ bằng từ vựng mới là một việc xẩy ra theo quy luật chung cho mọi ngôn
ngữ. Nếu hai ngôn ngữ hay hai phương ngữ A, B cùng gốc tách nhau khoảng
1.000 năm, thì trong bảng từ vựng chúng chỉ còn giữ lại 74% là chung; nếu
tách nhau 2.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chiếm khoảng 54%; tách
nhau 4.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chỉ chiếm khoảng 30%.
Ông khiêm tốn gọi cuốn giáo trình nói trên là “sơ thảo”. Nhưng thật ra, đó là
một công trình lớn, có tính chất mở đường. Để viết giáo trình ấy, ông đã phải
tham khảo hàng trăm công trình nghiên cứu tiếng Việt, tiếng Mường và các
ngôn ngữ bà con gần xa như các thứ tiếng: Nguồn, Pọng, Mày, Rục, Sách, Mã
Liềng, A-rem, Thà Vựng, Pakatan, Phon Soung, Khạ Phong…
Nhận diện họ hàng gần xa của tiếng Việt
Nếu hai ngôn ngữ hay hai phương ngữ A, B cùng gốc tách nhau khoảng 1.000
năm, thì trong bảng từ vựng chúng chỉ còn giữ lại 74% là chung; nếu tách nhau
2.000 năm, thì số từ vựng chung còn lại chiếm khoảng 54%; tách nhau 4.000
năm, thì số từ vựng chung còn lại chỉ chiếm khoảng 30%.
Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học quốc tế gần như nhất trí: Tiếng Việt là một
ngôn ngữ thuộc họ Nam á, ngành Môn-Khmer, trong tiểu chi Việt-Chứt; quan
hệ với tiếng Thái-Kadai dù khá xa xưa, quan hệ với tiếng Hán dù khá sâu đậm,
nhưng đó vẫn chỉ là quan hệ tiếp xúc, chứ không phải họ hàng gần. Để có thể
hình dung một “ngành” như ngành Môn-Khmer trong ngôn ngữ học phức tạp
đến mức nào, ta có thể xem Từ điển Bách khoa Britannica III. Thì ra, trong
“ngành” ấy, có hơn… 100 ngôn ngữ! GS G. Diffloth đã lập “bản đồ” về 100
ngôn ngữ đó.
Tiểu chi Việt-Chứt là tiểu chi có đông người nói nhất trong ngành Môn-
Khmer, chỉ tính riêng ở Việt Nam, vào thời điểm cuốn sách của Nguyễn Tài
Cẩn được in, đã có hơn 60 triệu người. Trong khi ở tiểu chi Khmer chỉ có 7
triệu người; còn ở các tiểu chi khác, mỗi tiểu chi chưa đến 1 triệu người.
Về ngữ âm tiếng Việt thế kỷ 17, cứ liệu Nguyễn Tài Cẩn sử dụng trước hết là
cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum- Latinum)
của Alexandre de Rhodes in năm 1651 ở Rome, Italy.
Đi ngược lên thế kỷ 15-16, Nguyễn Tài Cẩn tham khảo tài liệu An Nam dịch
ngữ, một danh sách hơn 700 mục từ tiếng Việt được người Trung Quốc dịch
nghĩa và phiên âm qua chữ Hán để dùng trong ngoại giao.
Ngược dòng thời gian xa hơn nữa, thì cứ liệu quan trọng nhất là hệ thống ngữ
âm ở các vùng thổ ngữ Mường. Cách đây khoảng 1.200 năm, Việt và Mường
cùng dùng chung một tiếng.
Về tiếng Mường, TS Nguyễn Văn Tài, một cộng sự gần gũi của GS Nguyễn
Tài Cẩn, đã dày công điều tra 29 thổ ngữ Mường và công bố trong luận án tiến
sĩ năm 1983. 29 thổ ngữ đó được xếp vào 9 nhóm nằm rải rác tại các tỉnh Bắc
Bộ và bắc Trung Bộ, từ Mường Phong, Mường Thái, Mường Bi đến Giai
Xuân, Tân Hợp, Sông Con, v.v. Cũng là tiếng Mường, nhưng người Mường
vùng này gọi là con trâu con, thì vùng kia gọi là con nghé; vùng này gọi là
chiêng, thì vùng kia gọi là cồng; vùng này gọi là chân, vùng kia gọi là giò…
Cũng để chỉ một con vật như nhau, nhưng người Mường nhóm 6 gọi là con dải,
trong khi người Mường nhóm 7 lại gọi là con ba ba. Cũng là một hành động
như nhau, nhưng người Mường nhóm 8 gọi là chửi, trong khi người Mường
nhóm 9 lại gọi là bới, v.v.
Những nghiên cứu của GS Nguyễn Tài Cẩn và các học trò của ông như TS
Nguyễn Văn Tài giúp cho những ai yêu tiếng Việt – trước hết là các nhà văn,
nhà báo – hiểu tiếng Việt sâu xa hơn và, nhờ vậy, dùng tiếng Việt cẩn trọng
hơn, chính xác hơn. Đọc cuốn sách ấy rồi, ít ai còn dám tự mãn nghĩ rằng mình
đã hiểu đến tận ngọn nguồn tiếng mẹ đẻ!
Kiếm tìm trong lịch sử xa xăm
Ngược lên quá khứ xa xăm hơn nữa, khoảng 3.000 năm trước, chỗ dựa chủ yếu
để nghiên cứu là các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở vùng núi khu Bốn
như tiếng Sách, tiếng Rục, tiếng Mày, tiếng Mã Liềng, tiếng A-rem, và ở vùng
bên kia biên giới Việt-Lào như tiếng Thà Vựng, tiếng Ahơ…
So sánh tiếng Việt với tiếng A-rem hay tiếng Maleng, tức là những ngôn ngữ
đã tách khỏi tiếng Việt cách đây 2.300-2.500 năm, ta sẽ biết trạng thái khi hai
bên còn chung một ngôn ngữ: trạng thái từ 2.500 năm trở về trước.
Căn cứ số liệu tính toán đã được công bố theo phương pháp ngữ thời học, thì
tiểu chi Việt-Chứt tách khỏi Việt-Katu cách đây khoảng 4.000 năm. ở sơ kỳ
của nó, tiểu chi Việt-Chứt chưa cách xa khỏi khối Katu bao nhiêu. Để nghiên
cứu giai đoạn này, ta sẽ tìm cứ liệu ở các tiểu chi khác trong ngành Môn-
Khmer.
Rất nhiều tộc người thiểu số, sống ở đông và tây Trường Sơn, nói các thứ thổ
ngữ “líu lo như chim hót”, nghe rất lạ tai, hoá ra trong quá khứ xa xăm, họ đã
từng nói cùng một thứ tiếng với người Việt!
Còn về ảnh hưởng sâu xa của tiếng Hán đối với tiếng Việt thì, như ta đã biết,
GS Cẩn đã có một cuốn sách chuyên khảo riêng.
GS Cẩn cũng cẩn thận tìm lai nguyên của hệ thống phụ âm đầu (âm mũi, âm
tắc, âm xát…), lai nguyên của các nguyên âm dòng trước (e, ê, i, iê), các
nguyên âm dòng giữa (a, ă, ư, ơ, â, ươ), của hệ thống âm cuối (m/p, n/t, ng/c,
u/o (w), i/y (j), và lai nguyên của âm đệm w. Rồi tìm lai nguyên của hệ thống
thanh điệu (ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng).
Ông phân tích, tổng hợp các kết quả thu thập được của các đồng nghiệp trong
nước và nước ngoài để rút ra kết luận.
Chẳng hạn, M. Ferlus không những nghiên cứu sâu về ngôn ngữ Tiền Việt-
Mường (Vietnamien et Proto-Vietmuong, 1975), mà còn khảo sát cả phương
ngữ Vinh (La dialecte vietnamien de Vinh, 1991)… M. E. Barker nghiên cứu
các âm vị Mường (The Phonemes of Muong, 1968), các phụ âm cuối và
nguyên âm Tiền Việt-Mường (Proto-Vietnamuong Final Consonants and
Vowels, 1970)…
Bao nhiêu bạn trẻ biết chữ Nôm?
GS Mỹ Keith W. Taylor, nhà Việt Nam học nổi tiếng của Đại học Cornell
(Mỹ), sang Hà Nội, nhờ GS Nguyễn Tài Cẩn dạy chữ Nôm cho. Chị Y. S.
Wang viết luận án tiến sĩ về chữ Nôm. Còn chị Olga Dror thì lại viết luận án
tiến sĩ về bà chúa Liễu Hạnh…
Kỳ trước, tôi đã nhắc đến chị Barbara Niedeer viết luận án tiến sĩ về tiếng
Hmông-Dao, rồi dịch cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán-
Việt của Nguyễn Tài Cẩn ra tiếng Pháp.
