Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

một số biện pháp nhằm phát triển xuất khẩu hạt điều của công ty xuất khẩu nông sản ninh thuận

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 127 trang )

1

LỜI MỞ ĐẦU
Được đánh giá là một trong những ngành kinh tế đầy tiềm năng và có vai trò
chiến lược đối với nền kinh tế chung của cả nước, tuy chỉ mới xuất hiện và phát
triển trong vài năm gần đây nhưng ngành hạt điều xuất khẩu Việt Nam đã có những
bước tiến rất nhanh. Từ chỗ chỉ có vài doanh nghiệp chuyên thực hiện việc sản xuất
chế biến hạt điều xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt khoảng vài triệu USD
ít ỏi ban đầu thì đến nay trên cả nước đã có đến hàng trăm doanh nghiệp với giá trị
kim ngạch xuất khẩu mang lại lên đến gần 500 triệu USD. Ngành hạt điều xuất khẩu
Việt Nam đã vươn lên đứng hàng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Ấn Độ) và
trong tương lai có thể sẽ thay thế Ấn Độ để đứng ở vị trí đầu tiên. Trong chiến lược
phát triển lâu dài, Bộ Thương mại xác định: Hạt điều xuất khẩu sẽ trở thành một
trong tám mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam trong thời gian sắp tới, do đó
Nhà nước đang ngày càng có sự quan tâm, hỗ trợ nhằm khuyến khích sự phát triển
của ngành hàng như: giảm thuế xuất nhập khẩu, đầu tư giống nguyên liệu cho năng
suất cao… Thương hiệu hạt điều Việt Nam đang từng bước khẳng định uy tín của
mình trên thương trường thế giới cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm xuất
khẩu.
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ nhân điều trên thế giới
đang ngày một gia tăng, đặc biệt là ở các nước phát triển - nơi mà người dân có thu
nhập bình quân cao do quan niệm về giá trị dinh dưỡng cao của hạt điều. Đó cũng
chính là một điều kiện hết sức thuận lợi để cho ngành sản xuất và chế biến hạt điều
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng phát triển mạnh mẽ trong thời gian sắp
tới. Những nước nhập khẩu điều chủ yếu của Việt Nam bao gồm: Mỹ chiếm 38%
tổng số điều xuất khẩu, tiếp theo là Trung Quốc chiếm 18%, New Zealand và Úc
mỗi nước chiếm 11%. Tuy nhiên, việc một số doanh nghiệp kinh doanh hạt điều
xuất khẩu Việt Nam làm ăn bội tín trong năm 2004 (do giá tăng đột ngột nên nhiều
doanh nghiệp trì hoãn việc giao hàng theo những hợp đồng đã ký trước đây) đã dẫn
đến hậu quả to lớn là khách hàng không tin tưởng khi hợp tác, do đó làm hạn chế
việc phát triển xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp trong những năm gần đây.


PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
2

Là một trong ba doanh nghiệp chế biến hạt điều xuất khẩu đứng đầu Việt
Nam (hai công ty còn lại là: Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An -
Lafooco, Công ty chế biến xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Đồng Nai -
Donafoods), Công ty xuất khẩu nông sản Ninh Thuận - Nitagrex đã đóng góp to lớn
trong tổng nguồn thu ngân sách của tỉnh nhà (chiếm hơn 80% trong tổng nguồn thu
ngân sách của địa phương trong năm 2004), giúp địa phương giải quyết một số
lượng lớn lao động nhàn rỗi (trên 7.000 lao động hàng năm) và hiện vẫn đang trên
đà tiếp tục phát triển.
Xác định xuất khẩu là hoạt động sản xuất kinh doanh chính của mình (hơn
90% sản phẩm sản xuất ra là để xuất khẩu) nên từ khi thành lập đến nay, Công ty đã
có những nỗ lực rất lớn trong việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây việc xuất khẩu sang thị trường các nước trên thế
giới của công ty gặp không ít khó khăn. Vì sự thiếu hụt về nguồn nguyên liệu, công
ty buộc phải thu mua nguyên liệu với giá cao trong khi đã ký kết hợp đồng với các
đối tác, làm tăng chi phí kinh doanh từ đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
xuất khẩu, thậm chí có trường hợp công ty phải chấp nhận thua lỗ để đảm bảo việc
thực hiện hợp đồng và giữ uy tín với khách hàng; công tác nghiên cứu thị trường,
các hoạt động marketing, xúc tiến thương mại vẫn chưa được công ty quan tâm;
nguồn vốn thiếu hụt (nguồn vốn kinh doanh chủ yếu hiện nay của công ty là nguồn
vốn vay từ các ngân hàng thương mại); sản phẩm xuất khẩu chủ yếu còn đơn điệu –
chủ yếu là nhân điều mới qua sơ chế là những nguyên nhân làm hạn chế khả năng
phát triển xuất khẩu của Công ty. Do đó, một vấn đề quan trọng cần đặt ra làm thế
nào để phát triển xuất khẩu hạt điều của công ty hơn nữa trong thời gian tới. Đây
cũng chính là lý do em chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm phát triển xuất
khẩu hạt điều của Công ty xuất khẩu nông sản Ninh Thuận (Nitagrex)”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu
hạt điều của Công ty sang các thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển xuất

khẩu, phân tích SWOT,… và trên cơ sở đó, em xin đề xuất những biện pháp nhằm
góp phần phát triển xuất khẩu hạt điều của công ty trong thời gian tới.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
3

