Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Sự bền vững của khả năng kháng sâu bệnh potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (109 KB, 5 trang )

Sự bền vững của khả năng kháng sâu bệnh
Sự đa dạng di truyền của các loài kí sinh cùng với
quá trình chọc lọc tự nhiên
có thể tạo ra những kiểu gen mới có khả năng phá vỡ
hàng rào kháng sâu bệnh của
cây. Nguy cơ này đặc biệt lớn với khả năng kháng
đặc thù với nòi sinh lí (và kiểu
sinh học) hay kháng đơn gen. Điều dễ hiểu là các gen
đột biến có thể phát sinh làm
cho kí sinh chuyển từ trạng thái không gây bệnh sang
gây bệnh. Những đột biến
như vậy có khả năng tấn công giống cây trồng mà
trước đây có khả năng kháng,
làm cho khả năng kháng bị “sụp đổ”.
Khả năng thích ứng của kí sinh với các giống kháng
mới được đưa vào sản
xuất rất phổ biến ở các thể gây bệnh nhưng ít gặp hơn
đối với sâu hại. Khả năng
kháng của các giống như thế được gọi là kháng “nhất
thời” hay “không bền vững”,
đặc biệt với các thể gây bệnh chuyên tính. Đối với
sâu hại sự sụp đổ của hàng rào
kháng ít gặp hơn. Tuy nhiên, rệp có khả năng thích
nghi với giống kháng do khả
năng sinh sản vô phối (trinh sinh). Một kiểu gen riêng
rẽ khắc phục được hàng rào
kháng có thể tự sinh sản không cần cạnh tranh và do
đó nhanh chóng tạo ra quần thể
có khả năng gây hại. Điều này cũng đúng với tất cả
các kí sinh có khả năng sinh sản
vô tính như phấn trắng, sương mai và gỉ sắt. Kháng


virus thường bền vững hơn.
Chứng minh tính bền vững của khả năng kháng
thường là khó. Khả năng
kháng được coi là bền vững nếu nó duy trì hiệu lực
trong khoảng thời gian dài trong
môi trường thuận lợi đối với kí sinh (Johnson, 1984).
Tất cả các phương pháp ngăn
cản hay làm chậm sự hình thành và thiết lập các nòi
sinh lí của bệnh hay kiểu sinh
học của sâu điều góp phần làm tăng tính bền vững
của gen kháng. Có nhiều yếu tố
xác định tính bền vững có khả năng kháng sâu bệnh.
a, Số dạng kháng đòi hỏi sự thích nghi phức tạp ở thể
bệnh hay Một sâu hại
b, Sản phẩm của gen không gây bệnh đóng vai trò
trong các chưc năng sống
của kí sinh. Mất đoạn hay đột biến thành gen gây
bệnh có thể làm giảm khả năng
thích ứng, khả năng sống sót hay khả năng cạnh tranh
kí sinh. Vanderplank (1968)
cho rằng các nòi sinh lí có nhiều alen gây bệnh yếu
hơn những nòi có ít gen gây
bệnh khi còn sống trên cây không có gen kháng. Đều
đó dẫn đến sự chọn lọc ổn
định, có nghĩa là các nòi chứa các alen “không cần
thiết” bị đào thải.
c, Các kí sinh địa sinh và thuỷ sinh lây lan rất chậm
từ vùng này sang vùng
khác. Các cá thể đột biến gây bệnh hiếm hoi cần thời
gian dài để phát tán rộng trong

vùng gieo trồng giống kháng.
d, Một giống kháng có thể có hai hay nhiều gen
kháng có hiệu lực đặc thù
với nòi. Kí sinh phải đồng thời tạo ra hai hay nhiều
đột biến độc lập mới có thể phá
vỡ được hàng rào kháng của giống
e, Ở các loại cây trồng một năm chỉ gieo trồng trên
diện tích nhỏ và phân tán
khả năng lây nhiễm của thể gây bệnh rất ít. Nếu trồng
giống kháng thì khả năng lây
nhiễm của nòi đột biến còn ít hơn nhiều. Khả năng
kháng trở thành bền vững.

×