1 Tiền gửi TCKT
2 Tiền gửi tiết kiệm, KP
3 Tiền gửi TK bậc thang
IV TG có kỳ hạn 24 tháng trở lên
1 Tiền gửi TCKT
2 Tiền gửi tiết kiệm,kỳ phiếu
3 Tiền gửi tiết kiệm bậc thang
V TG TCTD
Tiền gửi ≤ 3 tháng
Tiền gửi ≤ 6 tháng
Tiền gửi ≤ 9 tháng
Tiền gửi < 12 tháng
Tiền gửi từ 12 T trở lên
VI TG tiền vay khác
VII Bình quân nguồn huy động/1 cán bộ
VIII Tổng nguồn vốn huy động
Nguồn “Báo cáo tài chính các năm 2002, 2003 của NHNo&PTNT Ba Đình“.
Tổng nguồn năm 2003 tăng 11.013 triệu đồng so với năm 2002. Trong đó, tăng chủ
yếu là loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng, loại này chiếm 42,46%
trên tổng nguồn, sau đó là loại tiền gửi của các tổ chức tín dụng chiếm 25,6% trên
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
tổng nguồn. So với năm 2002, tiền gửi không kỳ hạn tăng 3.637 triệu đồng, loại này
chiếm 4,48% trên tổng nguồn. Giảm mạnh là loại tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng,
giảm 86.561 triệu đồng so với năm 2002, chiếm 23,54% trên tổng nguồn.
Nguyên nhân của sự biến động cơ cấu nguồn tiền huy động như trên là do
trong năm 2003 NHNo&PTNT Ba Đình đãcho ra một loạt các sản phẩm mới như:
tiền gửi tiết kiệm có khuyến mại bảo hiểm, tiền gửi tiết kiệm trả lãi quý, tiền gửi tiết
kiệm bậc thang,…Trong đó, loại tiền gửi tiết kiệm bậc thang là mang lại hiệu quả rõ
nét nhất. Vì nó vừa có lợi cho khách hàng lại vừa có lợi cho ngân hàng nên
NHNo&PTNT Ba Đình chú trọng đến việc hướng dẫn cho khách hàng gửi loại tiết
kiệm trên (năm 2002 chưa có). Đến năm 2004 số dư tiền gửi tiết kiệm bậc thang là
14.212 triệu đồng còn loại tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu (trả lãi trước) 3 tháng, 6
tháng tăng 66.564 triệu đồng.
Biểu trên còn cho thấy nguồn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ lệ còn quá
khiêm tốn, chỉ chiếm 4,48% trên tổng nguồn với lãi suất thấp, chưa đạt được so với
kế hoạch đặt ra. Qua số liệu vài năm trở lại đây ta thấy điều vừa nêu là khó khăn
truyền thống của NHNo&PTNT Ba Đình. Trong 2 năm qua đã tiếp thị được công ty
Điện lực Thanh Xuân nhưng họ chỉ cho thu tiền mặt còn thanh toán chuyển khoản
chưa về được. Còn đối với nguồn trên 12 tháng chiếm tỷ trọng cao trên tổng nguồn
mang lại sự ổn định tương đối cho nguồn nhưng lại phải trả với lãi suất cao. Đó
cũng là điều chưa hợp lý trong kết cấu nguồn tại NHNo&PTNT Ba Đình .
1.4.2. Công tác sử dụng vốn.
Tổng dư nợ đến 30/11/03 là 85.267 triệu đồng, thực hiện đến 31/12/03 đạt 88.884
triệu đồng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
* Phân tích theo thời hạn cho vay:
- Dư nợ ngắn hạn đến 30/11/03 là 69.466 triệu đồng chiếm 81,4% trên tổng dư nợ,
đến 31/12/03 dư nợ ngắn hạn đạt 72.397 tăng 9.368 triệu đồng đồng so với cùng kỳ
năm trước.
- Dư nợ trung dài hạn đến 30/11/03 là 15.801 triệu đồng chiếm 18,6% trên tổng dư
nợ, đến 31/12/03 dư nợ trung dài hạn đạt 16.487 tỷ đồng tăng 4.265 triệu đồng so
với cùng kỳ năm trước.
* Phân tích theo thành phần kinh tế:
- Dư nợ DNNN: 38.720 triệu đồng chiếm 43,56% trên tổng dư nợ.
+ Ngắn hạn: 36.160 triệu đồng.