Mới đây nhất, trong hai ngày 11 và 12/4/2008, tại Đại học Temple (Mỹ), đã
diễn ra Hội nghị Nôm học quốc tế để thông báo về những kết quả mới nhất
trong việc nghiên cứu chữ Nôm. Đã 82 tuổi, GS Cẩn không sang dự được, mà
chỉ gửi đi bản báo cáo: Một số vấn đề về ngành Nôm học. Ông cho biết, hiện
nay, chúng ta có hai loại văn bản Nôm: loại đã được khắc in mộc bản và loại ở
dạng chép tay. Ông muốn nói về loại thứ nhất, vì những cuộc tranh luận gần
đây (như về Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Hoa tiên, v.v) đều liên quan đến
loại này. Trong báo cáo đó, GS Cẩn thông báo về việc ông phát hiện một số
chữ Nôm cổ còn giữ dấu vết kỵ huý đời Trần.
Tuy nhiên, chúng tôi không định đi sâu hơn vào học thuật mà chỉ muốn lưu ý
bạn đọc rằng: Chữ Nôm, văn tự cổ của Việt Nam, hiện đang được nhiều nước
biết tới, trong khi ở nước ta thì sao? Đốt đuốc đi tìm cũng khó thấy những bạn
trẻ nào còn đọc nổi!
Rồi đây, sẽ có những bạn trẻ nào ở nước ta nuôi chí lớn kế tục sự nghiệp của
các học giả lớp trước, dũng cảm bước vào ngành Nôm học hay rộng hơn Việt
Nam học, Đông phương học như Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, Đặng Thai
Mai, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Hà Văn Tấn,
Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đức Từ Chi, Phan Huy Lê, Trần
Đình Hượu…?
Nếu Nhà nước ta không lo lắng, kịp thời thu hút và đào tạo những tài năng trẻ,
thì e rằng không lâu nữa, chúng ta sẽ rất thiếu những nhà Việt Nam học có tầm
cỡ!
Tôi nhớ mãi điều nghịch lý mà GS Cẩn nói khi chia tay tôi, trở về với vợ con
ông hiện đang sống ở Matxcơva.
_______________________________________________________________
________
Đăng trong Chân dung các nhà ngôn ngữ học, Lịch sử tiếng Việt | Tagged: họ
hàng gần xa, lịch sử ngữ âm tiếng Việt, ngành Môn-Khme, nghiên cứu Việt
Nam học, phương pháp ngữ thời học, phương pháp Swadesh, tiếng Việt nghìn
năm trước, tiếng Việt-Mường chung, tiểu chi Việt-Chứt | Leave a Comment »
GS Nguyễn Tài Cẩn – Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt
Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 2, 2011
Hàm Châu
Kỳ II: Lội ngược dòng hơn mười thế kỷ
(Dân trí) – Tìm rõ cách đọc chữ Hán ở kinh đô Trường An (Trung Quốc) đời
Đường, so sánh với hệ thống ngữ âm tiếng Việt thời ấy, để xác định cội rễ của
cách đọc Hán-Việt và những biến đổi qua các thế kỷ sau của cách đọc ấy.
Cách đọc Hán – Việt bắt nguồn từ đâu?
Không chỉ các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, mà cả giới Đông
phương học quốc tế cũng chú ý đến cách đọc Hán-Việt. Bởi vì, muốn nghiên
cứu tiếng Hán trung đại, nghiên cứu cách đọc tiếng Hán ở Nhật Bản theo Go-
On (Ngô âm) hay theo Kan-On (Hán âm), hoặc cách đọc tiếng Hán ở Triều
Tiên theo cách đọc Hán-Triều, đều rất cần sự so sánh, viện dẫn cách đọc Hán-
Việt, để rút ra những kiến giải.
Cứ liệu lịch sử cho biết, ngay từ đời nhà Hán, một số Thái thú Trung Hoa như
Tích Quang, Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp đã bắt đầu truyền bá văn hóa Hán ở vùng
Giao Chỉ, Cửu Chân. Sĩ Nhiếp (187-236 sau CN), Thái thú Giao Châu, mở
trường dạy học tại Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh hiện nay), thu hút rất
đông sĩ tử, được các sử gia người Việt thời sau suy tôn làm “Nam giao học tổ”
(ông tổ việc học đất phương Nam).
Gần đây, đền thờ và lăng mộ Sĩ Nhiếp ở Luy Lâu được Nhà nước ta công nhận
là di tích lịch sử – văn hóa.
Nhưng phải đến đời Tùy-Đường thì trình độ Hán học ở Giao Châu mới có thể
sánh với Trung Nguyên. Khương Công Phụ, người làng Cổ Hiểm, huyện Cửu
Chân, Ái Châu (nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) đến Trường An
(nay là Tây An, tỉnh Thiểm Tây), kinh đô nhà Đường, dự thi Hội, đỗ Tiến sĩ.
Ông được Hoàng đế nhà Đường mời lưu lại Trường An, về sau, làm đến chức
Tể tướng Trung Hoa, hiện vẫn còn lưu truyền bài phú Bạch vân chiếu xuân hải.
Em trai ông là Khương Công Phục làm đến chức Lang trung Bộ Lễ, cũng ở
Trường An.
Các nhà Đông phương học hầu như nhất trí cho rằng cách đọc Hán-Việt hiện
nay chính là bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán đời Đường (618-907 sau CN) tại
kinh đô Trường An, từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán được dạy lần cuối cùng tại
Giao Châu trước khi Việt Nam giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10.
Từ thế kỷ thứ 10 đến nay, cách đọc Hán-Việt tuân theo quỹ đạo phát triển của
tiếng Việt, không còn lệ thuộc vào những gì biến đổi trong ngữ âm tiếng Hán ở
bên kia biên giới. Nhiều thế kỷ trôi qua, hai cách đọc chữ Hán của người Hán
và của người Việt ngày càng khác xa nhau, đến mức một người uyên thâm Hán
ngữ như Phan Bội Châu khi gặp Lương Khải Siêu ở Trung Quốc, chỉ có thể…
bút đàm!
Lớp từ Hán-Việt ngày càng lọt sâu vào kho từ vựng tiếng Việt, những nét xa lạ
về mặt ngữ âm mất dần và rồi trở thành một bộ phận khăng khít – chứ không
phải được “cấy ghép” – của hệ thống Việt ngữ.
Kiến giải riêng từ hàng vạn trang sách
Trên đây, để cho dễ lĩnh hội, tôi đã tóm lược những kết luận cuối cùng. Tất
nhiên, trước khi đi đến những kết luận như thế, Nguyễn Tài Cẩn phải bỏ ra biết
bao công sức! Chẳng hạn, nói rằng cách đọc Hán-Việt hiện nay là bắt nguồn từ
cách đọc chữ Hán đời nhà Đường ở Trường An, vậy thì, vào đời ấy, người
Trung Hoa ở kinh đô của họ đọc chữ Hán ra sao? Tiếng Hán đời ấy có những
phụ âm, những vần và những thanh điệu nào? Nếu sử dụng cách phiên âm quốc
tế hiện nay để ghi lại, thì phải dùng những ký hiệu nào? Nhà khoa học không
thể “phán” nếu thiếu luận cứ.
Và nữa, cách đọc chữ Hán của người Việt hồi thế kỷ thứ 8-9 là như thế nào?
Gồm những phụ âm, những vần và những thanh điệu nào? Từ thế kỷ thứ 10
đến thế kỷ thứ 20, cách đọc Hán-Việt đã biến đổi ra sao?
Để trả lời những câu hỏi ấy, phải sử dụng những phương pháp hiện đại của ngữ
âm học lịch sử mà, nếu trình bày trong bài báo này, thì sẽ đi quá sâu vào học
thuật, sẽ phải sử dụng nhiều biểu bảng, nhiều chữ Hán, chữ Nôm, chữ Anh,
chữ Pháp, chữ Nga, nhiều ký hiệu phiên âm quốc tế, rất khó in trên báo chí phổ
thông và gây “đau đầu nhức óc” cho bạn đọc không chuyên.
H. Maspéro đã viết bằng tiếng Pháp cuốn Tiếng địa phương Trường An đời
Đường (Le dialecte de Tchang-an sous les Tang). B. Karlgren cũng viết bằng
tiếng Pháp cuốn Khảo sát âm vị học tiếng Hán (études sur la phonologie
chinoise). Đặc biệt, cuốn Thiết vận của nhóm Lục Pháp Ngôn ở Trường An
đầu thế kỷ thứ 7 là tài liệu tham khảo quan trọng đối với Nguyễn Tài Cẩn.
Đọc hàng vạn trang sách bằng các thứ chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ, Anh, Pháp,
Đức, Nga, Nhật… về vấn đề liên quan, đưa ra thêm những luận cứ mới, những
kiến giải riêng, Nguyễn Tài Cẩn đã soi rọi đến tận ngọn nguồn cách đọc Hán-
Việt, một cách đọc đã giúp người Việt Nam dễ dàng tiếp nhận những tinh hoa
của văn hóa Hán – một trong hai nền văn hóa lớn nhất phương Đông – mà
không bị “Hán hóa”.
