BÀI TẬP MÔN DU LỊCH SINH THÁI
PHẦN I: LIỆT KÊ CÁC VƯỜN QUỐC GIA-KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CỦA VIỆT NAM
Trước những ảnh hưởng nghiêm trọng của công
nghiệp hóa đến môi trường làm ô nhiễm nước, không
khí, đe dọa tới sinh thái và đời sống con người, phát
triển bền vững – sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu
cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của
các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ
(Commission mondiale sur l’Environnement et le
développement- 1987) đã trở thành mục tiêu không
thể bỏ qua của tất cả các quốc gia trên thế giới. Du
lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có ảnh hướng rất
lớn tới môi trường – kinh tế - văn hóa xã hội ở cộng
đồng dân cư tại điểm đến du lịch. Vì vậy cũng như
các ngành kinh tế khác, quan điểm phát triển du lịch
bền vững cũng ngày càng được coi trọng. Trong các
loại hình du lịch hiện nay đang được khai thác, du lịch
sinh thái là loại hình nổi lên với mục đích và phương
thức quản lý giống với du lịch bền vững và là loại
hình hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, cân
bằng lợi ích về kinh tế - môi trường – cộng đồng.
Chính vì vậy, Du lịch sinh thái là loại hình rất cần
được quan tâm phát triển. Phần trình bày sau đây của
nhóm sinh viên sẽ đề cập tới một trong những điều
cận cần thiết nhất để phát triển du lịch sinh thái, đó là
sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với
tính đa dạng sinh học cao. Điều kiện này được thể
hiện một cách rõ nét qua bảng tổng hợp các Vườn
Quốc gia, Khu bảo tồn ở Việt Nam và đặc điểm nổi
bật của chúng.
Trước hệt, cần hiểu được “Khu bảo tồn thiên nhiên
(KBTTN) là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển
được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các
tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được
quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình
thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994).
Các khu BTTN được xây dựng, phục hồi với các
mục đích sau:
- Nghiên cứu khoa học
- Bảo vệ các vùng hoang dã
- Bảo vệ sự đa dạng loài và gen.
- Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên.
- Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và
văn hoá.
- Sử dụng cho du lịch và giải trí.
- Giáo dục.
- Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái
tự nhiên.
- Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống.
Các tiêu chí để được công nhận là một Khu
BTTN được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
đưa ra nhằm triển khai hiệu quả chiến lược quản lý hệ
thống các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam giai đoạn
2005-2010 như sau:
- Có các loài động thực vật hoặc các loài sống ở rạn
san hô, có cảnh quan địa lý có giá trị về khoa học,
giáo dục và có ít nhất 1 loài động thực vật đặc hữu
hoặc trên 5 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
(ngoại trừ các khu bảo tồn biển, do Sách Đỏ Việt Nam
không liệt kê các loài sống ở rạn san hô).
- Diện tích tối thiểu là 5.000ha nếu ở trên đất liền,
3.000ha nếu ở trên biển và 1.000ha nếu là đất ngập
nước, có diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có đa dạng
sinh học chiếm ít nhất 70% và tỷ lệ diện tích đất nông
nghiệp cùng đất thổ cư so với diện tích các khu bảo
tồn thiên nhiên dưới 5%.
- Có điều kiện phát triển giáo dục môi trường và du
lịch sinh thái mà không ảnh hưởng đến các mục tiêu
bảo tồn.
Như vậy mỗi KBTTN có giá trị về các mặt:
quy mô diện tích, tài nguyên thiên nhiên (đất, nước,
khí hậu…), đa dạng sinh học (hệ động vật, hệ thực
vật), cảnh quan thiên nhiên và văn hóa đi kèm. Đó
cũng là những đặc trưng sẽ được phản ánh trong phần
trình bày sau đây.
BẢNG 1: KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN (KBTTN)
STT
Tên
(NămTL)
Diện
tích
(ha)
Vị trí Đặc điểm tự nhiên thuận lợi phát triển DLST
Cơ
quan
quản lý
1
Đồng
Sơn-Kỳ
Thượng
(2003)
14.851
Quảng
Ninh
Hệ thực vật: Có 485 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 280
chi và 101 họ của các ngành thực vật. Trong đó có 5 loài được
xếp trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương Trung hoa, Vù hương,
Lát hoa, Đại hải, Ba kích….là những loài có giá trị cao trên thị
trường trong nước và Thế giới.
Hệ động vật rừng: đã giám định thống kê được trong phạm vi
khu rừng bảo tồn có 249 loài thuộc 79 họ và 28 bộ của 4 lớp động
vật là thú, chim, bò sát và ếch nhái. Đã phát hiện 30 loài quý hiếm
có tên trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt như các loài: Khỉ vàng,
Báo gấm, Chó sói, Tê tê vàng, Công Trĩ….có giá trị bảo tồn gen
rất cao đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong
nước và trên thế giới.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Quảng
Ninh
2
Tây Yên
Tử
(2002)
13.023
Bắc
Giang
Hệ thực vật: rừng Tây Yên Tử có tới 728 loài thực vật thuộc
189 chi của 86 họ. Trong đó có hàng chục loài thực vật đặc hữu,
quý hiếm như: Pơ mu, Thông tre, Đinh, Lim, Sến mật, Gụ, Lát
hoa, Trầm hương, Ba kích, Sa nhân
Hệ động vật: 226 loài động vật rừng, thuộc 81 họ của 24 bộ.
Trong đó có hàng chục loài động vật đặc hữu, quý hiếm được xếp
trong sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, như: Cu li
nhỏ, Voọc đen má trắng, Sói lửa, Gấu ngựa, Khỉ vàng, Hươu
vàng, Gà tiền mặt vàng, Gà lôi trắng, Rùa vàng, Rắn hổ mang
chúa. Gần đây qua nghiên cứu mới phát hiện thêm các loài động
vật đặc biệt quý hiếm như: Cá cóc sần Việt Nam, Ếch Yên Tử.
Chi cục
kiểm
lâm Bắc
Giang
3
Hữu Liên 8.293
Lạng
Sơn
Đây là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và
đa dạng sinh học cao, có nhiều giá trị về khoa học và du lịch,
được coi như là lá phổi của vùng Đông Bắc.