+ Trung hạn: 2.560 triệu đồng.
- Dư nợ DNNQD: 26.966 triệu đồng chiếm 30,34% trên tổng dư nợ.
+ Ngắn hạn: 20.562 triệu đồng.
+ Trung hạn: 6.404 triệu đồng.
- Dư nợ HTX, hộ gia đình , cá thể, cầm cố tiêu dùng: 23.198 triệu đồng chiếm 26%
trên tổng dư nợ.
*Phân tích theo ngành kinh tế.
Dư nợ của ngành SXKD thương nghiệp dịch vụ: 73.897 triệu đồng chiếm 83,14%
trên tổng dư nợ. Dư nợ cho vay đời sống trên 4.711 triệu đồng chiếm 5,3% trên tổng
dư nợ. Dư nợ cho vay khác: 10.276 triệu đồng chiếm 11,56% trên tổng dư nợ.
* Nợ quá hạn (Thống kê theo mẫu số 3/KHTH)
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Nợ quá hạn đến 30/11/03 là 6.400 triệu đồng chiếm 7,2% trên tổng dư nợ, giảm
51,6 triệu đồng so với năm trước.
Toàn bộ số nợ quá hạn trên đều là dư nợ cho vay đời sống, không phải nợ khó đòi
chi nhánh sẽ thu hồi trong thời gian tới.
Trong năm 2003 tổng dư nợ cho vay tăng 13.633 triệu đồng so với năm 2002.
Trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 9.368 triệu đồng, dư nợ trung dài hạn tăng 4.265
triệu đồng. Năm 2003 NHNo&PTNT Ba Đình đã cố gắng phấn đấu đến cuối năm
không để dư nợ quá hạn (kế hoạch năm 2002 đã nêu) và đã thực hiện được mục tiêu
đề ra.
Dư nợ bình quân 1 cán bộ là 3.173 triệu đồng.
Ngân hàng đã đôn đốc khách hàng trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,8%, dài hạn là 0,86% nếu NHNo&PTNT Ba
Đình cố gắng đẩy mạnh dư nợ lên nữa thì sẽ tăng thêm quỹ thu nhập cho ngân hàng.
Bảng cơ cấu dư nợ các năm 2002, 2003
Biểu 2A Đơn vị: triệu đồng.
I Dư nợ cho vay thông thường
A Dư nợ cho vay thông thường
1 Dư nợ trong hạn
1.1 Ngắn hạn
1.2 Trung dài hạn
2 Dư nợ quá hạn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
2.1 Nợ quá hạn do gốc
2.2 Nợ quá hạn do lãi
2.3 Nợ khó đòi
C Dư nợ bình quân /1 cán bộ
Tổng cộng
II Nợ khoanh
III Nợ chờ xử lý
IV Nợ đã xử lý rủi ro
V Tổng số nợ đã xử lý rủi ro còn đang theo dõi ngoại bảng
Nguồn “Báo cáo tài chính các năm 2002, 2003 của NHNo&PTNT Ba Đình“.
Lãi suất đầu ra theo cơ cấu dư nợ = (Số tiền * ls từng loại)/ Tổng dư nợ
Lãi suất tính theo tháng ghi trên hợp đồng. Nếu nhiều mức thì tính bình quân cho
mỗi loại dư nợ.
Bảng tổng kết tài sản các năm 2001, 2002, 2003
Đơn vị: triệu đồng. Biểu 2B
Các chỉ tiêu 2001 2002 2003
1. TM và tiền gửi tại NHNN
2. Cho vay trong nước
- Cho vay đối với TCTD
- Cho vay đối với các TCKT, cá nhân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
+ Cho vay thông thường
- Trong hạn
- Quá hạn
+ Chiết khấu, cầm cố TP, giấy tờ có giá
+ Tín dụng khác
3.Tiền lãi CD dự thu
4. Tài sản có khác
Tổng tài sản
Nguồn “Báo cáo tài chính các năm 2001,2002, 2003 của NHNo&PTNT Ba Đình”.
2. Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba Đình.
2.1. Tình hình tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt nói chung tại NHNo&PTNT
Ba Đình.