“Chao ôi, thầy kỹ tính quá!”
Chiều hôm ấy, trời lâm thâm mưa. Ông Trần Trí Dõi, Phó Chủ nhiệm khoa
Ngôn ngữ trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc ĐHQG Hà Nội)
đưa chị Barbara Niedeer đến nhà GS Cẩn ở một ngõ nhỏ bên đường Hoàng
Quốc Việt. Dép bê bết bùn, chị Barbara vừa bước vào nhà vừa vội vã nói:
- Em sắp trở lại Paris. Em đã dịch xong cuốn sách của thầy ra tiếng Pháp.
Mong thầy cho phép em đưa in bản dịch.
- Cuốn nào thế nhỉ? GS Cẩn hỏi.
- Cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán – Việt ạ! Trước kia,
em chẳng chú ý mấy đến cuốn sách ấy. Nhưng thầy A. G. Haudricourt “bắt”
em đọc! Đọc rồi, em mới cảm thấy hay. Và em quyết định phải dịch. Em nghĩ
cuốn sách của thầy sẽ giúp ích nhiều cho các nhà Đông phương học trên thế
giới, nếu họ có trong tay bản dịch tiếng Pháp…
Barbara Niedeer viết luận án tiến sĩ về tiếng Hmông-Dao. Chị đã từng sống
nửa năm trên bản Hmông cao chót vót. Là người Pháp gốc Thụy Sĩ, chị thông
thạo các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, biết cả tiếng Trung Quốc,
Việt, Hmông, Dao. Chị hiện làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa
học Pháp (CNRS) và là học trò yêu của thầy A. G. Haudricourt, nhà Đông
phương học nổi tiếng thế giới.
- Tôi rất cảm ơn cô! Nhưng mong cô thông cảm cho: Gần đây, tôi nghe nói bên
Mỹ vừa xuất bản cuốn A Handbook of Old Chinese Phonology (Sách chỉ dẫn
về ngữ âm tiếng Hán cổ) của W. H. Baxter, dày tới 900 trang. Tất nhiên, đó là
cuốn sách viết về tiếng Hán cổ, nhưng rất có thể có liên quan phần nào đến
cách đọc Hán-Việt. Tôi cần tham khảo cuốn sách đó để, nếu cần, thì chỉnh lý
đôi chút cuốn sách của mình cho cập nhật. Cô chịu khó chờ một thời gian nhé!
- Chao ôi, thầy kỹ tính quá! – Barbara thất vọng kêu lên.
“Giờ thì mình hết băn khoăn”
Tháng 11/2001, tôi gặp lại GS Nguyễn Tài Cẩn tại Hà Nội sau một thời gian
dài ông sống và làm việc cùng vợ tại Matxcơva. Vợ ông, GS N. V.
Stankyevich, là một nhà ngôn ngữ học người Nga chuyên nghiên cứu tiếng
Việt và tiếng Hán. Trước kia, bà sống và làm việc tại Việt Nam. Sau khi về
hưu, do sức khỏe kém, bà trở về Nga. GS Cẩn theo vợ về bên ấy để tiện cho
các con chăm sóc.
Thấy tôi đến thăm, GS Cẩn đưa cho xem bản in thử cuốn Nguồn gốc và quá
trình hình thành cách đọc Hán-Việt sắp tái bản. Phải nói rằng việc xử lý trên
máy tính bản thảo cuốn sách này thật… quá ư phiền toái! Trong một câu văn,
thường có cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán (phồn thể) và ký hiệu phiên âm quốc tế.
Rồi, để cho dễ tra cứu, phải giữ nguyên dạng chữ Pháp, chữ Anh, chữ Đức,
chữ Nga… ít ai dám nhận việc sửa bản in thử, ngoài tác giả!
- Chắc bây giờ anh vui lòng để chị Barbara Niedeer đưa in bản dịch tiếng Pháp
cuốn sách này rồi chứ? – Tôi hỏi.
- Vừa rồi, mình đã đọc kỹ cuốn Sách chỉ dẫn ngữ âm tiếng Hán cổ của W. H.
Baxter. Rồi đọc cả cuốn Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Hán cổ của nhà
bác học Nga S. A. Starostin. Hai ông đưa ra một số luận điểm về ngữ âm tiếng
Hán cổ mà mình rất thích. S. A. Starostin ghi là đã tham khảo sách của mình.
W. H. Baxter cũng chủ trương Thiết vận có 8 nguyên âm như trong sách của
mình. Giờ thì mình hết băn khoăn…
- Thế anh đã trả lời chị Barbara chưa?
- Mình sẽ gửi email cho cô ấy.
(Còn nữa)
_______________________________________________________________
Đăng trong Chân dung các nhà ngôn ngữ học, Lịch sử tiếng Việt | Tagged:
cách đọc Hán-Việt, Nhà ngôn ngữ học xứ Nghệ, Nhà nghiên cứu Hán Nôm,
nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt | Leave a Comment »
GS Nguyễn Tài Cẩn – Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt
Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 2, 2011
Hàm Châu
Kỳ I: Những câu hỏi “muôn năm cũ”
(Dân trí) - Tại sao người Việt đọc tiếng Hán mà cứ y như đọc tiếng Việt? Cách
đọc Hán-Việt có từ bao giờ? Nó đã biến đổi ra sao qua bao nhiêu thế kỷ?
Nguyễn Tài Cẩn muốn trả lời những câu hỏi “muôn năm cũ” ấy.
Là người Việt Nam đầu tiên đỗ tiến sĩ ngôn ngữ học tại Liên Xô (cũ), ông trở
thành giáo sư, rồi được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Các công trình của ông
nhằm giải quyết những vấn đề về ngữ pháp, ngữ âm tiếng Việt, về nguồn gốc
và cách đọc Hán-Việt, về chữ Nôm, văn bản Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm,
Hoa tiên, Thu dạ lữ hoài ngâm… Ông được mời đến giảng dạy tại Nga, Mỹ,
Pháp, Nhật…
Chọn hướng nào đây giữa tuổi xuân mơ mộng?
Thuở nhỏ, tôi sống trong nhà bác tôi, cụ Cử nhân Nho học Nguyễn Văn Hạp,
cùng ông nội tôi cụ Phó bảng Nguyễn Văn Chấn, tại khu Lục Bộ giữa Đại Nội,
Huế. Hai phía tường nhà bác tôi giáp nhà cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm,
phụ thân BS Nguyễn Khắc Viện, và nhà cụ Phó bảng Phan Võ, phụ thân GS
Phan Ngọc.
Tôi vẫn nghe anh Nguyễn Văn Hường, con bác tôi, khen anh Nguyễn Tài Cẩn
học giỏi lắm, mà lại đẹp trai, nước da trắng hồng, râu mép cạo nhẵn phớt xanh.
Năm đầu, anh Cẩn học Trường trung học Thuận Hóa, một trường tư do ông
Tôn Quang Phiệt mở, mời được nhiều thầy giỏi nổi tiếngvề dạy như Đào Duy
Anh, Hoài Thanh… Năm sau, anh thi đỗ vào Trường Quốc học Huế, và rồi từ
đó, năm nào anh cũng đứng đầu lớp, nhận học bổng toàn phần.
Anh Cẩn học giỏi đều các môn, nhất là môn tiếng Pháp. Anh nuôi kỳ vọng viết
văn… Tây! Một lần đến thăm thầy cũ Hoài Thanh, anh bộc bạch với thầy kỳ
vọng ấy. Không ngờ thầy bảo:
- Mình là dân An Nam, học tiếng Tây ở xứ “bảo hộ”, làm sao có thể viết văn
Tây hay bằng các ông, bà nhà văn Tây như ông Honoré de Balzac hay bà
George Sand bên “chính quốc” được ?
Sau lần đó, anh Cẩn chuyên tâm học tiếng Việt hơn. Rồi anh đâm ra mê làm
thơ Việt! Hôm ấy, anh mạnh dạn đem một tệp thơ do anh mới “sáng tác” đến
nhờ ông Nguyễn Đình Thư nhận xét. Năm 1942, trong cuốn Thi nhân Việt
Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân từng khen thơ Nguyễn Đình Thư: “Thể hiện
một mối buồn âm thầm, lặng lẽ, thấm thía vô cùng, cái buồn không nước mắt,
cái buồn của điệu Nam Bình trên sông Hương”.
Đọc tệp thơ của anh Cẩn, “nhà thơ mới” Nguyễn Đình Thư liền vui vẻ động
viên: “Có triển vọng đó!”