Nội dung và kết cấu của đề tài này gồm 3 chương như sau:
§ Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu và phát triển xuất khẩu.
§ Chương II: Thực trạng xuất khẩu hạt điều của Công ty xuất khẩu nông sản
Ninh thuận (Nitagrex) trong thời gian qua.
§ Chương III: Một số biện pháp nhằm phát triển xuất khẩu hạt điều của công ty
xuất khẩu nông sản Ninh Thuận (Nitagrex).
Phương pháp nghiên cứu:
§ Phương pháp luận: Lý thuyết chung về hoạt động xuất khẩu và phát triển
xuất khẩu trong các doanh nghiệp xuất khẩu.
§ Số liệu: chủ yếu là số liệu thứ cấp.
§ Phương pháp nghiên cứu: là phương pháp so sánh giữa các năm để nhìn thấy
xu thế phát triển.
Do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý và xây dựng của
các thầy cô, các cô chú anh chị trong Công ty xuất khẩu nông sản Ninh Thuận
(Nitagrex) cũng như của các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.

Nha Trang, tháng 11 năm 2006
Sinh viên thực hiện



Châu Nguyễn Thanh Hiền







PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
4
































CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG
VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
VÀ PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
5

1.1. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh thu lợi bằng cách bán sản phẩm hoặc
dịch vụ ra nước ngoài và sản phẩm hoặc dịch vụ ấy phải di chuyển ra khỏi biên giới
của một quốc gia.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu
1.1.2.1. Hình thức xuất khẩu trực tiếp (Direct Exporting)
Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp phải tự lo bán trực tiếp các sản
phẩm của mình ra nước ngoài. Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những
doanh nghiệp có trình độ và quy mô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có
kinh nghiệm trên thương trường và nhãn hiệu hàng hoá truyền thống của doanh
nghiệp đã từng có mặt trên thị trường thế giới. Hình thức này thường đem lại lợi
nhuận cao nếu các doanh nghiệp nắm chắc được nhu cầu thị trường, thị hiếu của
khách hàng,… . Nhưng ngược lại, nếu các doanh nghiệp ít am hiểu hoặc không nắm
bắt kịp thời thông tin về thị trường thế giới và đối thủ cạnh tranh thì rủi ro trong

hình thức này không phải là ít.
1.1.2.2. Hình thức xuất khẩu gián tiếp (Indirect Exporting)
Hinh thức xuất khẩu gián tiếp không đòi hỏi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa
người mua nước ngoài và người sản xuất trong nước. Để bán được sản phẩm của
mình ra nước ngoài, người sản xuất phải nhờ vào người khác hoặc tổ chức trung
gian có chức năng xuất khẩu trực tiếp. Với thực chất đó, xuất khẩu gián tiếp thường
sử dụng đối với các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khẩu trực
tiếp, chưa quen biết thị trường, khách hàng và chưa thông thạo các nghiệp vụ kinh
doanh xuất nhập khẩu.




PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
6

1.1.3. Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế
1.1.3.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa đất nước
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp
hóa đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu
máy móc, thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
- Đầu tư nước ngoài;
- Vay nợ, viện trợ;
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ;
- Xuất khẩu sức lao động.
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ,… tuy quan trọng
nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn

quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu
quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Ở nước ta, thời kỳ 1986 – 1990 nguồn thu về xuất khẩu đảm bảo trên 55%
nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu; tương tự thời kỳ 1991 – 1995 và 1996 – 2000 là
75,3% và 84,5%.
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên. Nhưng mọi cơ hội đầu tư
và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và
người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả nợ – trở
thành hiện thực.
1.1.3.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
7

dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như
nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa
ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Sản xuất và
sự thay đổi kinh tế cũng sẽ rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu thị trường thế
giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.

Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển
ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu, dầu thực vật,… có thể sẽ kéo theo sự
phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó;
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản
xuất phát triển và ổn định;
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước;
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế – kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao
năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiên
quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam,
nhằm hiện đại hóa nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới;
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên
thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải
tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
8

1.1.3.3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết, sản
xuất hàng hóa xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu
nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú nhu cầu tiêu dùng của
nhân dân.
1.1.3.4. Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua
lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh
tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn,

xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư,
mở rộng vận tải quốc tế,… Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại trên lại
tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để
phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất nước.
1.1.3.5. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Ø Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm;
Ø Tạo môi trường cạnh tranh để doanh nghiệp luôn phấn đấu nâng cao năng
lực cạnh tranh của mình;
Ø Giúp doanh nghiệp nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài để
cải thiện sản phẩm sao cho phù hợp, đa dạng hóa các sản phẩm;
Ø Phân tán rủi ro trong kinh doanh do đa dạng hóa thị trường;
Ø Giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế –
xã hội;
Ø Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
9