Hệ thực vật: Rừng nguyên sinh Hữu Liên có nhiều loài cây
nguyên sinh quí hiếm hàng trăm năm tuổi như Hoàng đàn,
Nghiến, Trai lý, Cây một lá, Đinh, Thiên tuế
Hệ động vật: có nhiều loài động vật quí hiếm nằm trong danh
mục sách đỏ thế giới như Hươu Xạ, Voọc đen má trắng, Voọc đen
tuyền, Gấu ngựa, Trăn đất…
Văn hóa: Không chỉ đa dạng về sinh cảnh với khu rừng đặc
dụng quí hiếm, những hang động núi đá và thác nước hùng vĩ,
Hữu Liên còn là nơi có nhiều giá trị về di tích lịch sử, văn hóa, lễ
hội và các trò chơi dân gian…tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồn
Chi cục
kiểm
lâm
Lạng
Sơn
4 Núi Pia
Oắc
10.261
Cao
Bằng
Hệ thực vật: thảm thực vật phong phú, có nhiều thực vật quý
hiếm như Hà thủ ô đỏ, Tam Thất, các loại rau quả ôn đới…rừng
có nhiều sản vật quý hiếm. Trong khu bảo tồn có một nơi mà các
nhà khoa học gọi đó là “rừng rêu”, rừng của khí hậu ôn đới. Cây
nào cũng mềm mụp rêu, cành lá la đà. Những cây trúc cũng chỉ
cao độ hai gang tay mọc kín các đỉnh núi, lác đác có vài cây đen
đúa, gầy guộc như vừa móc dưới đáy đại dương đầy rong rêu lên.
Hệ động vật: có nhiều loài quý hiếm như Gà Đen, các loại côn
trùng dùng cho nghiên cứu khoa học và sưu tập
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Cao
Bằng
5
Kim Hỷ
(2003)
14.772
Bắc
Kạn
Thực vật đặc hữu và quý hiếm: 789 loài thực vật bậc cao có
mạch thuộc 541 chi và 169 họ, trong đó có 35 loài thực vật quý
hiếm được ghi trong SĐVN như: Chò chỉ, Re hương, Sưa bắc,
Sam vàng, Lát hoa, Nghiến, Lan kim tuyến, Sến mật, Giổi
nhung…
Động vật đặc hữu và quý hiếm: có 386 loài, 108 họ thuộc 29
bộ của 4 lớp động vật trong đó có 68 loài thú, 235 loài chim, 51
loài bò sát, 32 loài Ếch nhái, có 47 loài động vật quý hiếm ghi
trong Sách Đỏ Việt Nam cần được bảo vệ đặc biệt, tiêu biểu như:
Voọc mũi hếch, Hươu sạ, Voọc đen, Sói đỏ, Cáo vàng, Hổ, Rắn
lửa, Rùa hộp, Trĩ đỏ
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Bắc Cạn
6
Thần Sa-
Phượng
Hoàng
18.859 Thái
Nguyê
n
Hệ thực vật: thảm thực vật có 6 kiểu, loại thực vật có 1.069
loài, 162 họ, 645 chi, 5 ngành, 2 lớp, trong đó có 56 loài trong
sách đỏ Việt Nam và thế giới thuộc đối tượng phải bảo tồn.
Hệ động vật: có 295 loài, 93 họ, 30 bộ, trong đó có 47 loài
quý hiếm trong danh sách đỏ Việt Nam cần được bảo tồn.
Chi cục
kiểm
lâm
Thái
Nguyên
Văn hóa: Khu bảo tồn còn có hệ thống hang động, di tích lịch
sử - khảo cổ học đặc biệt của Việt Nam, là cái nôi của người Việt
cổ.
7
Chạm
Chu
(2001)
15.902
Tuyên
Quang
Khu BTTN có khu hệ động, thực vật phong phú, đặc trưng bởi
hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam.
Hệ thực vật: thực vật có mạch ở đây lên đến 1.500 – 2.000
loài, trong đó 10 loài đặc hữu, quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt
Nam, nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như Hoàng Đàn, Pơ
Mu, Thông tre, Nghiến và Trai Lý, Chò chỉ, Gù hương
Hệ động vật: có 45 loài thú, 127 loài Chim, 38 loài Bò sát và
15 loài lưỡng cư; trong đó 32 loài đặc hữu, quý hiếm có nhiều loài
nằm trong Sách đỏ Việt nam và Thế giới, đặc biệt là sự tồn tại của
các loài linh trưởng đang đe doạ trên toàn cầu như: Voọc mũi
hếch, Voọc đen má trắng, Cu ly lớn, Cu ly nhỏ
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Tuyên
Quang
8
Na Hang 22.402 Tuyên
Quang
Hệ thực vật: còn khoảng 68% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới
vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự
tác động của con người. Trong đó có khoảng 70% là rừng trên núi
đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thường xanh còn lại
trên các đai thấp (Cox 1994). Cho đến nay đã xác định được trên
2.000 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ
Việt Nam (Anon. 1996) như Trai, Mun, Nghiến, Lát Hoa, Đinh,
Thông tre, Hoàng đàn, Trầm gió theo Hill và Hallam (1997).
Hệ động vật: đã ghi nhận được 90 loài thú, 263 loài Chim,
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Tuyên
Quang
61loài Bò sát và 35 loài Ếch nhái. Trong đó, có 13 loài thú ghi
trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1992). Đây là nơi duy nhất ở Việt
Nam có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn nhất. Tại
đây có 8 loài Khỉ hầu bị đe doạ tuyệt chủng mang tính toàn cầu.
Vùng phân bố thế giới của loài Voọc mũi hếch và Voọc đầu trắng
đều ở trong hệ sinh thái này, cho nên Quỹ bảo tồn thế giới của Mỹ
(WWF-US) đã xác định đây là vùng nằm trong 01 của 223 hệ
sinh thái có giá trị ĐDSH cao nhất trên thế giới (Olson &
Dinnerstein, 1998)
9
Bắc Mê
(1994)
9.043
Hà
Giang
Theo số liệu được thống kê từ các Dự án đầu tư xây dựng các khu
bảo tồn:
Hệ thực vật: 290 loài, trong đó có 25 loài quý hiếm được ghi
trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Kim tuyến đá vôi, Mạy
châu, Tuế balansae, Hoàng tinh hoa trắng, Nghiến, Đảng sâm…
Hệ động vật: có 53 loài thú, 83 loài Chim, 15 loài Bò sát, 10
loài Lưỡng cư. Trong đó 47 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ
Việt Nam và Thế giới như: Dơi tai sọ cao, Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ,
Voọc đen má trắng, Cheo cheo, Gà lôi trắng, Rồng đất, Rắn hổ
mang chúa…
UBND
tỉnh Hà
Giang
10
Bát Đại
Sơn
(2000)
4.531
Hà
Giang
Hệ thực vật: có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi. Ngoài ra
KBT còn 1 số cây có giá trị dược liệu như Kim Ngân, Cốt toái bổ,
Thảo quả, Đỗ trọng, Quế. đặc biệt Bát Đại Sơn còn có 18 loài cây
quý hiếm có giá trị bảo tồn cần bảo vệ
Hệ động vật: có tới 195 loài động vật có xương sống thuộc 80
họ trong 24 bộ. Trong đó, có tới 18 loài động vật quý hiếm, 4 loài
ở nhóm nguy cấp như: Gấu ngựa, Voọc đen má trắng, Vượn đen,
Phượng Hoàng đất và một số loài khác đang ở tình trạng hiếm, sẽ
nguy cấp.