NHNo&PTNT Ba Đình hoạt động tại địa bàn tập trung đông dân cư và có nhiều các
tổ chức kinh tế. Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt qua NHNo&PTNT Ba
Đình đối với các chủ thể kinh tế như sau:
* Đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác:
Việc mở tài khoản là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế có đăng ký
kinh doanh. Trong tổng số dư của các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại
NHNo&PTNT Ba Đình thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế là chủ yếu chiếm trên
90%. Hiện nay nhu cầu gửi tiền vào tài khoản và thực hiện thanh toán qua
NHNo&PTNT Ba Đình của các tổ chức kinh tế trên địa bàn chưa cao, trong đó có
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
việc thanh toán không dùng tiền mặt, đây là vấn đề chung của tất cả các NHTM chứ
không chỉ riêng NHNo&PTNT Ba Đình, chủ yếu do hạn chế của hệ thống ngân
hàng đặc biệt là hệ thống thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Có
rất nhiều giao dịch thanh toán giữa các doanh nghiệp không thông qua ngân hàng.
Nhu cầu mở và sử dụng tài khoản trước hết phụ thuộc vào việc ngân hàng có
cung cấp được cho khách hàng các hình thức thanh toán và dịch vụ thanh toán thuận
lợi, nhanh chóng, an toàn và kinh tế hay không. Đây là yếu tố cơ bản, lâu dài đối
với hệ thống NHTM nói chung và NHNo&PTNT Ba Đình nói riêng trong việc thu
hút các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán qua ngân
hàng. Đặc biệt đối với tình hình thực tế ở nước ta, việc mở và sử dụng tài khoản đối
với đại bộ phận người dân còn xa lạ, ngại và chưa quen với giao dịch qua ngân
hàng. Nếu việc sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt buộc khách
hàng phải đi lại nhiều lần hoặc phải hoàn tất các thủ tục nặng nề, phức tạp, rườm rà.
Thì khách hàng sẽ không tự nguyện thực hiện các dịch vụ đó.
* Đối với dân cư.
Tại địa bàn quận Ba Đình và rộng hơn là Thủ đô Hà Nội vốn bằng tiền có ở
dân cư là rất lớn. Tuy nhiên, việc mở tài khoản và sử dụng tài khoản với đối tượng
khách hàng là dân cư ở đây không cao, tiền gửi không kỳ hạn của dân cư mới chỉ
chiếm 10% trong tổng số dư của các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại
NHNo&PTNT Ba Đình.
NHNo&PTNT Ba Đình chỉ thực hiện thanh toán trong phạm vi nội địa và
thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện gián tiếp thông qua NHNo&PTNT
Hà Nội.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Phí thanh toán chuyển khoản mà NHNo&PTNT Ba Đình đang áp dụng như sau:
+ 0,1% đối với khách hàng vãng lai(không mở tài khoản tại NHNo&PTNT Ba
Đình) tính trên số tiền thực tế thanh toán qua ngân hàng.
+ Với khách hàng mở tài khoản tại NHNo&PTNT Ba Đình: 3000đ/món nếu thanh
toán trong nội tỉnh; 0,06% nếu thanh toán ngoại tỉnh.
Số cán bộ phụ trách công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba
Đình là 1 người.
Hình thức thanh toán UNT chỉ áp dụng hạn chế trong việc thu tiền điện, tiền
nước,tiền điện thoại,
Mới sử dụng hình thức thanh toán thẻ ngân hàng.
Thu nhập từ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tăng theo năm nhưng rất
nhỏ so với tổng thu nhập của ngân hàng.Năm 2001, thu nhập từ dịch vụ thanh toán
là 44.635.822đ, trong khi tổng thu nhập của Ngân hàng là 4.383.825.348đ,
chiếm1% tổng thu nhập. Năm 2002, thu nhập từ dịch vụ thanh toán là
128.562.878đ, còn tổng thu nhập của Ngân hàng là 7.321.401.458đ, chiếm1,75%
tổng thu nhập, đứng áp chót chỉ hơn thu nhập từ kinh doanh ngoại hối. Đến năm
2003, thu nhập từ dịch vụ thanh toán là 200.504.536đ, tổng thu nhập của Ngân hàng
là 8.787.943.669đ, chiếm2,28%% tổng thu nhập.
Doanh số thanh toán qua Ngân hàng trong những năm gần đây biến động lên
xuống, có năm cao có năm thấp, nhưng khách hàng đang ngày càng để tiền lại trong
ngân hàng nhiều hơn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Hiện nay, thanh toán không dùng tiền mặt ở NHNo&PTNT Ba Đình mới được áp
dụng trong nước, còn với quốc tế thì chưa được áp dụng.