1.1.4. Nội dung công tác xuất khẩu của một doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu
1.1.4.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
“Nhập gia tùy tục” là một nguyên tắc không thể thiếu khi tiếp cận bất cứ một
thị trường nào. Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét các vấn đề cốt yếu
của một nước nhập khẩu như: phong tục tập quán, văn hóa tiêu dùng, sở thích, niềm
tin và mức độ chi trả để đưa ra chiến lược sản phẩm phù hợp nhanh chóng với xu
hướng của người tiêu dùng. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu về môi trường
chính trị, kinh tế, luật pháp cũng như các thông lệ kinh doanh của nước nhập khẩu.
1.1.4.2. Tìm kiếm khách hàng – đối tượng giao dịch
Công việc tìm kiếm khách hàng, đối tượng giao dịch cũng là một thách thức
đối với mỗi doanh nghiệp và mất khá nhiều chi phí. Bởi vì kinh doanh hiện nay

đang diễn ra trong một nền kinh tế mở, thông tin quá nhiều buộc doanh nghiệp phải
tìm hiểu kỹ và lựa chọn hết sức cẩn thận. Việc tìm kiếm khách hàng có thể thông
qua các nguồn sau:
- Nhà cung cấp;
- Khách hàng đặt hàng của doanh nghiệp giới thiệu;
- Các tổ chức tham tán thương mại;
- Ngân hàng;
- Số liệu thống kê của ngành,…
1.1.4.3. Đánh giá khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp
Một khi doanh nghiệp đã có được khách hàng, đối tác kinh doanh thì trước
khi quyết định xuất khẩu, doanh nghiệp phải xét lại những vấn đề như:
- Yếu tố đầu vào: Liệu doanh nghiệp có khả năng mua nguyên vật liệu vật
tư để sản xuất không?
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp có đủ mạnh để đảm bảo chi trả cho
một thương vụ xuất khẩu hay không?
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
10

- Khả năng vận chuyển hay thuê vận chuyển của doanh nghiệp như thế
nào?
- Việc đáp ứng các yêu cầu, thủ tục cho xuất khẩu tốt hay không?
- Lực lượng lao động và năng suất lao động hiện tại có khả năng đáp ứng
đơn đặt hàng ở mức độ nào?
Đó là những vấn đề rất cơ bản mà doanh nghiệp cần cân nhắc trước khi quyết
định ký hợp đồng xuất khẩu và cũng là cơ sở cho doanh nghiệp làm tốt công tác
chuẩn bị tiếp theo.
1.1.4.4. Lập phương án giao dịch
- Lựa chọn mặt hàng để chào hàng.
- Lựa chọn khách hàng.
- Lựa chọn phương án giao dịch hiệu quả gồm các nội dung như:

Ø Mục tiêu;
Ø Biện pháp thực hiện để đạt mục tiêu;
Ø Dự báo hiệu quả xuất khẩu.
1.1.4.5. Tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
v Các bước đàm phán trong xuất khẩu:
- Chào sản phẩm;
- Chào giá;
- Thỏa thuận các vấn đề: thanh toán, giao nhận, vận chuyển;
- Thỏa thuận các vấn đề khác: điều kiện bất khả kháng, tranh chấp,…
v Nội dung hợp đồng xuất khẩu:
- Số hợp đồng;
- Ngày và nơi ký hợp đồng;
- Tên và địa chỉ các bên ký kết;
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
11

- Các điều kiện:
+ Tên hàng, quy cách, số lượng, bao bì, ký mã hiệu.
+ Giá cả, đơn giá, tổng giá.
- Thời hạn và địa điểm giao hàng – điều kiện giao hàng.
- Điều kiện thanh toán.
- Điều kiện khiếu nại, trọng tài.
- Điều kiện bất khả kháng.
- Chữ ký hai bên.
v Các phong cách đàm phán:
- Phong cách đàm phán cạnh tranh:
Các bên đều hướng về quyền lợi của mình, không nhân nhượng, đưa ra ý
kiến của mình và cố gắng bảo vệ, cố gắng theo đuổi mục đích bằng cái giá như phải
trả của phía đối phương một cách dứt khoát và không hợp tác.
- Phong cách đàm phán hợp tác:

Là sự tin tưởng dứt khoát trong đó các bên đàm phán cùng làm việc với nhau
để cố tìm ra giải pháp liên kết và thỏa mãn tất cả các bên có liên quan.
- Phong cách lẩn tránh:
Với phong cách này đối phương không dứt khoát, không hợp tác, không bày
tỏ rõ thái độ, không tỏ rõ mong muốn duy trì hay chấm dứt. Bên tham gia đàm phán
tìm cách lẩn tránh vấn đề, không tỏ rõ mục tiêu, ý định.
- Phong cách nhượng bộ thỏa hiệp:
Chấp nhận mọi yêu cầu của đối tác, sử dụng khi thấy vấn đề chưa chắc chắn,
tạm thời chấp nhận và suy nghĩ lại sau; hoặc khi thấy vấn đề của đối tác quan trọng
hơn so với chúng ta và cần phải xác định mức độ quan trọng đó ở chừng nào để đối
tác được vừa ý, thỏa mãn.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
12

Phương pháp: cần mềm dẻo, nhất quán về nguyên tắc, cần kết hợp các phong
cách.
v Phương thức đàm phán:
- Đàm phán bằng thư tín.
- Đàm phán bằng điện thoại.
- Đàm phán trực tiếp.
1.1.4.6. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
- Làm thủ tục xuất khẩu.
- Chuẩn bị đầu khâu thanh toán.
- Chuẩn bị hàng hóa, đóng gói bao bì, ký mã hiệu.
- Kiểm tra, kiểm dịch hàng hóa.
- Làm thủ tục hải quan.
- Thuê tàu.
- Mua bảo hiểm.
- Giao nhận hàng hóa.
- Khiếu nại (nếu có).

