Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Ngành Tảo lục - CHLOROPHYTA doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.99 KB, 9 trang )

Ngành Tảo lục - CHLOROPHYTA
Ngành Tảo lục có khoảng 500 chi với 8.000 loài.
Ngành này bao gồm nhiều loài phiêu sinh đơn bào
hoặc tập đoàn. Tuy nhiên,
cũng có nhiều dạng đa bào sống bám đáy, bám đá
hoặc bám vào các giá thể vào thời
kỳ đầu của vòng đời nhưng sau đó tách rời giá thể
sống trôi nổi tạo thành những sợi
tảo lớn.
- Tế bào
Ở Tảo lục, tế bào mang các roi có cấu trúc giống
nhau mặc dù có thể khác
nhau về kích thước.
Vách tế bào bằng cellulose, tuy nhiên xylan hay
manman thường thay thế
cellulose ở các đại diện thuộc các bộ Caulerpales .
Lục lạp chứa các sắc tố chlorophyll a, chlorophyll b
và lutein. Lục lạp có màu lục do
sư ưu trội của sắc tố chlorophyll. Các sắc tố phụ gồm
lutein, zeaxanthin, vioxanthin,
antheraxanthin, neoxanthin và đặc biệt các sắc tố
siphonein, siphonixanthin gặp ở tế bào
các chi tảo dạng ống và chi tảo Tetraselmi.
Sản phẩm dự trữ là tinh bột nằm trong lục lạp thay vì
ở trong tế bào chất, đây
là đặc điểm khác với tảo có nhân thật còn lại.
Tế bào mang roi thường có điểm mắt. Tảo lục có thể
chuyển động hướng về
ánh sáng (quang hướng thuận) và chuyển động tránh
xa phía có ánh sáng (quang
hướng nghịch).


- Sinh sản
Tảo lục sinh sản bằng các hình thức dinh dưỡng, vô
tính và hữu tính, và có các
kiểu vòng đời sau:
+ Chu kỳ một kỳ đơn tướng sinh: vòng đời chỉ có
hợp tử là lưỡng bội (2n).
+ Chu trình 2 kỳ đơn lưỡng tướng sinh, có xen kẽ thế
hệ đồng hình hay dị
hình.
Ở một số tảo Lục nước ngọt, hợp tử thường trải qua
giai đoạn sống nghỉ - gọi
là hợp tử ngủ (hypozygote), hợp tử có vách dày sống
nghỉ qua một thời gian mới
nảy mầm.
- Phân bố
Tảo lục chủ yếu sống ở nước ngọt, chỉ 10% sống ở
biển. Các loài nước ngọt
thường có tính toàn cầu, chỉ một ít loài có tính đặc
hữu. Ở môi trường biển, trong
các vùng nhiệt đới thường có cấu trúc thành phần loài
gần giống nhau. Tuy nhiên,
tính chất này không đúng với các loài sống ở vùng
nước biển lạnh, thành phần loài
vùng Bắc và Nam bán cầu có sự khác biệt lớn.
Một số Tảo lục sống khí sinh (aerophytic) trên vỏ
cây, đất và đá. Một số sống
được trong môi trường khắc nghiệt, chẳng hạn loài
Chlamydomonas nivalis gặp ở
núi cao nơi thường xuyên có tuyết.
- Phân loại

*Lớp Micromonadophyceace
Tế bào trần hay có vảy. Lớp gồm các tế bào tảo lục
nguyên thủy mà một số tảo
trong đó được coi là nguồn gốc phát sinh của các lớp
tảo lục khác của ngành.
*Lớp Prasinophyceae
Tảo lục chuyển động bằng roi, tế bào mang 1 - 8 roi
gắn phía bên hay ở đỉnh.
Tế bào và roi phủ một số vảy chất hữu cơ.
Các chi điển hình: Pyramimonas, Tetraselmis.
*Lớp Chlorophyceae
Gồm tảo đơn bào hay tập đoàn, chuyển động bằng
roi. Một số dạng hạt, dạng
pamella, một số dạng sợi, tản và ống. Chủ yếu ở nước
ngọt.
*Lớp Ulvophyceae
Tảo phân bố chủ yếu ở môi trường nước biển và lợ,
chỉ một số ít gặp ở nước
ngọt. Loài phổ biến là Ulothrix zonata. Khi sinh sản
vô tính, tất cả các tế bào
158
Ulothrix zonata có thể trở thành túi bào tử và cho ra
16-32 động bào tử có kích
thuớc khác nhau: bào tử nhỏ có 2 roi, bào tử to có 4
roi.
Khi sinh sản hữu tính, các túi giao tử mọc thành cụm
trên phiến và cho ra các
giao tử hơi khác nhau.
Hợp tử được hình thành sống chậm một thời gian rồi
nẩy mầm không giảm

nhiễm cho ra thể bào tử lưỡng bội. Chu trình sống
của tảo là hai kỳ đơn lưỡng
tướng sinh và đồng hình luân phiên thế hệ. Hợp tử
sống chậm một thời gian và nẩy
mầm không giảm nhiễm cho ra cây bào tử lưỡng bội.
Chu trình sống hai kỳ đơn
lưỡng tướng và đồng hình luân phiên thế hệ.
*Lớp Cladophorophyceae
Tản dạng hình ống, một số tảo có có cấu trúc tản
phức tạp. Tế bào sinh sản
mang 2 - 4 roi. Mỗi tế bào của thể giao tử hoặc thể
bào tử chứa nhiều nhân. Chu
trình sống gồm hai kỳ đơn lưỡng tướng sinh đồng
hoặc dị hình luân phiên thế hệ.
*Lớp Bryosidophyceae
Tản dạng ống, một tế bào lớn chứa nhiều nhân.
Tế bào sinh sản mang 2-4 roi. Chu kỳ sống 1 kỳ đơn
tướng sinh, trong đó thể
giao tử đơn tướng và chỉ giai đoạn hợp tử lưỡng bội.
Hợp tử có thể nẩy chồi cho ra
cây giao tử mới hoặc phân cắt cho ra động bào tử
mang roi.
*Lớp Zygnematophyceae
*Lớp Charophyceae
Tảo có cơ thể lớn, có thể cao tới vài cm. Tản dạng sợi
và dạng ống, phân thành
mấu và lóng. Mỗi mấu mang một vòng nhánh, có
sinh trưởng giới hạn. Các tế bào
trưởng thành chứa nhiều nhân, tế bào lúc non đơn
nhân.

Tất cả tảo Charophyceae sinh sản hữu tính noãn giao.
Lớp này chủ yếu phân
bố ở nước ngọt, một số ít ở nước lợ.
Các đại diện: Chara, Nitella, Laprothamnium.
Chi Chara: Chara có kích thước lớn, chiều cao có thể
đạt tới 10 đến 30cm,
giống một thực vật bật cao thủy sinh. Chara sống phổ
biến ở các ruộng lúa và đầm
phá nước ngọt, lợ. Tản gồm một trục chính phân
thành lóng và mấu, mỗi mấu mang
một vòng "lá".
Gồm tảo dạng hạt và dạng s

×