Số máy ATM của ngân hàng là 1 chiếc, đặt tại trụ sở chính, chỉ thực sự hoạt động
từ 7h sáng tới 7h tối.
Chủ yếu thực hiện thanh toán bù trừ qua NHNN Việt Nam và thanh toán nội bộ hệ
thống NHNo&PTNT Việt Nam.
Các hình thức thanh toán được sử dụng chủ yếu là séc và UNC.
Tóm lại:
NHNo&PTNT Ba Đình đã ý thức được rằng mọi khách hàng khi thực hiện thanh
toán qua ngân hàng đều mong muốn ngân hàng phục vụ mình nhanh chóng, chính
xác, bảo đảm an toàn với chi phí thấp nhất. Do đó, ngân hàng luôn quan tâm đến
công tác này và đã đạt được những kết quả nhất định dù ngân hàng còn có nhiều
hạn chế.
2.2 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba Đình.
Bảng phân tích các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba
Đình năm 2002.
Đơn vị : triệu đồng
I Séc 356 78.065 23,39
1 + Séc chuyển khoản 302 68.000 20,37
2 + Séc bảo chi 54 10.065 3.02
II ủy nhiệm chi 531 165.000 49,43
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
III ủy nhiệm thu 54 39.693,76 11,89
IV Thư tín dụng
V Loại khác 319 51.064,24 15,29
Tổng số 1562 333.823 100
Nguồn : “Báo cáo quyết toán năm 2002 của NHNo&PTNT Ba Đình“.
Bảng so sánh các hình thức thanh toán không dung tiền mặt các năm
2001,2002,2003.
Đơn vị triệu đồng
Séc 165 35.532 356 78.065 402 125.203
Uỷ nhiệm chi 489 110.085 531 165.000 562 195.378
Uỷ nhiệm thu 42 26.764 54 39.693,76 63 41.339
Loại khác 278 63.425 319 51.064,24 321 33.166
Tổng số 974 235.806 1260 333.823 1348 395.086
Nguồn: “Báo cáo quyết toán các năm 2001, 2002, 2003 của NHNo&PTNT Ba
Đình“
Qua bảng phân tích các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt các năm chúng ta
có thể thấy, trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, thì có 2 loại thể
thức được dùng nhiều hơn qua Ngân hàng đó là: ủy nhiệm chi, séc thức thư tín dụng
được dùng nhiều trong thanh toán quốc tế, thông dụng đối với trường hợp khách
hàng khác quốc gia, chưa hiểu rõ về nhau. Thẻ thanh toán tuy xuất hiện trong quy
chế thanh toán không dùng tiền mặt nhưng sử dụng được thẻ đòi hỏi phải có kỹ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thuật điện tử tin học hiện đại và trình độ dân trí cao nên hình thức này tại ngân hàng
chưa phát triển. Trong các hình thức được áp dụng nhiều nhất qua NHNo&PTNT
Ba Đình thì chúng ta thấy mỗi hình thức chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng doanh
số thanh toán không dùng tiền mặt. Trong đó, ủy nhiệm chi là hình thức chiếm tỷ
trọng lớn nhất, 49,4%trong doanh số thanh toán không dùng tiền mặt năm 2002.
Bên cạnh đó, lại có hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng nhỏ như séc bảo chi, ủy
nhiệm thu. Sở dĩ có tình hình như vậy là do các quy định cụ thể của mỗi hình thức
thanh toán, mức độ tín nhiệm khác nhau của mỗi hình thức, mức độ tín nhiệm của
khách hàng, trình độ trang bị kỹ thuật của Ngân hàng và thói quen sử dụng các hình
thức mang tính truyền thống của khách hàng.
Có thể thấy, thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của
Ngân hàng ngày một tăng và phát triển. Đây chính là một trong những bằng chứng
chứng tỏ Ngân hàng dần trở thành trung tâm thanh toán có uy tín trên địa bàn và
khu vực. Trên cơ sở đó kiểm soát chặt chẽ tình hình biến động vốn và sử dụng vốn
của các doanh nghiệp, các tổ chức đơn vị kinh tế có quan hệ tín dụng với Ngân
hàng, làm nền tảng cho việc thực hiện chức năng tạo tiền của Ngân hàng. Bản thân
Ngân hàng đã góp phần làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông, thực
hiện công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả trên địa
bàn, tránh tình trạng nơi thừa vốn, nơi thiếu vốn trong nền kinh tế. Để thấy được
mặt ưu và tồn tại qua đó tìm giải pháp khắc phục, ta đi sâu và phân tích từng hình
thức.