- Thanh lý hợp đồng.
1.2. Khái niệm, vai trò của thị trường xuất khẩu
1.2.1. Khái niệm thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu là nơi tập hợp người mua và người bán có quốc tịch
khác nhau tác động với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hóa mua bán, chất
lượng hàng hóa và các điều kiện mua bán khác theo hợp đồng, thanh toán chủ yếu
bằng ngoại tệ mạnh và phải làm thủ tục hải quan qua biên giới.
Thị trường xuất khẩu hàng hóa bao hàm cả thị trường xuất khẩu trực tiếp
(đến nước tiêu thụ cuối cùng) và thị trường gián tiếp (xuất khẩu qua trung gian).
Khách hàng không chỉ là những người mua hàng hóa để sử dụng mà còn là trung
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
13

gian chu chuyển hàng hóa. Đây là những trung gian có thể giúp cho các doanh
nghiệp không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp vào một nước thứ ba và là những
người tìm thấy khả năng thu được lợi nhuận với những thị trường mà người sản
xuất không thấy hoặc không tiếp cận.
1.2.2. Các yếu tố của thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu cũng gồm các yếu tố chung của thị trường, bao gồm
cung, cầu, giá cả và cạnh tranh. Tuy nhiên do đặc trưng của thị trường xuất khẩu với
các bên tham gia ở những quốc gia khác nhau nên có sự khác biệt về nhiều mặt, yếu
tố này ngoài đặc trưng chung còn có những nét riêng do nhiều tác động.
1.2.2.1. Yếu tố cầu
Cầu của thị trường xuất khẩu là tổng cầu của tất cả thị trường ngoài nước đối
với hàng hóa của doanh nghiệp, đó là nhu cầu có khả năng thanh toán. Tổng cầu sẽ
phản ánh quy mô của thị trường xuất khẩu và thường là rất lớn so với thị trường nội
địa. Cầu ở thị trường xuất khẩu cũng thay đổi dựa trên sự thay đổi của giá cả hàng
hóa, giá của hàng hóa có liên quan, thu nhập của người tiêu dùng, thị hiếu và các kỳ
vọng của họ, chu kỳ sống của sản phẩm,… Ngoài ra, cầu của thị trường xuất khẩu
còn phụ thuộc vào các yếu tố văn hóa như thói quen tiêu dùng, quan niệm sống,…

của các nước nhập khẩu.
1.2.2.2. Yếu tố cung
Tổng hợp các nguồn cung ứng sản phẩm cho khách hàng trên thế giới ở một
thời gian cụ thể tạo nên cung hàng hóa xuất khẩu. Đối với thị trường xuất khẩu,
cung hàng hóa chịu sự tác động của một số yếu tố cơ bản: công nghệ, giá các yếu tố
đầu vào, chính sách thuế, số lượng người sản xuất, các kỳ vọng của người sản
xuất,… Ngoài ra nó còn chịu phụ thuộc vào chính sách và công cụ quản lý của các
nước.
1.2.2.3. Yếu tố giá cả
Giá cả được hình thành thông qua sự cân bằng giữa cung và cầu ở thời điểm,
thời gian cụ thể. Trên thị trường xuất khẩu với sự cạnh tranh của nhiều nhà cung
cấp, giá cả có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên, giá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
14

có thể rất khác so với giá trị của hàng hóa. Giá cả hàng hóa có thể thay đổi khi các
nước áp dụng chính sách chính trị khác nhau, các rào cản thuế quan, hạn ngạch.
1.2.2.4. Yếu tố cạnh tranh
Đây là yếu tố tất yếu của thị trường. Khi có nhiều nhà cung ứng hàng hóa
tương tự nhau thì cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Đây có thể là cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp nội địa, các doanh nghiệp ở cùng nước xuất khẩu và các doanh nghiệp
của những nước xuất khẩu khác. Sản phẩm cạnh tranh có thể là cùng loại hoặc sản
phẩm thay thế.
Trước tình hình cạnh tranh ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp xuất khẩu
buộc phải luôn nâng cao năng lực của mình vì cạnh tranh làm tăng chất lượng sản
phẩm trong khi giá cả có xu hướng giảm xuống.
1.2.3. Vai trò của thị trường xuất khẩu
+ Thị trường xuất khẩu ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào sản xuất hàng hóa hay cung ứng dịch vụ nào
thì sản phẩm cũng cần có thị trường để tiêu thụ. Việc tiêu thụ hàng hóa sẽ đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có được thị trường xuất
khẩu, duy trì và phát triển thị trường này thì nó sẽ giúp doanh nghiệp tiêu thụ lượng
lớn hàng hóa, mang lại doanh thu, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Trong điều
kiện hiện nay, thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp luôn có nguy cơ bị thu
hẹp bởi sự xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh đến từ các nước khác nhau, do đó,
việc duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu là một việc làm tất yếu của bất kỳ một
doanh nghiệp xuất khẩu nào.
+ Thị trường xuất khẩu điều tiết, hướng dẫn việc sản xuất kinh doanh các
mặt hàng xuất khẩu.
Để đạt được mục tiêu của mình thì các doanh nghiệp phải giải quyết được
vấn đề là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm của mình có thể
tiêu thụ đươc. Vì vậy việc quyết định cung ứng sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu,
giá cả thế nào, cho ai là do nhu cầu của thị trường quyết định. Doanh nghiệp quan
sát mọi biến động của thị trường và từ những thông tin thực tế đó mà đưa ra những
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
15