Chi cục
kiểm
lâm Hà
Giang
11
Du
Già(1994)
11.540
Hà
Giang
Hệ thực vật: Thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt
đới và rừng kín thường xanh á nhiệt đới ẩm vùng núi cao. KBT có
289 loài thực vật bậc cao thuộc 83 họ trong đó Thông đất 2 loài;
Ngành Quyết 13 loài; Hạt trần 3 loài; Hạt kín 271 loài; lớp lá
mầm 2: 232 loài; Lớp lá mầm 1: 39 loài. Đặc biệt sự có mặt của
Pơ Mu (loài đặc hữu nổi tiếng của Việt Nam) là cây có giá trị xuất
khẩu và là nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra còn Hoàng Đàn, Đinh,
Hương, Nghiến, Trai lý. Phân bố trên diện tích lớn trữ lượng cao.
Hệ động vật: Hệ động vật có xương sống đã thống kê được 171
loài trong 73 họ và 24 bộ. Đặc điểm cơ bản của khu hệ động vật
rừng là hệ động vật núi đá vôi, ưu thế là các loài thích nghi với
địa hình hiểm trở, sống leo trèo như Sơn Dương, các loài Khỉ,
Sóc Động vật khu Du Già đặc trưng cho hệ động vật phía Bắc
Việt Nam có ưu thế của nhiều loài vùng Hoa Nam (TQ) như Cáo,
Lưng chó, Gấu Ngựa, Sóc bụng đỏ. Những loài động vật quý
hiếm trong Sách đỏ Việt Nam tổng số 27 loài: Lớp thú 17 loài,
Chim 2 loài, Bò sát 8 loài.
Chi cục
Kiểm
lâm tỉnh
Hà
giang
12
Phong 7.911 Hà Theo tài liệu từ khi thành lập KBT trong KBT có 55 loài thú,
Chi cục
Quang
(1998)
Giang
125 loài chim, 21 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 377 loài thực vật
bậc cao, 32 loài động vật quý hiếm và 11 loài thực vật quý hiếm
như: Chim, Bò sát, Lưỡng cu, Linh trưởng, Đinh, Nghiến, Trai
kiểm
lâm tỉnh
Hà
Giang
13
Tây Côn
Lĩnh
(2002)
14.489
Hà
Giang
Theo tài liệu điều tra nhanh đa dạng sinh học của dự án nâng
cao năng lực do VFC tài trợ như sau:
Hệ thực vật: Là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật. Các
loài đặc hữu có giá trị cần bảo vệ: Cây Vù Hương, Cây Bồ An,
Cây Bồ Đề lá bời bời. Có 796 loài thực vật bậc cao và 54 loài
thực vật quý hiếm.
Hệ động vật:: 58 loài thú, 100 loài Chim, 55 loài bò sát lưỡng
cư và 37 loài động vât quý hiếm.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Hà
Giang
14 Văn Bàn 25.173
Lào
Cai
Hệ thực vật: KBT có 891 loài thực vật thuộc 167 họ và 18 loài
thực vật đặc hữu, quý hiếm ( Sách đỏ VN) như: Chò đãi, Trầm,
Gù hương, Vù hương, Pơ mu, Hồi núi, Sến mật; loài đặc hữu
Bách tán Đài Loan (Cha nâu)
Hệ động vật: có 486 loài, trong đó 52 loài đặc hữu, quý hiếm.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Lào Cai
15
Mường
Tè
33.775
Lai
Châu
Hệ thực vật: 542 loài thực vật, trong đó có 57 loài thực vật quý
hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 7 trong sách đỏ thế
giới, đa số là những loài thuốc quý hiếm; 22 loài đặc hữu hẹp cho
vùng Tây Bắc, 7 loài nằm trong Nghị định số 32 của Chính phủ
và 6 loài đặc trưng cho vùng Tây Bắc: Trám đen, chò nước, giổi
xương, chò nâu, đinh, sến, lát hoa
16
Mường
Nhé
(1996)
44.940
Điện
Biên
Hệ thực vật: phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau tạo nên
các kiểu rừng với ưu hợp điển hình như: Ưu hợp Sồi, Dẻ, Giổi,
Re, Thích, Pơ Mu, Thông nàng; đến nay đã thống kê được 740
loài thực vật thuộc 500 chi trong 156 họ của 5 ngành thực vật.
Trong đó có 35 loài thực vật quí hiếm; 29 loài có tên trong sách
đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Nhiều loài phân bố trong khu
vực như: Họ Ba mảnh vỏ, họ Dâu tằm, họ Cà phê, họ Lan, họ
Đậu, họ Re.
Hệ động vật: Qua thống kê khảo sát tháng 12 năm 2006 do
Chuyên gia động vật Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện đã
thống kê có 291 loài động vật thuộc 95 họ của 27 bộ trong các lớp
động vật. Trong đó có 55 loài động vật đặc hữu, quý hiếm; 45 loài
có tên trong Sách đỏ Việt nam như: Gấu ngựa, Gấu chó, Vượn
bạc má, Voọc xám, các loài Khỉ, Công, Niệc cổ hung, Trăn mốc
Python, các loài Rái cá,….