Mấy hôm sau, tới thăm thầy cũ Đào Duy Anh, anh xin thầy cho biết ý kiến về
tệp thơ kia, với hy vọng thầy cũng sẽ khen hay. Nào ngờ thầy chỉ lơ đãng đọc
lướt qua, rồi chậm rãi nói:
- Làm thơ, nếu quả có tài năng thiên phú như Hồ Xuân Hương, Tú Xương hay
Tản Đà, Xuân Diệu… thì hãy làm! Chứ nếu không, thì chỉ… toi công! Làm cả
nghìn bài, chưa chắc đã có một bài “sống sót” qua năm tháng! Lúc trẻ, mộng
mơ nhiều, ưa nói những lời to tát, nhưng rồi, nửa đời nhìn lại, bỗng thấy…
trắng tay! Còn nếu làm nhà học giả, thì chỉ cần thông minh, bền chí, có phương
pháp tốt, có óc tìm tòi, ắt “kiến tha lâu đầy tổ”, sẽ tới ngày có được những
khám phá độc đáo với “tuổi thọ” khá cao.
Lời khuyên chí lý của cụ Đào giúp anh Cẩn dứt khoát “hướng nghiệp” đời
mình. Anh trở thành nhà Việt ngữ học, chứ không phải nhà thơ.
Thơ Nguyễn Du sai ngữ pháp?
Đầu những năm 1960, nghe nói có vị giáo viên văn trung học say sưa phân tích
trước lớp về câu thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Giếng vàng đã rụng một
vài lá ngô”.
- Cái gì đã rụng? – Vị giáo viên kia hỏi.
- Thưa thầy, cái giếng.
- Rụng cái gì?
- Thưa thầy, lá ngô.
- Cái giếng làm sao có lá để mà rụng? Vậy thì, giếng vàng làm sao có thể làm
chủ ngữ cho động từ đã rụng? Câu thơ nói trên lẽ ra phải viết: “Một vài chiếc
lá ngô đồng đã rụng bên bờ giếng dưới ánh nắng thu vàng”.
Vị giáo viên nhếch mép cười khoan dung, rồi nói tiếp: Nhưng, chúng ta không
chê trách Nguyễn Du. Cụ khó tránh khỏi những hạn chế của thời đại Cụ! Cách
đây hai thế kỷ, khi Nguyễn Du còn ngồi trên ghế nhà trường chưa có sách ngữ
pháp tiếng Việt như các em hôm nay. Cụ đâu có cái cơ may được học ngữ
pháp tiếng Việt một cách khoa học!
Phải nói rằng, cho đến những năm 60 thế kỷ 20, vẫn còn không ít người muốn
đem bộ khung ngữ pháp nước ngoài “đóng đinh bắt vít” vào tiếng Việt, để
“phán” rằng câu nói hồn nhiên của các em học sinh “chiếc lá này xanh” cần
phải chữa lại thành “chiếc lá này là xanh” mới đúng với cách viết trong tiếng
Pháp “cette feuille est verte” hay cách viết trong tiếng Anh “this leaf is green”!
Mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm riêng. Lẽ ra họ phải xuất phát từ câu nói tự
nhiên của người Việt để phân tích, khái quát hoá, tìm ra quy luật ngữ pháp, thì
lại làm ngược lại, bê nguyên xi ngữ pháp nước ngoài áp đặt vào tiếng Việt!
Thật ra, thơ Nguyễn Du rất đúng ngữ pháp tiếng Việt, nhưng sẽ không khớp
với cái khung ngữ pháp tiếng Pháp hay tiếng Anh. Chớ nên làm chuyện ngược
đời: Gọt chân người Việt cho vừa giày Tây đóng sẵn!
Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Cao Xuân Hạo, khi còn sống, đã có lần cảnh báo:
Những câu kiểu “dự án này được tài trợ bởi UNESCO”, v v… là tiếng Việt…
“bồi”! Bởi lẽ, nếu cứ trượt dài theo cái đà đó, thì sẽ có lúc một chàng ngố xứ ta
nói với người yêu: “Anh được yêu… bởi em”!
Bắt chước ngữ pháp nước ngoài, chẳng tốn bao công sức! Khảo sát tỉ mỉ thực
tế việc sử dụng muôn hình muôn vẻ tiếng Việt, để rồi từ đó, mày mò năm này
qua năm khác, khám phá ra quy luật nội tại của ngôn ngữ đơn lập này, quả là
một công việc gay go, vất vả hơn nhiều! Nguyễn Tài Cẩn, ngay từ đầu, đã đi
theo hướng ấy.
Về cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng, từ ghép, đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn,
nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo nhận xét:”
Cách đây 40 năm, bậc đàn anh của Việt ngữ học Nguyễn Tài Cẩn đã đem từ
Liên Xô về lý thuyết âm tiết – hình vị, một lý thuyết có thể giúp giải quyết
những vấn đề mà một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt đặt ra cho ngôn ngữ
học hiện đại, từ đó vạch ra con đường khắc phục “chủ nghĩa dĩ Âu vi trung”
(coi châu Âu là trung tâm/europeocentrism). Tiếc rằng hồi đó không ai hiểu
ông!”
Cao Xuân Hạo là nhà ngôn ngữ học có uy tín quốc tế. Cho nên, lời đánh giá
của ông về vai trò của “bậc đàn anh của Việt ngữ học Nguyễn Tài Cẩn” trong
việc xây dựng ngữ pháp tiếng Việt là rất đáng tin.
Sự “tài tình” của cách đọc Hán-Việt
Một công trình khác của Nguyễn Tài Cẩn cũng mang lại cho bạn đọc trí thức
nhiều hứng thú là cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán-Việt
xuất bản năm 1979.
Không ít người Việt Nam – trong đó có tôi – mê thơ Đường. Lớn lên trong gia
đình Nho học, ngay từ thuở bé, tôi đã được học thuộc lòng hàng trăm bài thơ
Đường như Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ:
Tích niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Có thể nói, trong cả bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng tiếng Hán ấy, về mặt ngữ
nghĩa, chỉ có hai chữ (tích và thử) là hơi lạ lẫm đối với một người Việt chưa có
dịp học qua chữ Hán; còn 26 chữ khác thì đều quen thuộc từ lâu. Hơn nữa, về
mặt thanh điệu, đọc bài thơ lên, ta cảm thấy bằng, trắc hài hòa, êm tai, đúng
niêm luật. Dường như không có khoảng cách 12 thế kỷ giữa nhà thơ Thôi Hộ
và chúng ta!
Nhà thơ Nam Trân, qua bút danh Tương Như, dịch rất sát nghĩa:
Cửa đây, năm ngoái, cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá?
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây!
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du mượn ý hai câu thất ngôn cuối bài thơ Thôi
Hộ để “sáng tạo lại” thành hai câu lục bát tuyệt hay:
Trước sau nào thấy bóng người!
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông…
Trong tiếng Việt, lớp từ Hán-Việt chiếm một tỷ trọng rất lớn, nhất là ở phong
cách nghị luận, khoảng 60-70%. Mức độ phong phú của lớp từ này coi như vô
hạn. Những thập niên gần đây, và cả từ nay về sau, khi cần, ta vẫn có thể mượn
thêm những từ Hán mới.
Một số nhà khoa học thông thạo chữ Hán, như GS Hoàng Xuân Hãn, đã làm
phong phú thêm tiếng Việt bằng vô số từ Hán hiện đại như: định lý, định luật,
đẳng thức, phương trình, nguyên tử, phân tử, điện tử… Trong các lĩnh vực
chính trị, quân sự, ngoại giao, lớp từ Hán-Việt cũng rất lớn: duy vật, duy tâm,
cương lĩnh, chính sách, chiến lược, sách lược, du kích, chính quy, tiến công,
phòng ngự, công hàm, hiệp định…
Tại sao cả một lớp từ “đông đúc” như vậy lọt sâu vào tiếng Việt, mà lại không
làm thay đổi cấu trúc nội tại của Việt ngữ? Tại sao người Việt đọc tiếng Hán
mà cứ y như đọc tiếng Việt? Cách đọc Hán-Việt có từ bao giờ? Nó đã biến đổi
ra sao qua bao nhiêu thế kỷ?
Nguyễn Tài Cẩn muốn trả lời những câu hỏi “muôn năm cũ” ấy.
(Còn nữa)
_____________________________________________________
Đăng trong Chân dung các nhà ngôn ngữ học, Lịch sử tiếng Việt | Tagged:
cách đọc Hán-Việt, con đường đến với ngôn ngữ học, Nhà nghiên cứu Hán
Nôm, nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt | Leave a Comment »
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và những cống hiến trong nghiên cứu chữ Nôm (nén
tâm hương tưởng nhớ Thầy)
Posted by tuldvnhloc on Tháng Hai 27, 2011
Nguyễn Tuấn Cường
Điều đáng tiếc cho một kẻ “hậu học” trong ngành ngữ văn học như tôi là
không có cái may mắn được trực tiếp học với Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn
(2/5/1926 – 25/2/2011), nhưng qua việc đọc các công trình nghiên cứu của GS
và tiếp thu tư tưởng khoa học của GS thông qua các thế hệ học trò của GS, tôi
vẫn là học trò (của học trò (của học trò)) của GS theo tất cả các nghĩa của cách
trình bày văn tự này.