chính sách phù hợp. Chính khách hàng thông qua thị trường sẽ định hướng cho
doanh nghiệp trong công tác hoạch định chính sách hoạt động của mình.
+ Thị trường phản chiếu tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua các thông số của thị trường như khối lượng hàng hóa lưu thông,
giá trị, giá cả các mặt hàng, thị phần,… có thể cho ta thấy được tình hình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp.
Mức độ thâm nhập thị trường, việc phát triển thị trường về mọi mặt như sản
phẩm, khách hàng hay phạm vi địa lý,… cho thấy được quy mô sản xuất, tốc độ
phát triển và từ đó cho phép đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là tốt hay xấu. Bên cạnh đó, thông qua các thông số của thị trường giúp
doanh nghiệp dự báo được những thuận lợi, khó khăn, xu hướng phát triển của
doanh nghiệp mình.
+ Thị trường là nơi kiểm nghiệm, đánh giá các kế hoạch, quyết định của

doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp hoạt động có thể theo đuổi nhiều mục tiêu nhưng để đạt
được mục tiêu thì phải qua việc bán sản phẩm. Thị trường của doanh nghiệp như thế
nào là kết quả của cả một kế hoạch và quá trình thực hiện kế hoạch từng bước từ
ban đầu tới khâu cuối cùng, và qua đó sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá lại những mặt
đã đạt được và chưa đạt, từ đó đề ra biện pháp điều chỉnh sao cho hiệu quả được
nâng cao hơn.
1.3. Phân loại thị trường xuất khẩu và phân khúc thị trường xuất khẩu
1.3.1. Phân loại thị trường xuất khẩu
1.3.1.1. Căn cứ vào vị trí địa lý
Chia thành các loại thị trường sau:
o Thị trường châu lục;
o Thị trường khu vực;
o Thị trường nước và vùng lãnh thổ.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
16

Việc phân chia thị trường theo vị trí địa lý rất quan trọng, dựa vào điều kiện
tương đồng với nhau về trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, nhu cầu, thị hiếu của
người tiêu dùng và chính sách thương mại chung.
1.3.1.2. Căn cứ vào lịch sử quan hệ
Chia thành:
o Thị trường truyền thống;
o Thị trường mới;
o Thị trường tiềm năng.
1.3.1.3. Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu
Gồm có:
o Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch.
o Thị trường xuất khẩu không có hạn ngạch.
Hạn ngạch là quy định của chính phủ về số lượng và chất lượng hàng hóa

xuất nhập khẩu, được chính phủ phê duyệt hàng năm với mục đích là bảo đảm
những cân đối của nền kinh tế nước đó và bảo hộ sản xuất trong nước.
1.3.1.4. Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường
o Thị trường độc quyền bán/mua;
o Thị trường cạnh tranh hoàn hảo;
o Thị trường độc quyền nhóm.
1.3.1.5. Căn cứ vào phương thức xuất khẩu
o Thị trường xuất khẩu trực tiếp;
o Thị trường xuất khẩu gián tiếp.
1.3.1.6. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất hàng xuất khẩu
o Thị trường hàng hóa gia công;
o Thị trường xuất khẩu sản phẩm sản xuất.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
17

1.3.1.7. Căn cứ vào tỉ trọng hàng hóa xuất khẩu
o Thị trường xuất khẩu chính (tập trung vào những nhà kinh doanh lớn,
người mua);
o Thị trường xuất khẩu phụ.
1.3.2. Phân khúc thị trường xuất khẩu
Khi quyết định tham gia vào hoạt động, doanh nghiệp phải xác định được
khúc thị trường cụ thể, đó là xác định nhu cầu của khách hàng mà mình có khả năng
cung ứng, vì vậy hướng vào thị trường là hướng vào khách hàng chính, đó là mục
tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Trong một thị trường mặc dù nhu cầu có thể là đồng nhất song khách hàng
có thể không đồng nhất, bởi sự khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, tập quán,
thói quen, sở thích,… sự không đồng nhất đó ảnh hưởng đến sức mua và khả năng
tiêu thụ hàng trên thị trường.
Do đó, các doanh nghiệp phải tiến hành phân chia thị trường theo yêu cầu
của từng nhóm hàng cụ thể, đó là “phân khúc thị trường”.