Sở
Nông
nghiệp
và phát
triển
Nông
thôn
tỉnh
Điện
Biên
17
Copia 11.996 Sơn
La
Hệ thực vật: Thảm thực vật gồm 5 kiểu: Rừng kín hỗn giao cây lá
rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (phân bố ở độ
cao từ 1700 - 1821 m; rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á
nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (độ cao từ 800-1700 m); rừng
thứ sinh; trảng cỏ cây bụi cao và rừng trồng thông. Đã xác định
được 609 loài thực vật bậc cao thuộc 406 chi của 149 họ trong 5
ngành thực vật. Trong đó có 21 loài quý hiếm có trong Sách Đỏ
Việt Nam 2007
Hệ động vật: có 65 loài thú thuộc 25 họ, 8 bộ. Trong đó có 17
loài có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 184 loài chim, thuộc 47
họ, 14 bộ. Trong đó có 20 loài chim quý hiếm có trong Sách Đỏ
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Sơn La
Việt Nam năm 2007 và 6 phân loài đặc hữu; 22 loài lưỡng cư,
thuộc 6 họ, 1 bộ và 36 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ. Trong đó có
13 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 252 loài côn trùng thuộc 4
bộ: Bộ cánh nửa (Heteroptera) được 47 loài thuộc 8 họ, bộ cánh
cứng (Coleoptera) được 107 loài thuộc 11 họ, bộ cánh màng
(Hymenoptera) được 29 loài thuộc 4 họ, bộ cánh phấn
(Lepidoptera) được 69 loài thuộc 9 họ.
18 Sốp Cộp 17.369
Sơn
La
Hệ thực vật: đặc hữu và quí hiếm có 37 loài như: Bách xanh,
Chò nâu, Trai lý, Kim giao, Re hương, Lát hoa, Sến mật
Hệ động vật: đặc hữu và quí hiếm có 72 loài như: Khỉ vàng,
Voọc xám, Cầy giông, Cầy hương, Báo hoa mai, Tê giác, Sơn
dương, Gà lôi trắng, Công, Gà tiền mặt vàng
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Sơn La
19 Tà Xùa 13.412
Sơn
La
Hệ thực vật: có 613 loài thực vật, trong đó có 59 loài quý
hiếm như Pơ mu, Thông tre, Lát hoa, Đinh, Chò chỉ, Vù hương,
Nghiến, Sến mật, Trai lý, Pơ mu, Táu mật…
Hệ động vật: có 348 loài động vật (59 Loài động vật quý hiếm
thuộc sách đỏ Việt Nam) như: Cu ly lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc xám,
Gấu chó, Mèo rừng, Báo gấm, Sơn dương, Tê tê, Triết bụng
vàng
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Sơn La
20
Xuân Nha 16.317 Sơn
La
Hệ thực vật: Có 1010 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 180
họ thực vật. Trong đó có 65 loài thực vật quý hiếm, nhiều loài cây gỗ
quí như: Lát hoa, Du Sam, Chò chỉ, Đinh thối, Giổi xanh, Kim Giao,
Thông nàng, Trầm, Ba kích, Sến mật…
Hệ động vật: có 345 loài động vật thuộc 27 bộ, 95 họ. Trong đó,
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Sơn La
43 loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam như: Cu ly nhỏ,
Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Vượn đen, Sói đỏ, Cầy vằn bắc, Bò
tót, Sơn dương, Tê tê Java
21 Nà Hẩu 16.400
Yên
Bái
Hệ thực vật: thảm thực vật phong phú gồm trên 40 loại cây
quý hiếm như: dẻ tùng sọc trắng, thảo quả, sa nhân đỏ, gù
hương…
Hệ động vật: cũng có nhiều loài động vật có giá trị bảo tồn
trong nước và quốc tế. Loài thú có: báo hoa mai, mèo gấm, báo
lửa, cầy vằn bắc…; loài chim có: hồng hoàng, gà lôi trắng và
nhiều loài trong họ khướu, bộ sẻ; các loài bò sát có: hổ mang
chúa, rùa đầu to, kỳ đà hoa…
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Yên Bái
22
Hang
Kia-Pà
Cò
5.258
Hoà
Bình
Hệ thực vật: đặc hữu và quý hiếm gồm 9 loài: Thông đỏ,
Thông Pà cò, Các loài lan kim tuyến, Bách xanh, Pơ mu, Trai lý,
Nghiến, Củ bình vôi, Cây một lá.
Hệ động vật: đặc hữu, quý hiếm gồm có 11 loài: Cu li nhỏ,
Mèo rừng, Sơn dương, Gà lôi trắng, Hổ mang chúa, Cầy vằn,
Chim yểng, Rắn ráo trâu, Rắn cạp nia bắc, Rắn cạp nong, Rắn hổ
mang.
Chi Cục
kiểm
lâm tỉnh
Hòa
Bình
23
Ngọc
Sơn-Ngổ
Luông
15.891 Hoà
Bình
Ngọc Sơn cũng đã ghi nhận sự có mặt của quần thể Voọc quần
đùi trắng Trachypithecus delacouri, là loài đặc hữu của Việt Nam
và đang bị đe doạ tuyệt chủng toàn cầu.
Ngọc Sơn là mắt xích quan trọng trong một tổ hợp các khu đề
xuất bảo vệ, trải dài từ VQG Cúc Phương đến biên giới Việt Lào.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Hòa
Bình
Điều này cho thấy, các khu vực rừng chuyển tiếp có thể được bảo
vệ cũng như các hành lang sinh cảnh sẽ được tái thiết lập tại các
khu vực rừng đã bị tàn phá. Ngọc Sơn là nơi có thể tồn tại các
cảnh quan tự nhiên nguyên sơ nhất tại Việt Nam.
24 Phu Canh 5.647
Hoà
Bình
Hệ thực vật: rất phong phú, đa dạng các loài cây đặc hữu và
quý hiếm có 14 loài như: Thông tre lá ngắn, Bách xanh, Sến mật,
Re hương, Táu mật, Lát hoa, Trai lý, Kháo xanh, Vù hương, Du
sam, Lát hoa, Ba gạc lá nhỏ, Đinh vàng, Đinh thối.
Hệ Động vật: đặc hữu và quý hiếm có 13 loài như: Cu li nhỏ,
Khỉ đuôi lợn, Sơn Dương, Tê vàng, Gà tiền mặt vàng, Yểng, Rắn
hổ mang chúa…
Chi Cục
kiểm
lâm tỉnh
Hòa
Bình
25
Thượng
Tiến
5.873
Hoà
Bình
Hệ thực vật: có giá trị như Kim Giao, Thông tre lá ngắn, Re
hương, Gù hương.
Hệ động vật: có giá trị như Báo gấu, Gấu ngựa, Rắn hổ mang
chúa, Cầy bay, Cu ly, Rắn hổ trâu, Mèo rừng, Gà lôi trắng, Rái cá.