Hình thức thanh toán bằng séc.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Trong tất cả các hình thức thanh toán của Ngân hàng thì thể thức nào cũng có mặt
ưu điểm và không tránh khỏi những mặt hạn chế của nó. Hình thức thanh toán bằng
séc cũng vậy, ưu điểm của hình thức thanh toán này là: thanh toán trực tiếp giữa hai
đơn vị mua và bán được sử dụng một cách linh hoạt, thanh toán nhanh gọn, chính
xác. Nhưng trong hai loại séc đang sử dụng là séc chuyển khoản và séc bảo chi thì
tại Ngân hàng khách hàng sử dụng séc chuyển khoản nhiều hơn nhiều so với séc
bảo chi. Sau đây là bảng phân tích tình hình sử dụng hai loại séc này tại
NHNo&PTNT Ba Đình.
Bảng phân tích tình hình sử dụng séc năm 2001,2002
Đơn vị: triệu đồng
Séc chyểnkhoản
Séc bảo chi
Tổng cộng
Nguồn: “Báo cáo quyết toán các năm 2001,2002“
Thanh toán séc là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trực tiếp giữa người
mua và người bán (Sau khi nhận hàng người phát hành séc sẽ giao séc trực tiếp cho
người thụ hưởng), như vậy là hình thức thanh toán này gắn liền với sự vận động
của hàng hoá. Nhìn vào bảng trên ta thấy hình thức thanh toán bằng séc so với các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác đứng thứ hai về doanh số thanh
toán, chỉ sau ủy nhiệm chi. Như vậy, hình thức thanh toán séc đang dần được khách
hàng sử dụng khá nhiều trong thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Với việc lấy Nghị định
30/CP của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn 07/TT - NH1 của Ngân hàng Nhà
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
nước Việt Nam làm cơ sở cho việc phát hành và thanh toán séc, NHNo&PTNT Ba
đình đã cố gắng mở rộng quy mô sử dụng séc trong khách hàng. Thực tế, trong các
năm 2001và 2002, khối lượng thanh toán séc chưa cao song năm 2003 lại tăng
mạnh, đặc biệt là séc chuyển khoản.
*Thanh toán bằng séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản do chủ tài khoản phát hành để trả trực tiếp cho người thụ hưởng.
Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán trong phạm vi giữa các khách hàng
có tài khoản ở cùng một chi nhánh ngân hàng, Kho bạc nhà nước hoặc khác chi
nhánh ngân hàng, Kho bạc Nhà nước nhưng các chi nhánh này có tham gia thanh
toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố. Trong Bảng số liệu trên tình hình thanh
toán bằng séc chuyển khoản trong năm 2001 đạt 121 món chiếm 73,34% tổng số
món thanh toán séc, với số tiền 29.120 triệu đồng chiếm 81,96% tổng giá trị thanh
toán séc của Ngân hàng . Sang đến năm 2002, số món thanh toán séc chuyển khoản
tăng so với năm 2001 là 181 món với số tiền đạt 68.000 triệu đồng chiếm 87,1 %
tổng giá trị thanh toán bằng séc. Số liệu cho thấy, so với tổng giá trị thanh toán
không dùng tiền mặt thì thanh toán bằng séc chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (năm 2002
séc chuyển khoản chiếm 20,37% tổng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt, nhưng
với tốc độ phát triển cao như vậy hình thức thanh toán séc chuyển khoản sẽ còn phát
triển mạnh trong tương lai. Thực tế, năm 2003, thanh toán bằng séc chuyển khoản
đã chiếm tới 28,47% tổng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt.
* Thanh toán bằng séc bảo chi:
Tại Ngân hàng năm 2001, số món thanh toán bằng séc bảo chi đạt 44 món với số
tiền đạt được là 6.412 triệu đồng chiếm 26,66% tổng số món séc. Năm 2002, số
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
món thanh toán bằng séc bảo chi có nhiều hơn so với năm 2001 thể hiện số món
thanh toán séc bảo chi đạt 54 món, với số tiền đạt 10.065 triệu đồng, cao hơn so với
năm 2001 là 3.653 triệu đồng. Qua đó cho thấy séc bảo chi được sử dụng ít hơn séc
chuyển khoản, nhưng đối với người thụ hưởng, thì séc bảo chi chắc chắn về khả
năng thanh toán nên nó vẫn được một số người ưa thích.