1.3.3. Các phương pháp phân khúc thị trường xuất khẩu
1.3.3.1. Phân khúc thị trường theo khu vực và theo đơn vị hành chính
Phương pháp này phân khúc thị trường thành: vùng, miền, tỉnh, thành phố,
quốc gia và những khu vực này được đánh giá theo tiềm năng phát triển của chúng
bằng cách khảo sát các vấn đề về kinh tế, xã hội; từ đó doanh nghiệp sẽ có những
cách tiếp cận khách hàng tiềm năng của mình.
Tuy nhiên khách hàng ở đây vẫn có sự khác biệt về thu nhập, tuổi tác, các
vấn đề về nhân khẩu học, do đó phương pháp này nên sử dụng cùng các phương
pháp khác để có hiệu quả hơn.
1.3.3.2. Phân khúc thị trường theo kinh tế xã hội và nhãn hiệu học
Phương pháp này căn cứ vào các yếu tố về tuổi tác, giới tính, tỉ lệ sinh nở,
việc làm, thu nhập,… giúp doanh nghiệp dự đoán được sức mua của từng nhóm
khách hàng.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
18

1.3.3.3. Phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm sinh lý
Phương pháp này chú trọng vào các đặc điểm tâm sinh lý, đặc tính đặc thù
của khách hàng, từ đó biết được mối quan tâm và hành động của họ và có chiến
lược thích hợp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.3.4. Phân khúc thị trường theo lợi ích
Phương pháp này dựa vào việc xác định các lợi ích được khách hàng mong
đợi mà sản phẩm mang lại cho từng nhóm khách hàng.
1.4. Cách thức để phát triển xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu
1.4.1. Sự cần thiết phải phát triển xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu
Đối với một doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường xuất khẩu đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thị
trường xuất khẩu thường có nhiều nhà sản xuất cung ứng các loại sản phẩm để thỏa
mãn nhu cầu nào đó của khách hàng quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu của doanh

nghiệp thường chỉ chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường và thị phần này có xu
hướng thay đổi theo thời gian dưới sự tác động qua lại của nhiều yếu tố. Thị phần
của doanh nghiệp thay đổi như thế nào là phụ thuộc vào khả năng thích ứng của
doanh nghiệp đó trước thị trường. Theo đó, việc phát triển xuất khẩu của doanh
nghiệp cũng theo đó sẽ khá khó khăn do sự biến động của thị trường và do sự cạnh
tranh quyết liệt không chỉ của những doanh nghiệp xuất khẩu nội địa mà còn của tất
cả các doanh nghiệp từ các nước khác.
Đối với một doanh nghiệp xuất khẩu, phát triển xuất khẩu không chỉ bó hẹp
trong việc duy trì và phát triển xuất khẩu trên thị trường hiện tại mà còn mở rộng
phạm vi xuất khẩu sang thị trường các nước khác trên thế giới. Thị trường xuất
khẩu hiện tại là thị trường chính của doanh nghiệp xuất khẩu, là nơi mà sản phẩm
của doanh nghiệp đã và đang đáp ứng được nhu cầu của khách hang, sản lượng tiêu
thụ phải đảm bảo ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, trong thực tế, nếu doanh nghiệp xuất khẩu chỉ hài lòng với những gì mình đã
đạt được trên thị trường hiện tại mà không có sự nỗ lực, cố gắng khuếch trương uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường đó, đồng thời vươn ra các thị trường mới thì
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
19

trong tương lai chắc chắn doanh nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn. Đó là do mỗi sản
phẩm khi tung ra thị trường đều có một chu kỳ tồn tại nhất định: thâm nhập, phát
triển, bão hòa và suy thoái, sau một thời gian tung ra thị trường, chắc chắn sản
phẩm đó sẽ không còn sức hấp dẫn như lúc ban đầu, đồng thời do sự cạnh tranh gay
gắt của các đối thủ đến từ nhiều nước khác nhau nên phần lợi nhuận mà doanh
nghiệp đạt được trên thị trường đó sẽ giảm. Nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục duy trì
vị thế của mình cũng như ngày càng gia tăng phần lợi nhuận thu được thì chắc chắn,
doanh nghiệp phải đề ra những chính sách đúng đắn để tăng sức cạnh tranh trên thị
trường cũ đồng thời thâm nhập vào các thị trường tiềm năng mới.
Duy trì và phát triển xuất khẩu trên thị trường hiện tại, đồng thời mở rộng
phạm vi kinh doanh xuất khẩu sang thị trường mới của các doanh nghiệp xuất khẩu

sẽ giúp họ xác định được đầy đủ hơn các yêu cầu về mọi mặt của khách hàng trong
quá trình sản xuất và xuất khẩu, giúp hoạch định được các chiến lược phát triển tốt,
tránh được những nguy cơ, rào cản của nhập khẩu do các nước nhập khẩu có thể
mang lại bằng việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt
các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng do nước nhập khẩu quy định, giữ vững và phát
triển thị phần trên thị trường hiện tại, mở rộng và phát triển xuất khẩu sang các thị
trường tiềm năng khác.
1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển xuất khẩu của doanh nghiệp
xuất khẩu
1.4.2.1. Các yếu tố thuộc về môi trường quốc tế
- Quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại giữa các nước;
- Vị trí địa lý;
- Khả năng tiêu thụ trên thị trường;
- Khả năng tăng tiêu thụ;
- Khả năng tăng thu nhập của người tiêu dùng;
- Giá nhập khẩu;
- Các biện pháp bảo hộ mậu dịch trên thị trường;
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
20

- Hệ thống phân phối trên thị trường;
- Những đặc điểm văn hóa xã hội của thị trường;
- Đối thủ cạnh tranh.
1.4.2.2. Các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp
- Năng lực sản xuất;
- Năng lực quản lý;
- Trình độ công nghệ;
- Trình độ và lực lượng lao động;
- Năng lực tài chính;
- Kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển của công ty.