Chi Cục
kiểm
lâm tỉnh
Hòa
Bình
26
Tiền
Hải(1994)
3.245 Thái
Bình
Hệ thực vật: có hơn 180 loài cây rừng ngập mặn (sú, vẹt, bần,
mắm )
Hệ động vật: có hơn 150 loài chim nước, trong đó nhiều loài
nằm trong Sách đỏ (Cò thìa Ptalaleaminor, Bồ nông chân xám
Pelecanus philippensis), hơn 80 loài cá và 20 loài giáp xác (tôm
sú, ngao, cá đối). 08 loài chim và 02 loài động vật (Rái cá và Cá
Thủ vàng) đặc hữu quý hiếm, cùng với VQG Xuân Thuỷ, KBT
Tiền Hải khu RamSar đầu tiên của Việt Nam, năm 2004 đã được
Sở
Nông
nghiệp
và Phát
triển
nông
thôn
tỉnh
Thái
Uỷ ban UNESCO công nhận là một trong vùng lõi quan trọng của
Khu dự trữ sinh quyển Thế giới.
Bình
27
Vân Long
(2002)
1.974 Ninh
Bình
Hệ thực vật: có khoảng 457 loài thực vật bậc cao có mạch
thuộc 327 chi, 127 họ. Đặc biệt, có 8 loài được ghi trong sách đỏ
Việt Nam (1996) là kiêng, lát hoa, tuế lá rộng, cốt toái bổ, sắng
bách bộ, mã tiền, hoa tán, bò cạp núi.
Hệ động vật: có 39 loài, 19 họ, 7 bộ thú, trong đó 12 loài động
vật quý hiếm như voọc quần đùi với số lượng cá thể lớn, gấu
ngựa, sơn dương, khỉ mặt đỏ, báo hoa mai, báo gấm. Có 9 loài bò
sát được ghi trong sách đỏ Việt Nam vẫn có ở Vân Long như rắn
hổ chúa, kỳ đà hoa, trăn đất, rắn ráo trâu, rắn sọc đầu đỏ…Vân
Long cũng có khả năng hình thành được một vườn chim vì có 62
loài, 32 họ, 12 bộ chim và hiện nay có khoảng gần 300 con cò bợ,
cò ruồi, cò trắng thường xuyên kiếm ăn ở bãi sình lầy và ruộng
lúa. Tuy vùng đất ngập nước ở Vân Long chưa được nghiên cứu
đầy đủ, nhưng đây cũng rất có thể là nơi quan trọng đối với các
loài chim nước di cư như sâm cầm. Một trong những ghi nhận
đáng chú ý ở Vân Long là đại bàng Bonelli. Đến nay, khu đề xuất
bảo tồn thiên nhiên Vân Long là điểm duy nhất đã ghi nhận chính
xác loài đại bàng này ở Việt Nam. Điều đáng chú ý là tại các khu
vực ngập nước Vân Long có các loài cà cuống, một nhóm côn
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Ninh
Bình
trùng quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam. Ngoài giá trị
dược lý gắn liền với văn hoá ẩm thực, cà cuống sống được là biểu
hiện sự trong sạch của môi trường nước, giúp con người tiêu diệt
một số loài thân mềm mang bệnh ký sinh trùng, loài ốc bươu
vàng.
28 Pù Hu 23.028
Thanh
Hóa
Hệ thực vật: có 2 kiểu rừng chính. Rừng thường xanh đất thấp
phân bố ở độ cao dưới 700 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc
họ Đậu Fabaceae, họ Xoan Meliaceae và họ Bồ hòn Sapindaceae.
Ở những nơi có độ cao thấp hơn, kiểu rừng này đã bị tàn phá để
lấy đất làm nương rẫy. Kiểu rừng thường xanh núi thấp phân bố ở
độ cao trên 700 m, với các loài thực vật ưu thế của họ Dẻ
Fagaceae, họ Dâu tằm Moraceae và họ Re Lauraceae (Anon.
1998). Ở đó có 508 loài thực vật khác nhau.
Hệ động vật: Đã ghi nhận được 266 loài động vật, một số loài
thú có giá trị bảo tồn như Gấu ngựa, Gấu chó, Bò tót và Vượn -
có thể là loài Vượn đen má trắng (Anon. 1998); 1 loài chim có
vùng phân bố hẹp là Trèo cây mỏ vàng (Theo Lê Trọng Trải,
2000).
UBND
tỉnh và
chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Thanh
Hóa
29
Pù Luông 16.902 Thanh
Hóa
Hệ thực vật: có 05 loại kiểu rừng chính tồn tại do kết quả của
sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên
núi đá vôi (60-700 m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch,
sa thạch và đất sét (60-1.000 m); rừng lá rộng chân núi đá vôi
(700-950 m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700-850 m) và rừng lá
rộng chân núi Bazan (1.000-1.650 m). Khu bảo tồn cũng tồn tại
các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông
UBND
tỉnh và
chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Thanh
Hóa
nghiệp
Hệ động vật: 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có
xương sống, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài
dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát). Có tổng số 84
loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò
sát và 13 loài ếch nhái đã được ghi nhận. Khu hệ côn trùng tại Pù
Luông có ít nhất là 158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn,
trong đó có 12 loài thân mềm có thể là đặc hữu cho khu vực. Khu
bảo tồn này là nơi cư trú của báo gấm, beo lửa, hươu sao, gấu
ngựa, sơn dương, voọc quần đùi trắng
30
Xuân
Liên
23.475 Thanh
Hóa
Hệ thực vật: có hơn 6.000 ha rừng nguyên sinh, 572 loài thực
vật, trong đó có 156 cây thuốc quý, hơn 40 loài cây ăn quả, hơn
300 loài cây lấy gỗ, 23 loài cây lấy nhựa và dầu như trầm gió, bời
lời, quế và hàng trăm cây thuốc quý, cây đan lát, hàng chục họ
lan. Đặc biệt, ở đây còn có loài cọ Bắc Sơn quanh năm tốt tươi,
tán lá mọc chụm ở ngọn, dáng to cao, tạo nên vẻ đẹp uy nghi,
hùng vĩ Trong đó có 4 loài là các loài đặc hữu Việt Nam là cây
vù hương, Cọ mai nháp lá nhỏ, loài Croton boniana và cây lá nến
không gai.
Hệ động vật: Tổng số có 38 loài thú được ghi nhận, 10 trong
số đó là các loài bị đe dọa trên toàn cầu. Các loài thú được
ghi nhận có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác bảo tồn
bao bồm bò tót, voọc xám, vượn đen má trắng và mang
Roosevelt. Tổng số có 136 loài chim thuộc 11 bộ 29 họ điển
hình, một số loài có số lượng lớn như gà rừng, hồng hoàng;
UBND
tỉnh và
chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Thanh
Hóa
53 loài bò sát và lưỡng cư, 143 loài bướm.