Vì vậy, dù vẫn biết tình trạng sức khỏe của GS gần đây không được tốt, tôi vẫn
cảm thấy hụt hẫng trước tin GS đã ra đi mãi mãi vào ngày 25/2/2011 tại
Moskva. Muốn thắp nén tâm hương tưởng nhớ GS Nguyễn Tài Cẩn, nhưng bởi
cái lí do không được trực tiếp học với GS và vì thế ít có kỉ niệm với GS (dù tôi
cũng có vinh hạnh gặp GS 4 lần), tôi đành tưởng nhớ đến anh hồn GS bằng con
đường khoa học, con đường đã khiến GS được mãi ghi danh với đời.
Đứng trước di sản khoa học đồ sộ của GS Nguyễn Tài Cẩn, người ta thường dễ
đồng điệu với cái cảm giác “ngưỡng chi di cao” (càng ngửa trông càng thấy
cao) của Nhan Hồi đối với bậc sư biểu Khổng tử. GS đặt dấu ấn sâu sắc trên
nhiều lĩnh vực: ngữ pháp, ngữ âm, Hán Nôm, từ vựng, từ nguyên, Việt ngữ
học, ngôn ngữ thơ, văn học, văn hóa… Kẻ hậu học này, vốn rất khiêm tốn về
tuổi đời và càng khiêm tốn hơn về tuổi nghề, chỉ xin ngửa trông một góc nhỏ
trong sự nghiệp khoa học của GS, đó là việc nghiên cứu chữ Nôm. Mặc dù chữ
Nôm đã có lịch sử tồn tại trên 800 năm, nhưng việc nghiên cứu về chữ Nôm
hầu như chỉ được đặt ra từ thế kỉ XX đến nay. Trong giai đoạn này, những
công trình nghiên cứu về chữ Nôm của GS Nguyễn Tài Cẩn có vị trí nổi bật.
Công việc mô tả lại những công trình đó là không cần thiết và, quan trọng hơn,
không thể đầy đủ trong một bài viết ngắn, nên ở đây tôi chỉ xin lược điểm
những cống hiến nổi bật của GS Nguyễn Tài Cẩn trong lĩnh vực nghiên cứu
hẹp này.
1. Xác lập những công cụ và phương pháp nghiên cứu chữ Nôm
Đối với ngành “Nôm học” (nếu có thể dùng thuật ngữ này), GS Nguyễn Tài
Cẩn có công tích lớn trong việc xác lập những công cụ và phương pháp nghiên
cứu, những tiền đề căn bản cho nghiên cứu chữ Nôm.
Từ rất sớm, GS đã dày công nghiên cứu về cách đọc Hán Việt (1971, 1972,
1979) với tư cách một khái niệm công cụ để nghiên cứu chữ Nôm, đặc biệt là
vấn xác định thời điểm xuất hiện của loại văn tự này: “có thể là chữ Nôm đã
hình thành đồng thời với âm Hán – Việt, nhưng cũng rất có thể là âm Hán –
Việt hình thành trước, rồi một thời gian sau đó cha ông chúng ta mới dựa vào
các chữ Hán đọc theo âm Hán – Việt để sáng tạo ra chữ Nôm” (1971). Phương
pháp xác định niên đại hình thành chữ Nôm dựa vào thời điểm xuất hiện của hệ
thống âm Hán Việt mà GS đưa ra vào thời điểm đầu thập niên 1970 như vậy là
một quan điểm mới mẻ, khác với các quan niệm trước đó vốn phần nhiều căn
cứ trên các bằng chứng (huyền) sử học và xã hội học có thiên hướng đẩy thời
điểm xuất hiện của chữ Nôm lên sớm hơn thời điểm thực tế.
Bên cạnh dấu ấn trong nghiên cứu về âm Hán Việt, GS còn có nhiều cống hiến
ở địa hạt nghiên cứu về âm đọc Cổ Hán Việt (còn gọi là Tiền Hán Việt) và âm
đọc Hán Việt Việt Hóa (còn gọi là Hậu Hán Việt) để hình thành bức tranh ảnh
hưởng ngôn ngữ (ngữ âm) giữa tiếng Hán với tiếng Việt trong lịch sử (1987).
Điều này góp phần cải chính nhiều quan niệm về âm đọc và cách phân loại chữ
Nôm ghi âm Cổ Hán Việt và Hán Việt Việt Hóa của các bậc tiền bối như
Vương Lực (1948), Đào Duy Anh (1975).
Ngoài ra, GS Nguyễn Tài Cẩn đã sớm tiến hành nghiên cứu về sự xuất hiện
của từng cá thể chữ Nôm trong hệ thống chữ Nôm. Trong danh tác khoa học
Một số vấn đề về chữ Nôm in năm 1985, GS đã dành 20 trang cuối ở mục Phụ
lục (tr. 252-272) để trình bày bảng tra Một số chữ Nôm cổ đã gặp trong các
văn bản có niên đại chính xác (từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVII), trong đó liệt kê
những ngữ tố (hình vị) tiếng Việt xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trong các
tư liệu khả tín bằng chữ Nôm. Ngày nay, với những điều kiện mới mẻ hơn về
mặt tư liệu văn bản chữ Nôm, chúng ta vẫn đang chờ đợi một cuốn từ điển
(hoặc khiêm tốn hơn: bảng tra) dày dặn hơn, cụ thể hơn về nội dung tương tự.
Bên cạnh đó, đường hướng trong nghiên cứu chữ Nôm với tư cách là một hệ
thống văn tự cũng đã sớm được GS Nguyễn Tài Cẩn phác thảo (1981): cần đi
từ văn tự học đại cương, sang văn tự học khu vực để hình dung về bức tranh
văn tự trên thế giới và khu vực, rồi mới đi sâu vào nghiên cứu chữ Nôm với tư
cách là một hệ thống văn tự ghi tiếng Việt. Hướng đi này đến những năm đầu
thế kỉ XXI đã được sâu sắc hóa bằng công trình của Nguyễn Quang Hồng
(2008).
2. Nghiên cứu vĩ mô: xác lập mô hình cấu trúc chữ Nôm
Xét từ góc độ cấu trúc văn tự học, việc nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm trong
thế kỉ XX có thể phân chia thành hai giai đoạn khác nhau một cách tương đối
rõ rệt. Trước năm 1975, các nghiên cứu văn tự học về chữ Nôm mang tính chất
“khai sơn phá thạch”, chủ yếu dựa theo mô hình văn tự học Trung Quốc, lấy
“Lục thư” (sáu phép cấu tạo chữ Hán: tượng hình, chỉ sự, hội ý, giả tá, chuyển
chú) làm trung tâm để “lắp ráp” các phương thức cấu trúc chữ Nôm vào khuôn
khổ phân chia ấy. Chúng ta có thể gặp ở đây những nhà nghiên cứu nổi tiếng đi
theo đường hướng này: Văn Hựu (1933), Dương Quảng Hàm (1943), Trần
Kinh Hoà (1949), Đào Duy Anh (1975)… Đặc biệt, công trình nổi tiếng Chữ
Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến của GS Đào Duy Anh (NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội, 1975) là “tập đại thành” cho đường hướng nghiên cứu này.
Sau năm 1975, con đường ấy vẫn được tiếp tục triển khai, phần lớn từ phía các
học giả nước ngoài như Lí Lạc Nghị (1986), Mã Khắc Thừa (1996) ở Trung
Quốc, Wm. C. Hannas (1997) ở Mĩ – những người chủ yếu tiếp cận chữ Nôm
qua cuốn sách của GS Đào Duy Anh, hoặc qua một vài bài viết có tính chất
lược giới về chữ Nôm viết bằng tiếng Anh, chứ không cập nhật được tình hình
nghiên cứu trong nước.
Bước sang năm 1976, việc nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm đã bước sang một
thời kì mới với sự tiên phong của vị chủ tướng Nguyễn Tài Cẩn viết cùng Phu
nhân là GS N.V Stankevitch qua bài viết Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo
chữ Nôm. Bài viết này đã thoát khỏi tư duy “Lục thư” truyền thống để chuyển
sang sử dụng phương pháp khoa học hiện đại, nhìn nhận chữ Nôm như một đối
tượng nghiên cứu văn tự học trong mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ học lịch
sử tiếng Việt, đặc biệt là ngữ âm học. Căn cứ theo các tiêu chí tự hình, tự âm,
tự nghĩa, GS Nguyễn Tài Cẩn đã phân loại chữ Nôm lần lượt theo nhiều bước
lưỡng phân liên tiếp để khái quát nên một mô hình cấu trúc chữ Nôm gồm 10
loại. Ở thời điểm năm 1976, đây là một mô hình phân loại khoa học nhất, toàn
diện nhất (bởi hầu hết các cá thể chữ Nôm đều có thể quy vào đó). Phương
pháp làm việc khoa học này đã ngay lập tức tạo ảnh hưởng tích cực đến các
nghiên cứu sau này của Lê Văn Quán (1981), Nguyễn Ngọc San (1987),
Nguyễn Khuê (1987-1988), Lê Anh Tuấn (2003)… Sang thế kỉ XXI, mô hình
ấy được sửa đổi và tái thiết trong các công trình của Nguyễn Quang Hồng
(2006, 2008).