1.4.2.3. Các yếu tố thuộc môi trường quốc gia
- Chính sách quan hệ với nước nhập khẩu;
- Chính sách phát triển của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động;
- Sự phát triển của các ngành hỗ trợ;
- Giá cả các yếu tố đầu vào.
1.4.3. Các cách thức để phát triển xuất khẩu
Thị trường hiện tại là một thị trường lớn, hứa hẹn nhiều tiềm năng và đem
lại cho doanh nghiệp một nguồn thu lớn nhất, do đó cũng là thị trường chính mà
doanh nghiệp cần phải luôn quan tâm. Đây là loại thị trường mà doanh nghiệp đã có
sự nghiên cứu và thiết lập được các mối quan hệ quen biết nhất định. Tuy nhiên, để
công tác phát triển xuất khẩu của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại được thực
hiện tốt hơn nữa thì doanh nghiệp cần phải thực hiện các hoạt động sau:
1.4.3.1. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu trên thị trường hiện tại, từ đó rút ra
những mặt đã đạt được và những hạn chế
- Doanh nghiệp phải xác định được các bộ phận hợp thành của thị trường tiêu
thụ hiện tại.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
21

Để xác định được các bộ phận hợp thành của một thị trường tiêu thụ thì
doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường. Mục đích của việc nghiên cứu thị trường
là xác định khả năng tiêu thụ hay bán một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm nào
đó của doanh nghiệp. Đối với thị trường hiện tại, doanh nghiệp phải tìm cách duy trì
thị phần mà mình chiếm giữ bằng cách tăng cường tiếp thị, đổi mới mẫu mã, sản
phẩm, nâng cao chất lượng.
- Xác định quy mô, cơ cấu và sự vận động của thị trường.
Ø Các chỉ tiêu đánh giá quy mô thị trường gồm có:
+ Số lượng người tiêu thụ, người sử dụng, người sở hữu.
+ Khối lượng hiện vật của khách hàng tiêu thụ.
+ Doanh số bán thực tế.

+ Phần hay tỉ lệ thị trường mà doanh nghiệp đã và đang cung ứng và thỏa mãn.
Ø Xác định cơ cấu thị trường: Công việc này cho phép doanh nghiệp hiểu rõ
các bộ phận cấu thành chủ yếu của thị trường, và thường được thể hiện ở các
phương diện:
+ Cơ cấu địa lý: thị trường sẽ bao gồm thị trường ở các vùng, các miền khác
nhau và việc mua bán sản phẩm của doanh nghiệp ở từng vùng, miền theo một tỉ lệ
phải được xác định.
+ Cơ cấu hàng hóa sản xuất: xác định được thị trường mua sản phẩm của doanh
nghiệp theo mục đích sử dụng khác nhau.
Ø Sự vận động của thị trường: Thị trường xuất khẩu luôn bị biến động nên
việc nghiên cứu thị trường để chuẩn bị xác lập các chính sách kinh doanh là rất cần
thiết.
- Xác định được các nhân tố xác đáng của môi trường.
a. Môi trường dân cư:
Dân số và cơ cấu dân số theo tuổi, nghề nghiệp, theo vùng. Doanh nghiệp
phải hiểu rõ xu hướng của những đặc điểm khác nhau.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
22

b. Môi trường kinh tế:
Tỉ lệ sản xuất trong nước và nhập khẩu, tỉ lệ sản phẩm được sản xuất ở các
khu vực khác nhau, xu hướng thay đổi của tỉ lệ đó.
Thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu chi tiêu của dân cư (lương thực, thực
phẩm, quần áo,…).
c. Môi trường văn hóa xã hội:
Tỷ lệ dân cư theo trình độ văn hóa.
Tôn giáo, phong tục tập quán của dân cư.
Lối sống, nguyên tắc và giá trị xã hội.
d. Môi trường pháp luật:
Doanh nghiệp phải nắm vững các nguyên tắc chủ yếu, các quy định do các

nước đề ra có tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và phải tuân thủ
những nguyên tắc đó.
e. Môi trường công nghệ:
Trình độ phát triển kỹ thuật và công nghệ của nước sở tại, doanh nghiệp
phải nắm bắt và thích ứng với trình độ đó.
- Xác định chương trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp:
Để xác định một chương trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cần dựa
vào các căn cứ sau:
+ Nhu cầu thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp: sản phẩm, chất lượng, cơ
cấu giá cả, thời gian đáp ứng,… trong hiện tại và tương lai.
+ Phương án kinh doanh mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
+ Chiến lược và chính sách kinh doanh, nguyên tắc chi phối chương trình tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
+ Các chuẩn mực chất lượng hàng hóa, các chính sách điều tiết vĩ mô của nhà
nước.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
23