Di tích, danh lam thắng cảnh: Cùng nằm trong KBTTN
Xuân Liên có đền thờ Cầm Bá Thước, người lãnh đạo
phong trào Cần vương ở phía Tây Thanh Hóa.
31
Pù Hoạt 35.723 Nghệ
An
Hệ thực vật:
- Kiểu rừng nhiệt đới núi cao: nhiều loài đặc hữu và đặc biệt là
sự tồn tại của các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu, Bách
xanh, Sa mu, các loài này tuy số lượng và sinh khối trên toàn rừng
không lớn nhưng là những cây có tầm vóc lớn cả về chiều cao và
đường kính mà không có loài nào cây nào ở trong nước có thể
sánh nổi. Nếu so sánh với 8 cây đã được P.W. Richards giới thiệu
trong “Rừng mưa nhiệt đới” như Cự tùng H = 102, D = 8; Bạch
đàn vua ở Úc; Bạch quả ở Trung Quốc chu vi 16vm; cây Com pat
ở Sarawark thì những cây Sa mu của Pù Hoạt có thể đứng vào
hàng thứ 8 hoặc thứ 9 trong số các cây có tầm vóc lớn nhất thế
giới. Do đó những quần thể các loài lá kim trong kiểu rừng này
của Pù Hoạt là một trong số các mẫu ít ỏi của trái đất còn tồn tại
và tạo nên những cảnh ngoạn mục trên vùng đỉnh núi cao luôn
luôn có mây che phủ.
- Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi
trung bình: Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, sinh trưởng tốt,
cây lá kim có Thông nàng, Kim giao rải rác đôi chỗ trên các sườn
giông và rất dốc. Cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các Họ
sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế
trong một số tổ thành đai diện của Họ Dẻ như: Cà ổi, Dẻ đá, Sồi ,
Dẻ cau; Họ Re có 30 loài của các chi, trong đó chi phân bố rộng;
Họ Dầu tuy ít loài nhưng ở nhiều lâm phần ở Thông thụ và Phu
Kiểm
lâm,
Ban
quản lý
Khu
BTTN
Pù Hoạt
và Uỷ
Ban
Nhân
dân xã,
huyện
có rừng
Pha Nhà đã chiếm ưu thế tuyệt đối tới trên 50% trong tổ thành.
Họ Mộc lan với nhiều cây gỗ lớn của các chi Giổi; Họ Hồng xiêm
với nhiều loài cây gỗ nổi tiếng Sến Mật với đường kính trên 60 –
80 cm cũng đôi khi chiếm 3 – 5% trong tổ thành. Ở kiểu rừng này
cá Họ sau xuất hiện và đóng vai trò quan trọng là Họ Xoan với
các loài Gội; Họ Bồ hòn với các loài Sâng , Trường; Họ Thị có 6
– 7 loài của chi Diospyros. Kiểu rừng này phần lớn cũng là rừng
ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và có nhiều động vật quí hiếm
sinh sống như: Voi, Bò tót, Hươu nai, Gấu, Hoẵng.
- Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi
thấp: Thảm thực vật không đồng đều với nhiều họ và nhiều đại
diện ưa sáng của các Họ Thầu dầu, Sim, Xoan, Dâu tằm, Cánh
bướm, Vang, Thị, Re, Dẻ, Côm. Rừng chia 3 tầng, tầng ưu thế
sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo, Bứa,
Vạng, Lim xẹt, Mọ, Muồng, Đa, Mãi táp, Ngát, Côm, Bời lời,
Chắp.
32 Pù Huống 40.128
Nghệ
An
Hệ thực vật: Đến nay, tổng cộng có 665 loài thực vật bậc cao
có mạch, trong đó có 43 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.
Hệ động vật: đã ghi nhận được 291 loài thú, trong đó có 45 loài
có trong Sách Đỏ Việt Nam (Ban Quản lý Khu BTTN Pù Huống,
2003). Tổng cộng có 148 loài chim, trong đó có 10 loài trong
Sách Đỏ Việt Nam. Pù Huống hiện có quần thể loài Vượn đen bạc
má (Kemp và Dilger 1996). Khu BTTN Pù Huống có diện tích
sinh cảnh tự nhiên đủ lớn cho sự tồn tại và phát triển của loài
vượn này, vì vậy hiện tại mối đe doạ lớn nhất đối với loài này
chính là săn bắn. Ngoài ra sự có mặt của Sao la Pseudoryx
nghetinhensis trong vùng cũng được ghi nhận năm 1995 thông
qua phỏng vấn và định loại mẫu tiêu bản (Kemp et al. 1997).
UBND
tỉnh
Nghệ
An
33 Kẻ Gỗ 21.759
Hà
Tĩnh
Hệ thực vật: có các loài thực vật quý như: táu, gõ, chò chỉ,
kim giao, sến, lát hoa, nhiều loại cây cho gỗ có tên trong sách đỏ
Việt Nam như lim xanh, sến mật, gụ, lau, vàng tâm, trầm hương,
song mật, lát hoa, côm bạch mã, chùm bao Trung Bộ, bời lời
vàng, v.v Đây là khu hệ thực vật (TV) phong phú đặc trưng cho
nhiều luồng TV của khu hệ TV bản địa Bắc VN - Nam Trung
Hoa, luồng TV Indonsia - Malaysia và luồng thực vật Hymalaya.
Hệ động vật: đã phát hiện được 364 loài động vật có xương
sống thuộc 99 họ. Các loại động vật quý hiếm như: trĩ sao, gà lôi
lam đuôi trắng, gà lôi hồng tía, ngan cánh trắng, vượn, gấu, hổ, tê
tê, sóc bay. Ở đây có gà lôi lam mào đen, 100 loài bò sát và lưỡng
cư. Các loài thú lớn hiếm hoi do tình trạng săn bắt bừa bãi. Đến
nay, tại khu BTTN Kẻ Gỗ Gà lôi lam đuôi trắng, một trong ba
loài gà lôi đặc hữu của Việt Nam đang trong tình trạng bị đe doạ
tuyệt chủng, và nhiều loại quý hiếm khác. Trong 47 loài thú ở đây
có 18 loài (chiếm 21%) được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế
giới. Rừng Kẻ Gỗ cũng là xứ sở của các loại mộc lan, phong lan
đẹp và quý như quế hương, tai tượng, tai trâu, đuôi chồn, nghinh
xuân, phượng vĩ…
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Hà Tĩnh
34
Bắc
Hướng
Hóa
25.200 Quảng
Trị
Hệ thực vật: Tại khu BTTN Bắc Hướng Hóa, trong tổng số 35
họ và 117 loài thuộc 2 ngành Thực vật bậc cao có mạch thì ngành
Thông gồm 2 họ, 6 loài; ngành Ngọc lan gồm 33 họ, 111 loài.