Điểm đáng lưu ý về sự chuyển đổi hệ hình trên là việc GS Đào Duy Anh ngay
từ năm 1975 đã thừa nhận sự khác biệt về phương pháp phân loại giữa ông và
GS Nguyễn Tài Cẩn. GS Đào viết:
“Ông Nguyễn Tài Cẩn nói với tôi rằng nhà ngôn ngữ học có thể theo những
cách phân loại chữ Nôm khác với cách của tôi, nhưng cuối cùng kết quả vẫn là
hoàn toàn phù hợp với kết quả của tôi, như thế tỏ rằng cách phân loại của tôi
vẫn đúng. Tôi xin nói thêm rằng tôi không theo cách phân loại của nhà ngôn
ngữ học vì tôi thấy đối với người độc giả thông thường cách phân loại theo
ngôn ngữ học hơi lạ và khó hiểu. Theo tôi cách phân loại này giản dị và dễ
hiểu hơn, tôi cho rằng nó phù hợp với con đường suy nghĩ và những nguyên
tắc người xưa đã dựa vào trong khi xây dựng chữ Nôm” (sđd, tr. 63, chú thích
số 1).
Tất nhiên, ở đây mỗi học giả đã tùy theo quan điểm của mình để xác định cách
tiếp cận nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm. Hơn nữa, cũng cần chú ý rằng cuốn
sách trên của GS Đào in năm 1975, sau khi ông được nghe trao đổi với GS
Nguyễn, chứ hẳn là ông chưa được đọc bài nghiên cứu công phu của GS
Nguyễn sẽ được in vào 1 năm sau đó (1976) để có thể biết rằng cách phân loại
của GS Nguyễn có sự khác biệt khá xa với ông, đặc biệt là về vấn đề tính khoa
học trong phương pháp phân loại cấu trúc văn tự. Từ góc độ kế thừa khoa học,
việc phản biện nhau và chấp nhận nhau giữa hai nhà nghiên cứu chữ Nôm thời
danh ấy là rất đáng quý và đáng học hỏi.
3. Nghiên cứu vi mô: từ nan đề “song viết” đến trilogy Truyện Kiều
Ngoài thành công trên phương diện nghiên cứu chữ Nôm từ tầm vĩ mô, GS
Nguyễn Tài Cẩn còn đặt dấu ấn của mình trong việc nghiên cứu vi mô đối với
những chữ Nôm cá biệt vốn là “nan đề” trong nghiên cứu chữ Nôm xưa nay.
Bài viết này chỉ xin đề cập đến hai trường hợp: hai chữ “song viết” trong thơ
Nôm cổ thế kỉ XV-XVI và những chữ Nôm trong Truyện Kiều vốn rất phức
tạp, từng gây nhiều tranh cãi.
Cách đọc và hiểu hai chữ “song viết” (
双曰
) xuất hiện nhiều lần trong thơ
Nôm của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập và Nguyễn Bỉnh Khiêm
chắc chắn là vấn đề gây nhiều tranh luận nhất trong việc nghiên cứu các cá thể
chữ Nôm suốt từ giữa thế kỉ XX đến nay, nó thu hút sự tham gia của không
dưới 10 nhà nghiên cứu. Không yên tâm với cách hiểu thiên về phân tích tự
hình chữ Nôm của các nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm
(1956), Đào Duy Anh (1962), Đỗ Văn Hỉ (1967), GS Nguyễn Tài Cẩn trong
các năm 1974 và 1975 đã đề xuất và tiến hành một cách tiếp cận mới toàn diện
hơn, xuất phát từ tự hình để đi sâu vào phân tích ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa,
ngữ pháp, liệt kê tất cả các khả năng có thể đọc và hiểu hai chữ đó, tham bác
nhiều đối chứng từ các ngôn ngữ lân cận, kiểm tra trong các từ điển tiếng Việt
trước thế kỉ XX, sàng lọc và thận trọng loại bỏ những khả năng phi thực hữu,
từ đó gút lại một cách đọc rất mới mẻ là “rông vát” cho hai chữ Nôm đặc dị
này, rồi lại kiểm tra tất cả các khía cạnh nghĩa của hai chữ ấy (7 khía cạnh
nghĩa) trong các văn cảnh xuất hiện của chúng, và rồi với tất cả sự cẩn trọng
cần thiết của một nhà khoa học, ông vẫn đề nghị để tồn nghi giải pháp trên, chờ
nghiên cứu thêm. Dù cho sau này có thêm nhiều nhà nghiên cứu (Ngô Đức
Thọ, An Chi, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Thế…) tham gia tranh luận với các
quan điểm ít nhiều khác nhau và khác với thuyết “rông vát”, nhưng phương
pháp nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và thận trọng mà GS Nguyễn Tài Cẩn đã áp
dụng để đi đến kết quả ấy mãi là một tấm gương cho các nhà nghiên cứu sau
này học hỏi.
Xét trên bình diện văn bản tác phẩm Nôm thì xưa nay không có hệ thống văn
bản nào phức tạp bằng hệ thống văn bản Truyện Kiều. GS Nguyễn Tài Cẩn
trong khoảng 10 năm đầu thế kỉ XXI đã liên tục cho vấn thế những công trình
nghiên cứu có uy tín về văn bản và từ ngữ văn Nôm hệ thống văn bản phồn tạp
ấy, tập trung nhất là 3 cuốn sách mà nhan đề đều mở đầu bằng “Tư liệu Truyện
Kiều…” (2002, 2004, 2008).
Khởi đi từ những gợi ý về mặt nghiên cứu văn bản và từ ngữ của học giả
Hoàng Xuân Hãn, GS Nguyễn Tài Cẩn từ những năm cuối thế kỉ XX đã đi sâu
nghiên cứu vấn đề văn bản và ngôn ngữ Truyện Kiều theo hướng “tầm
nguyên”, đi tìm “nguyên lời Nguyễn Du”, để đến năm 2002, cuốn chuyên khảo
đầu tiên về bản Duy Minh Thị 1872 được ra mắt bạn đọc. Việc khảo cứu cụ thể
một văn bản Truyện Kiều trong mối tương quan so sánh với những văn bản
khác trong hệ thống văn bản Truyện Kiều không hẳn là một vấn đề quá mới (từ
năm 1999, Thế Anh đã in cuốn sách phiên âm và khảo dị bản Kiều Oánh Mậu
1902: Đoạn trường tân thanh: Truyện Kiều đối chiếu Nôm – Quốc ngữ, NXB
Văn học, 1999), nhưng cuốn sách trên của GS Nguyễn Tài Cẩn đã tự “biệt
thành nhất gia” bởi tính chất khoa học và mới mẻ của nó.