1.4.3.2. Xây dựng các chính sách duy trì và phát triển xuất khẩu trên thị
trường hiện tại
Quy trình duy trì và xuất khẩu sang thị trường hiện tại:
Ø Bước 1: Tập hợp các thông tin cần thiết làm cơ sở cho công tác nghiên
cứu thị trường để tìm hiểu quy luật vận động và những nhân tố ảnh hưởng ở một
thời điểm hoặc một thời gian nhất định, từ đó xử lý các thông tin và hình thành
những quy định đúng đắn cho việc xác định chiến lược kinh doanh.
Ø Bước 2: Xây dựng và lựa chọn phương án thị trường – sản phẩm.
Đối với hoạt động duy trì và phát triển thị trường hiện tại thì có các phương
án như sau:
a. Chiến lược phát triển sản phẩm:
Chiến lược phát triển sản phẩm là chiến lược phát triển các loại sản phẩm

mới để tiêu thụ trên thị trường hiện tại. Để thực hiện chiến lược này có các phương
án:
- Phát triển một sản phẩm riêng biệt.
- Phát triển cơ cấu sản phẩm: Kéo giãn cơ cấu mặt hàng, lấp kín cơ cấu mặt
hàng, hiện đại hóa cơ cấu mặt hàng.
b. Chiến lược củng cố thị trường:
Đây là chiến lược tìm kiếm cách tăng trưởng doanh số của các sản phẩm hiện
đang sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên thị trường hiện đang tiêu thụ. Chiến lược
này thường được thực hiện thông qua các nỗ lực mạnh mẽ của chức năng
Marketing. Có hai phương án thực hiện chiến lược này:
- Doanh nghiệp có thể tăng thị phần bằng cách: Tăng sức mua sản phẩm, lôi
kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh, mua lại cơ sở của đối thủ cạnh tranh.
- Doanh nghiệp cố gắng tăng quy mô tổng thể thị trường bằng cách: Làm cho
những người tiêu dùng từ trước đến nay không sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp
ở thị trường mục tiêu hiện tại bắt đầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
24

1.5. Tổng quan về tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam thời gian qua
1.5.1. Vai trò của xuất khẩu hạt điều đối với nền kinh tế nước ta
Những năm đầu thế kỷ này, nhất là năm 2005, sản xuất và chế biến điều
nước ta đã thể hiện rõ nét sự phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững. Kim ngạch
xuất khẩu điều đứng thứ tư (sau gạo, cà phê, cao su) và đứng thứ hai về thị phần
trên thế giới (sau Ấn Độ). Cây điều trở thành cây làm giàu cho hàng triệu nông dân
ở một số địa phương.
Kết thúc năm 2005, các cơ sở sản xuất điều đã có bước tăng tốc vượt trội,
đem lại những thành tựu cao nhất từ trước đến nay, tạo ấn tượng tốt đẹp trong dư
luận xã hội. Tổng diện tích điều đã tăng lên 450.000 ha (trong đó khoảng 1/3 là diện
tích điều cao sản), tăng 1,8 lần; năng suất bình quân đạt gần bằng năm 2004, khoảng
1,1 tấn/ha, tăng 61,3%; tổng sản lượng điều thô hơn 400.000 tấn, tăng ba lần và kim

ngạch xuất khẩu đạt gần nửa tỷ USD, tăng năm lần so với năm 1999. Tổng sản
lượng điều nhân hai năm 2004 và 2005 giữ mức ổn định khoảng 104-105 nghìn tấn;
tổng kim ngạch điều xuất khẩu vượt khoảng 100% so mục tiêu đến năm 2005 và
vượt 11% so mục tiêu đến năm 2010. Về năng lực chế biến, tính đến nay, các cơ sở
nhà máy chế biến nhân điều trong cả nước có khả năng chế biến khoảng 400.000 –
450.000 tấn điều thô/năm.
Sản phẩm điều nước ta không chỉ có mặt ở những thị trường truyền thống dễ
tính như Trung Quốc mà còn vươn tới thị trường các nước phát triển như Mỹ, Đông
– Tây Âu, Nga, Nhật Bản và khu vực ASEAN. Sản xuất kinh doanh điều trở thành
nghề mới, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động nông thôn các tỉnh
ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Cây điều từ vị thế là cây xóa
đói, giảm nghèo, vươn lên thành cây làm giàu, nhất là đối với những vùng điều cao
sản tập trung với diện tích lớn.


PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
25

Bảng 1.1: Khối lượng các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam
Năm Gạo (1000 tấn) Cà phê (tấn) Tiêu (tấn) Điều (1000 tấn)

1989 1.420 57.417 7.551 5,8
1990 1.624 89.583 8.995 24,7
1991 1.033 93.471 16.252 30,6
1992 1.946 116.175 22.347 51,7
1993 1.722 122.660 14.872 47,7
1994 1.983 176.385 15.985 81,3
1995 1.988 248.087 17.950 98,8
1996 3.003 283.000 25.300 23,0
1997 3.575 392.000 24.700 33,3

1998 3.730 382.000 15.100 25,7
1999 4.508,3 482.000 34.800 18,4
2000 3.476,7 733.000 37.000 34,2
2001 3.271 931.000 57.000 43,6
2002 3.236 722.000 78.400 62,0
2003 3.815 749.000 74.100 84,0
2004 4.055 906.000 110.000 103,0
Nguồn:
Ø Viện nghiên cứu thương mại (1999): Hồ sơ các mặt hàng chủ yếu của Việt
Nam (nhóm hàng nông sản), Hà Nội.
Ø Đặc san Thời báo Kinh tế Việt Nam: “Kinh tế 2004-2005 Việt Nam và thế
giới”.


PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com

×