Những họ có nhiều loài cho gỗ là: Đậu– 12 loài; Long não– 11 loài;
Dẻ – 10 loài; Đào lộn hột, Vang, Thị và Bồ hòn, mỗi họ có 6 loài;
Xoan và Kim giao, mỗi họ có 5 loài. Đáng chú ý là những loài cho
gỗ tốt như Hoàng đàn giả, Gụ lau, Lim vàng, Lim xẹt, Xoay, Dẻ
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Quảng
Trị
giáp, Vù hương, Giổi xanh, Lát hoa. Trong đó có 9 loài đã được cấp
báo trong Sách Đỏ Việt Nam. Đây là những cây gỗ lớn có kích
thước với đường kính thân từ 60 cm trở lên hay bị săn lùng và khai
thác trái phép, cần bảo tồn những loài cây trên và có phương án gây
trồng những cây con từ nguồn giống của những cây này trong khu
bảo tồn.
Bên cạnh đó có nhiều loài làm cảnh là Lan: 13 loài; Dứa sợi:
5 loài; Dâu tằm - 4 loài; Lộc vừng, Thu hải đường, Kim giao,
Tuế, mỗi họ có 3 loài; Mai – 2 loài. Trong số đó có 3 loài đã được
ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Một số loài chủ yếu Dendrobium
spp. (họ Lan - Orchidaceae), Barringtonia spp. (họ Lộc vừng) và
một số loài thuộc ngành Dương xỉ và Thông.
Hệ động vật: đã ghi nhận sự có mặt của bò tót với số lượng
không nhiều.
35 Đakrông 37.640
Quảng
Trị
Hệ thực vật: Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông với đặc trưng
sinh thái lá rộng, thường xanh trên đất thấp.
Hệ động vật: đã ghi nhận về sự có mặt của loài gà lôi lam mào
trắng có tên khoa học là Lophura edwardsi, một loài đặc hữu có
giá trị bảo tồn cao và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài
tự nhiên. Nhiều loại động thực vật ở đây đã có tên trong sách đỏ
Việt Nam như: Sao la, Mang Trường Sơn, Chà vá chân nâu,
Voọc, Lim xanh và được tổ chức Bảo tồn chim thế giới xếp vào
vùng chim quan trọng
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Quảng
Trị
36
Phong
Điền
30.263
Thừa
Thiên-
Huế
Hệ động vật: có143 loài bướm, thuộc 10 họ. Trong đó có loài
bướm quý papipio noblie; đã ghi nhận 44 loài Thú, trong 7 bộ và
20 họ. Trong tổng số loài thú có 19 loài được ghi trong sách đỏ
Thế Giới (IUCN,1996)
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
TTH
37 Sơn Trà 3.871
Đà
Nẵng
Hệ thực vật: Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh
thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên
sinh. Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng,
phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống
cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá
bóng
Hệ động vật: có những loài động vật quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng, trong đó Voọc vá được xem là loài thú sinh trưởng
đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Đà
Nẵng
38
Bà Nà-
Núi Chúa
30.206
(Đà
Nẵng)
2.753
Quảng
Nam)
Đà
Nẵng
và
Quảng
Nam
Bà Nà có hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Trong
những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn là nơi cư trú của 256 loài
động vật, trong đó có 61 loài thú, 178 loài chim và 17 loài bò sát.
Hệ thực vật ở đây có 543 loài gồm 136 họ và 379 chi. Bà Nà là
nơi có nhiều loài động vật quý hiếm cư trú như trĩ sao, gấu đen
châu Á, vượn bạc má hung Năm 1986, Bà Nà đã được Chính
phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ là rừng
nhiệt đới và nhiều loại động thực vật quý hiếm.
39
Ngọc
Linh
17.576 Quảng
Nam
Hệ thực vật: có nhiều loài thực vật đặc hữu Việt Nam như
Thông đà lạt và Sâm ngọc linh.
Hệ động vật: Hệ động vật rừng của khu bảo tồn này rất đa
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
dạng với 53 loài thú. 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng
cư, 25 loài cá Ngoài ra, đây cũng là nơi phân bố của một số loài
chim, thú đặc hữu mới được phát hiện gần đây như Mang Trường
Sơn và Khướu Ngọc Linh là loài phân bố giới hạn cho vùng
Trung Trường Sơn của Việt Nam.
Ngọc Linh là một trong bốn Vùng Chim Đặc hữu của Việt
Nam vừa được công bố (Tordoff et al. 2000), và đã được công
nhận là một Vùng Chim Quan trọng của Việt Nam (Tordoff
2002).
Quảng
Nam
40
Sông
Thanh
79.694
Quảng
Nam
Hệ thực vật: Hệ thực vật có tổng số 831 loài thực vật bậc cao
trong đó có 38 loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.
Hệ động vật: có sự hiện diện của nhiều loài thú lớn và hiếm
như hổ, báo, voi, voọc cá chân nâu, voọc cá chân xám, mang
Trường Sơn…với 14 loài động vật có tên trong Sách Đỏ Việt
Nam.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Quảng
Nam
41 An Toàn 22.545
Bình
Định
Hệ thực vật: KBT có 19.414 ha rừng tự nhiên, 127 ha rừng
trồng. Thành phần thực vật trong khu vực tương đối đa dạng với
một số loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao như Gõ đỏ, Giáng hương
quả to.
Hệ động vật: có một số loài thú có giá trị bảo tồn: loài Chà vá
chân xám
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Bình
Định
42
Hòn Bà 19.164 Khánh
Hòa
Cảnh quan: đỉnh Hòn bà rất hùng vỹ nhưng còn rất hoang sơ ,
chưa được bàn tay con người khai thác để phục vụ du lịch.