Cuốn sách bàn đến bản Duy Minh Thị 1872 từ 3 khía cạnh (tương ứng với 3
phần nội dung sách): nghiên cứu văn bản, phiên Nôm, biện giải từ ngữ; cả 3
khía cạnh này đều được trình bày với nhiều ý tưởng mới lạ. Trong nghiên cứu
văn bản, GS đặc biệt chú ý đến hiện tượng kiêng húy (hướng đi mà sau này
ông tiếp tục đi sâu hơn) để tìm mối liên hệ giữa bản Duy Minh Thị 1872 với
nguyên tác của Nguyễn Du. Về phiên âm, với những nghiên cứu sâu sắc về văn
tự học chữ Nôm trước đó, GS đã công bố một bản phiên âm với nhiều giả thiết
từ ngữ khá lạ lẫm và thú vị đối với giới “Kiều học”. Về biện giải từ ngữ, GS đã
phát huy được sở trường ngữ âm học lịch sử, từ vựng học lịch sử và phương
ngữ học của mình để tiến hành sàng lọc và lập luận về cách đọc, cách hiểu với
từng trường hợp từ ngữ trong bản Duy Minh Thị 1872; phần này chính là điểm
then chốt của cuốn sách, để cho nó có thể “biệt thành nhất gia”. Cách thức
nghiên cứu trong cuốn sách này có giá trị gợi hướng cho các nhà nghiên cứu
khác bắt tay thực hiện công việc ít nhiều tương tự đối với các văn bản khác
nằm trong danh sách những bảnTruyện Kiều chữ Nôm có niên đại sớm nhất
hiện biết: Liễu Văn đường 1871, Nguyễn Hữu Lập 1870, Liễu Văn đường
1866, Thịnh Mĩ đường 1879. Dù cho sau này có những nghiên cứu khác với
GS về quan điểm văn bảnTruyện Kiều (Đào Thái Tôn, Nghiên cứu văn bản
Truyện Kiều: bản Liễu Văn đường 1871, NXB Khoa học Xã hội, 2006), nhưng
chính ý kiến khác biệt ấy, như tác giả của nó thừa nhận, đã được gợi ý từ
phương pháp nghiên cứu của học giả Hoàng Xuân Hãn và công trình nghiên
cứu về bản Duy Minh Thị 1872 của GS Nguyễn Tài Cẩn. Lại một lần nữa
chúng ta được thấy tính năng sản về mặt phương pháp nghiên cứu của các công
trình khoa học mà GS để lại cho đời. Phương pháp nghiên cứu nghiêm cẩn và
khoa học ấy vẫn tiếp tục được thực hiện nhất quán trong hai cuốn sách mà GS
in sau này (2004, 2008), tạo thành một “trilogy” (bộ ba) công trình nghiên cứu
văn bản và từ ngữ Truyện Kiều mà người ta có thể dễ dàng nhận ra kể cả khi
chúng không được dán nhãn “made by Nguyễn Tài Cẩn”. Đây chính là một xu
hướng nghiên cứu quan trọng cần triển khai trong ngành “Kiều học” thế kỉ
XXI mà người đặt những viên gạch nền tảng, không ai khác, chính là GS
Nguyễn Tài Cẩn.
___________________________________________________
Danh mục công trình nghiên cứu chủ yếu về chữ Nôm của GS Nguyễn Tài Cẩn
1. Nguyễn Tài Cẩn (1971), Cứ liệu ngữ âm lịch sử với vấn đề thời kì xuất hiện
của chữ Nôm, in trong: Tạp chí Ngôn ngữ, số 1; in lại trong: Một số vấn đề về
chữ Nôm, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, tr. 86-
118.
2. Nguyễn Tài Cẩn (1972), Bổ sung thêm một số cứ liệu ngữ âm lịch sử có liên
quan đến vấn đề thời kì xuất hiện chữ Nôm, in trong: Thông báo khoa học
Trường Đại học Tổng hợp (Văn học – Ngôn ngữ), tập V, Hà Nội, 1972; in lại
trong: Một số vấn đề về chữ Nôm, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
Hà Nội, 1985, tr. 119-137.
3. Nguyễn Tài Cẩn (1974), Thử tìm cách đọc Nôm hai chữ “song viết”, in
trong Tạp chí Văn học, số 2/1974; in lại trong: Một số vấn đề về chữ Nôm,
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, tr. 181-209.
4. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Bàn thêm về “song viết? song biết? song kiết?”, in
trong: Tạp chí Văn học, số 6/1975; in lại trong: Một số vấn đề về chữ Nôm,
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, tr. 210-227.
5. Nguyễn Tài Cẩn,N.V. Stankevitch (1976), Điểm qua vài nét về tình hình cấu
tạo chữ Nôm, in trong: Tạp chí Ngôn ngữ, số 2: tr. 15-25; số 3: tr. 14-24. [Bài
viết này được in lại nhiều lần trong một số cuốn sách về chữ Nôm của GS
Nguyễn Tài Cẩn].
6. Nguyễn Tài Cẩn (1979), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán
Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội; tái bản: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2002.
7. Nguyễn Tài Cẩn,N.V. Stankevitch (1981), Chữ Nôm, một thành tựu văn hóa
của thời đại Lí – Trần, in trong: Viện Sử học, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời
Lí – Trần, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 476-516.
8. Nguyễn Tài Cẩn (1985), Một số vấn đề về chữ Nôm, NXB Đại học và Trung
học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985. [Cuốn sách này bao gồm 10 bài nghiên cứu,
chủ yếu đã công bố rải rác từ năm 1971 đến năm 1981. Đây cũng là danh tác
khoa học quan trọng nhất của GS Nguyễn Tài Cẩn trong lĩnh vực nghiên cứu
chữ Nôm].
9. Nguyễn Tài Cẩn (1987), Văn hóa chữ Hán và ngôn ngữ Việt Nam: vai trò
của các yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt hiện đại, in lần đầu bằng tiếng Nhật
trong cuốn Hán tự dân tộc quyết đoán, Tokyo, 1987; in lại bằng tiếng Việt
trong: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2001, tr. 424-439.
10.Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
11.Nguyễn Tài Cẩn (2002), Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị 1872,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
12.Nguyễn Tài Cẩn (2004),Tư liệu Truyện Kiều: Từ bản Duy Minh Thị đến
bản Kiều Oánh Mậu, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học & NXB Văn học.
13.Nguyễn Tài Cẩn (2008), Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo
Đoạn trường tân thanh, NXB Giáo dục.
______________________________________________________________
Đăng trong Chân dung các nhà ngôn ngữ học, Lịch sử tiếng Việt, Ngôn ngữ và
văn hóa | Tagged: bậc thày nghiên cứu tiếng Việt, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn,
Nhà nghiên cứu Hán Nôm | 1 Comment »
Nguyễn Tài Cẩn, nhà học giả “bất yếm, bất quyện”
Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 28, 2010
Hàm Châu
- Ông là người Việt đầu tiên bảo vệ luận án tiến sĩ ngôn ngữ học tại Nga, và là
nhà ngôn ngữ học đầu tiên được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Sinh năm Bính Dần – 1926, GS Nguyễn Tài Cẩn hiện đang ở tuổi 84. Quê ở
Thanh Chương, Nghệ An, ngay từ thời trẻ, ông đã gắn bó với nghề dạy học.
Năm 2000, ông được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Vào dịp ấy,
Đại học Quốc gia Hà Nội tặng ông một chiếc đĩa sứ lớn phủ men trắng, trên
mặt có in bốn chữ Hán viết tay bằng men lam: Bất yếm, bất quyện (rút ngắn lời
Khổng Tử trong Luận Ngữ: “Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” – học
không biết chán, dạy người không biết mỏi). Thật quá đúng tính cách thầy
Cẩn!
Sau khi về hưu, ông sang sống tại Moskva, LB Nga, cùng vợ, nữ giáo sư người
Nga Nona Stankyevich. Cư trú trên đất Nga để được các con chăm sóc, nhưng
cả hai ông bà vẫn mải mê nghiên cứu tiếng Việt như những năm nào còn làm
việc tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
Xuân Bính Tuất – 2006, gặp lại ông tại Hà Nội, tôi được ông tặng cuốn sách
dày 645 trang khổ nhỡ, cuốn Tư liệu Truyện Kiều: từ bản Duy Minh Thị đến
bản Kiều Oánh Mậu. Và rồi, sau đó, qua thư điện tử từ Moskva, tôi liên tiếp
nhận được nhiều bài nghiên cứu mới của ông, khám phá dấu vết kỵ huý thời Lê
– Trịnh trong các bản Kiều Nôm cổ, chứng tỏ Nguyễn Du sáng tác Truyện
Kiều sớm hơn thời điểm mà nhiều nhà “Kiều học” trước đây vẫn tưởng.
Đối với mình – ông tâm sự – tìm tòi cái mới là lẽ sống, là niềm vui suốt đời.
Tết Kỷ Sửu – 2009, trong những ngày ông trở về Hà Nội, tôi lại có dịp gặp ông
và được ông tặng mấy cuốn sách mới in.
Xuân Canh Dần – 2010, qua Internet, tôi nhận được bản thảo một công trình
nghiên cứu mới của ông, khám phá sự ra đời của chữ Nôm qua bản dịch kinh
Phật vào thế kỷ thứ 10, đời nhà Lý, vài trăm năm trước các truyền thuyết về
Hàn Thuyên, Chu Văn An…
Đổi mới nhận thức của giới Việt ngữ học
Trên số báo Lao Động ngày 8/9/2000, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Cao Xuân
Hạo đã nhận xét về cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng, từ ghép, đoản ngữ) của
Nguyễn Tài Cẩn (viết xong năm 1960 tại Leningrad, được xuất bản tại Hà Nội
năm 1975):
“Cách đây 40 năm, bậc đàn anh của Việt ngữ học Nguyễn Tài Cẩn đã đem từ
Liên Xô về lý thuyết âm tiết – hình vị. một lý thuyết có thể giải quyết những
vấn đề mà một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt đặt ra cho ngôn ngữ học hiện
đại, từ đó vạch ra con đường khắc phục chủ nghĩa “dĩ Âu vi trung” (coi châu
Âu là trung tâm – europeocentrism). Tiếc rằng hồi đó không ai hiểu ông.”
Phải nói rằng, cho đến những năm 1960 – và đến cả hôm nay – không ít người
viết sách ngữ pháp tiếng Việt không xuất phát từ văn, thơ và câu nói tự nhiên
của người Việt để phân tích, khái quát, tìm ra quy tắc ngữ pháp. Trái lại, họ
đơn giản đem bộ khung ngữ pháp tiếng nước ngoài – chủ yếu là tiếng các nước
châu Âu – “đóng đinh bắt vít” vào tiếng Việt, rồi “phán” rằng câu nói hồn
nhiên của các em học sinh “chiếc lá này xanh” cần phải chữa lại thành “chiếc
lá này là xanh” cho đúng với cách viết “cette feuille est verte” trong tiếng
Pháp, hoặc “this leaf is green” trong tiếng Anh!
Cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Tài Cẩn mở ra hướng mới cho việc nghiên cứu
ngữ pháp tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, khác với các thứ tiếng châu Âu.
Soi rọi ngọn nguồn của cách đọc Hán – Việt
Một công trình khác của Nguyễn Tài Cẩn gây tiếng vang trong giới ngôn ngữ
học Việt Nam và nước ngoài là cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách
đọc Hán – Việt in năm 1979.
Ngày nay, một học sinh trung học đọc bài thơ Nam quốc sơn hà (tương truyền
là của Lý Thường Kiệt) vẫn có thể hiểu ý nghĩa dù chưa được học chữ Hán.
Giả sử bài thơ ấy được đọc theo âm phổ thông của tiếng Trung Quốc, thì chắc
chắn em học sinh kia chẳng hiểu tý gì! Công lao to lớn của cách đọc Hán –
Việt chính là chỗ đó.
Nhờ cách đọc này, tiếng Việt có thêm một lớp từ mà mức độ phong phú coi
như vô tận, bởi vì trong mấy thập niên gần đây, cũng như từ nay về sau, khi
cần thiết, chúng ta vẫn có thể mượn thêm những từ Hán mới mà không phá vỡ
cấu trúc nội tại của tiếng Việt.
GS Hoàng Xuân Hãn đã làm phong phú thêm tiếng Việt bằng cách mượn rất
nhiều thuật ngữ khoa học trong tiếng Hán nhưng đọc theo cách đọc Hán – Việt:
định lý, định luật, đẳng thức, phương trình, nguyên tử, lượng tử…
Nhưng hai câu hỏi lớn được đặt ra: Cách đọc Hán – Việt xuất hiện từ bao giờ?
Và đã biến đổi ra sao qua bao thế kỷ? Để trả lời cặn kẽ hai câu hỏi ấy, Nguyễn
Tài Cẩn đã phải viết cả một cuốn sách dày 400 trang khổ nhỡ.
Không chỉ các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Trung Quốc, mà cả giới Đông
phương học quốc tế cũng chú ý đến cách đọc Hán – Việt, bởi vì muốn nghiên
cứu tiếng Hán trung đại, nghiên cứu cách đọc chữ Hán ở Nhật Bản theo Go-On
(Ngô âm) hay theo Kan-On (Hán âm) hay cách đọc chữ Hán ở Triều Tiên theo
cách đọc Hán – Triều , đều rất cần sự so sánh, viện dẫn cách đọc Hán – Việt, từ
đó lắm khi có thể rút ra những kiến giải bất ngờ, lý thú.
Cách đọc Hán – Việt hiện nay chính là bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán đời nhà
Đường ở kinh đô Trường An, từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán được dạy lần cuối
cùng ở Giao Châu trước khi Việt Nam giành được độc lập vào thế kỷ 10.
Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20, cách đọc Hán – Việt phát triển theo quỹ đạo phát
triển của tiếng Việt, không còn lệ thuộc vào những gì biến đổi trong ngữ âm
tiếng Hán ở bên kia biên giới. Lớp từ Hán – Việt ngày càng lọt sâu vào kho từ
vựng tiếng Việt, những nét xa lạ về mặt ngữ âm mất dần, và rồi trở thành một
bộ phận khăng khít, chứ không phải được “cấy ghép” vào hệ thống Việt ngữ.
Trên đây là những kết luận khái quát. Tất nhiên, trước khi đi đến những kết
luận ấy, Nguyễn Tài Cẩn đã phải bỏ ra biết bao công sức. Chẳng hạn, nói rằng
cách đọc Hán – Việt hiện nay chính là bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán đời nhà
Đường, vậy thì vào đời nhà Đường, người Trung Quốc ở kinh đô Trường An
đọc chữ Hán ra sao? Tiếng Hán thời ấy có những phụ âm, những vần và những
thanh điệu nào? Nếu dùng lối phiên âm quốc tế hiện nay để ghi lại, thì cụ thể ra
sao?
Và nữa: Cách đọc chữ Hán của người Việt hồi thế kỷ 8 – 9 ra sao? Gồm những
phụ âm, những vần và những thanh điệu nào? Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20, cách
đọc Hán – Việt đã thay đổi ra sao? Để trả lời những câu hỏi đó, phải sử dụng
những phương pháp hiện đại của ngữ âm học lịch sử.
Đọc hàng vạn trang sách của các nhà Đông phương học bằng các thứ chữ Hán,
Nôm, Quốc ngữ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật, v.v. về vấn đề liên quan, đưa ra
thêm những luận cứ mới, những kiến giải riêng, Nguyễn Tài Cẩn đã soi rọi đến
tận ngọn nguồn cách đọc Hán – Việt, một cách đọc giúp người Việt Nam dễ
dàng tiếp nhận tinh hoa văn hoá Hán – nền văn hoá lớn nhất phương Đông –
mà không bị “Hán hoá”.
GS A. G. Haudricourt, một bậc thầy trong ngành ngôn ngữ học thế giới, đánh
giá cao công trình của Nguyễn Tài Cẩn, và giao cho người học trò của mình là
nữ tiến sĩ Barbara Niedeer dịch ra tiếng Pháp, để phổ biến rộng hơn trên thế
giới.
Nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt và Truyện Kiều
Cuốn Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn in năm 1995
cũng là một công trình nghiên cứu 350 trang trình bày một cách sáng tỏ lai
nguyên của hệ thống phụ âm đầu, hệ thống vần đệm w và hệ thống thanh điệu
tiếng Việt từ 4.000 năm trước cho đến tận ngày nay.
Để viết cuốn sách này, Nguyễn Tài Cẩn đã phải tham khảo hàng trăm công
trình nghiên cứu tiếng Việt, tiếng Mường và những ngôn ngữ bà con gần xa
như Nguồn, Pọng, Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, Arem, Thà Vựng, Pakatan,
Phon Soung, Khạ Phọng… Riêng tiếng Mường, thì cũng không phải đồng
nhất, mà theo sơ bộ điều tra, có tới 29 thổ ngữ, xếp thành 9 nhóm, ở rải rác tại
các tỉnh Bắc bộ và bắc Trung bộ!
Ngoài ba công trình của ông mà giới ngôn ngữ học nước ta đề nghị Nhà nước
phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn còn công bố
nhiều bài báo và sách chuyên khảo có giá trị cao như các cuốn: Một số vấn đề
về chữ Nôm (1982), Ảnh hưởng Hán văn Lý – Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ
Nguyễn Trung Ngạn (1998), Tư liệu Truyện Kiều: từ bản Duy Minh Thị đến
bản Kiều Oánh Mậu (2004)…
Tác giả đã khảo sát cặn kẽ, chi li 9 bản Kiều ở thế kỷ 19, gồm 7 bản Nôm là
Duy Minh Thị (1872, 1879), Liễu Văn Đường (1871), Quan Văn Đường
(1879), Thịnh Mỹ Đường (1879), Lâm Noạ Phu (1870), Kiều Oánh Mậu (biên
tập cuối thế kỷ 19, xuất bản năm 1902); 1 bản nửa Nôm nửa Quốc ngữ của
Abel des Michels (1884); và 1 bản Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký (1875).
Công phu bỏ ra thật không kể xiết! Điều tra về 9 bản Kiều cổ tức là phải khảo
sát 29.000 câu thơ với khoảng 205.000 chữ, hầu hết là chữ Nôm viết tay, in
mộc bản hàng trăm năm trước, nay chữ mờ, khó đọc, lại thêm có nhiều tự dạng
Nôm cổ khó “giải mã”.
Khảo sát kỹ lưỡng một số văn bản Kiều Nôm cổ, Nguyễn Tài Cẩn phát hiện
vết tích kỵ huý thời Lê – Trịnh. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Du sáng tác Truyện
Kiều vào thời kỳ Tây Sơn, trong “mười năm gió bụi”, chứ không phải sau khi
đi sứ Trung Quốc trở về.
GS Nguyễn Tài Cẩn thường được mời đến giảng dạy tại nhiều trường đại học
lớn ở Nga, Pháp, Mỹ, Nhật Bản…