Hệ thực vật: đã thống kê được 43 loài quý hiếm được liệt kê
trong Sách đỏ Việt Nam, trong đó đáng kể là các loài Thông 2 lá
dẹp, Pơ mu, Hồng quang, Gỏ đỏ, Trắc dây, Mun (Diospyros
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Khánh
Hòa
mun), Xoay, cây Ớt làn mụn cóc là loài đặc hữu hẹp mới chỉ tìm
thấy ở Hòn Bà và Ninh Hòa (Khánh Hòa). Hòn Bà là nơi có
nguồn dược liệu tự nhiên hết sức phong phú và giá trị cao: Nấm
Linh chi, Sa nhân, Dó bầu, Lười ươi, Cốt toái bổ, Ngũ gia bì, Ba
gạc, Bời lời chanh…
Hệ động vật: theo kết quả thống kê sơ bộ cho thấy hệ ĐVR
bao gồm 255 loài thuộc 88 họ; nằm trong 4 lớp thú, chim, bò sát
và ếch nhái. Đặc biệt có sự hiện diện của các đàn Chà vá chân đen
và Vượn bạc má.
43
Krông
Trai
13.392
Phú
Yên
Hệ thực vật: có khoảng 36 loài thực vật.
Hệ động vật: 50 loài thú, 182 loài chim và 22 loài bò sát,
trong số đó có nhiều loài động quí hiếm có giá trị cao cho nghiên
cứu khoa học, tham quan tìm hiểu.
Văn hóa: Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai còn là nơi bảo
tồn các văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của các đồng bào
dân tộc ít người như đồng bào Ê Đê, Ba Na với các lễ hội: đâm
trâu, lễ bỏ mả, lễ hội mùa, kể khan, nghệ thuật nhà mồ.
44
Núi Ông 24.017 Bình
Thuận
Hệ thực vật: Các kiểu rừng chính tại khu bảo tồn gồm rừng
thường xanh, rừng rụng lá và nửa rụng lá (Anon. 1992). Kiểu
rừng phân bố rộng nhất là rừng thường xanh đất thấp, tuy nhiên ở
những vùng bị xáo trộn mạnh nhất bởi hoạt động khai thác gỗ là
nơi có rừng nửa rụng lá ưu thế bởi các loài họ Dầu
Dipterocarpaceae. Khu vực còn có một số diện tích nhỏ của kiểu
rừng rụng lá nguyên sinh ở vùng xa nhất về phía đông nam của
khu bảo tồn. Tại những đai cao hơn có kiểu rừng thường xanh núi
thấp và rừng lùn xuất hiện ở đai cao nhất xung quanh đỉnh núi
Ông. Ngoài ra còn có trảng cỏ, trảng cây bụi, trảng cây bụi có cây
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Bình
Thuận
gỗ rải rác ở những vùng thấp.Tổng số có 332 loài thực vật bậc cao
có mạch đã được ghi nhận tại Khu BTTN Núi Ông, trong đó có
một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Gõ đỏ, Trắc bà rịa.
Hệ động vật: có 52 loài thú, 96 loài chim, 21 loài bò sát, 7
loài ếch nhái và 22 loài cá đã được ghi nhận. Trong đó có nhiều
loài bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu như Voọc vá chân đen
Pygathrix nemaeus nigripes và Vượn đen má hung Hylobates
gabriellae (Anon. 1992)
45 Tà Kóu 8.468
Bình
Thuận
Hệ thực vật: gồm 3 kiểu rừng: rừng nhiệt đới thường xanh
núi thấp, rừng nhiệt đới bán rụng lá núi thấp và rừng nhiệt đới lá
rộng rụng lá mùa khô. Đây là nơi cung cấp một lượng lớn cây lấy
thuốc nổi tiếng chất lượng cao ở miền Nam. Hệ thực vật của núi
ước khoảng 1.000 loài thực vật có mạch trong đó đã ghi nhận hơn
¼ có thể sử dụng làm dược liệu.Có ít nhất 15 loài thực vật quý
hiếm và nguy cấp ở Tà Kóu.
Hệ động vật: Có ít nhất 10 loại động vật quý hiếm và nguy
cấp được ghi nhận ở Tà Kóu.
Chi cục
kiểm
lâm tỉnh
Bình
Thuận
46
Ngọc
Linh
38.109 Kon
Tum
Hệ thực vật: có 874 loài thực vật bậc cao thuộc 537 chi, họ.
Khu bảo tồn có kiến tạo địa chất lâu đời, còn tồn tại nhiều loài
loài thực vật cổ xưa như các họ ngọc lan, họ na, họ chè, họ cáng
lồ và các họ thực vật ôn đới. Có 9 loài thực vật đặc hữu, trong đó
sâm Ngọc Linh là cực kỳ quý hiếm. Có nhiều kiểu rừng như rừng
cây lá rộng, lá kim…
Hệ động vật: 309 loài động vật hoang dã. Động vật có 5 loài
thú được ghi trong Sách Đỏ thế giới: Khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn,
báo gấm, hổ, nhím đuôi ngắn và 15 loài được ghi trong Sách Đỏ
Việt Nam. Trong khu hệ chim phát hiện hai loài mới là khướu đầu
hung, khướu đuôi vằn; khu hệ bò sát có 3 loài đặc hữu là thằn lằn
đuôi đỏ, rùa hộp trán vàng và ếch da cóc…
47
Kon Cha
Răng
(Kon Chư
Răng)
15.446
Gia
Lai
Hệ thực vật: Kiểu rừng chính ở đây là rừng nhiệt đới thường
xanh núi thấp phân bố ở độ cao từ 900 - 1.000 m ở phía tây bắc
khu bảo tồn. Kiểu rừng này chiếm 70 - 80% diện tích rừng trong
khu vực, với thành phần thực vật ưu thế bởi các loài cây thuộc họ
Dẻ Fagaceae, Re Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae mọc hỗn giao
với các loài cây lá kim như Thông nàng Podocarpus imbricatus,
Hoàng đàn giả Dacrydium elatum. Chỉ có khoảng 2% diện tích là
rừng thứ sinh, chủ yếu là trảng cây gỗ rải rác và cây bụi (Anon.
1999).
Hệ động vật: có 62 loài thú, 169 loài chim và 161 loài bướm.
KBTTN là một bộ phận của vùng Chim Đặc hữu Cao nguyên
Kon Tum và đã được công nhận là một trong số các vùng chim
quan trọng tại Việt Nam (Tordoff 2002)
48
Ea Sô 24.017 Đắk
Lắk
Địa hình rất phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao
hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò,
trảng bằng, đồng cỏ tạo nên một vùng đặc sắc với nhiều kiểu
thảm thực vật và được đánh giá là môi trường sống lí tưởng nhất
hiện tại ở Việt Nam của nhiều loài động vật rừng thuộc bộ thú
móng guốc ăn cỏ. Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ
thế giới là: bò tót, bò rừng