Thanh toán bằng séc bảo chi người thụ hưởng không bị ứ đọng vốn. Đối với những
người thanh toán cùng mở tài khoản tại một ngân hàng hoặc khác ngân hàng cùng
hệ thống, người thụ hưởng được ghi Có ngay trong ngày nộp séc bảo chi.
Muốn sử dụng séc bảo chi khách hàng chỉ cần làm hai thủ tục là: làm 2 liên giấy
yêu cầu bảo chi séc và cắt séc gửi đến ngân hàng, sẽ được ngân hàng bảo chi cho
sau khi ngân hàng đã kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ séc, mẫu dấu của tờ séc,
số dư trên tài khoản tiền gửi. Nếu đủ điều kiện ngân hàng sẽ làm thủ tục bảo chi séc,
ghi ngày tháng bảo chi séc, ký tên đóng dấu ngân hàng mình và đóng dấu ”đã bảo
chi” vào mặt trước của tờ séc sau đó giao cho khách hàng. Quá trình hạch toán séc
bảo chi tiến hành như đã trình bày ở chương I.
Một số hạn chế của séc bảo chi ngoài những thuận tiện kể trên thì séc bảo chi
chưa được thanh toán với khách hàng khác địa phương, khác hệ thống mà khách
hàng phải thông qua séc chuyển tiền từ đó nhận séc bảo chi để thanh toán cho người
bán. Điều này gây khó khăn cho người mua để thanh toán cho người bán, do đó thể
thức thanh toán này không được phổ biến trong việc chi trả thanh toán tiền hàng
hoá, dịch vụ.
2.2.2. Hình thức thanh toán ủy nhiệm chi.
* Uỷ nhiệm chi:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Khảo sát số liệu ta thấy ủy nhiệm chi là hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng
lớn nhất và có xu thế ngày càng tăng. Cụ thể, năm 2001, doanh số thanh toán bằng
ủy nhiệm chi chiếm tỷ trọng 38,7% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt,
năm 2002 hình thức này chiếm tới 49,43% tổng doanh số thanh toán không dùng
tiền mặt . Nguyên nhân dẫn đến thanh toán bằng ủy nhiệm chi đạt được doanh số
như trên là do có những ưu điểm hơn các hình thức thanh toán khác như: Phạm vi
thanh toán rộng, được dùng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ và thanh toán khác,
chuyển vốn trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống, khác ngân hàng trên cùng địa
bàn tham gia thanh toán bù trừ, thủ tục thanh toán khá là đơn giản, dễ sử dụng,
người mua chỉ cần viết giấy ủy nhiệm chi gửi đến ngân hàng phục vụ mình để thanh
toán cho người được hưởng. Việc thanh toán chi trả cũng rất nhanh chóng và thuận
tiện.
Tại NHNo&PTNT Ba Đình thực hiện thanh toán khi: Khách hàng trả tiền nộp ủy
nhiệm chi và sau khi kiểm soát xong.
+ Nếu hai bên mua, bán có tài khoản tại Ngân hàng thì được chi trả ngay lập tức.
+ Nếu khách hàng được hưởng mở tài khoản tại ngân hàng khác, khác địa phương
nhưng cùng hệ thống cũng được chuyển trả kịp thời trong ngày. Thậm chí chỉ trong
vài giờ đồng hồ. Vì hiện nay hệ thống ngân hàng đã thực hiện việc chuyển trả tiền
qua hệ thống mạng máy tính rất kịp thời, chính xác và an toàn.
Ngoài ra thanh toán bằng ủy nhiệm chi hơn séc ở chỗ: với ủy nhiệm chi người mua
lấy hàng rồi mới gửi ủy nhiệm chi tới ngân hàng phục vụ mình, nếu tài khoản không
đủ dư tiền gửi để thanh toán, thì ngân hàng chỉ trả lại cho khách hàng mà không có
xử lý gì.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Thanh toán bằng ủy nhiệm chi đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và bên bán có
thể kiểm soát hàng hoá về số lượng cũng như về chất lượng cung ứng trước khi trả
tiền. Do hình thức này thường được áp dụng chủ yếu khi bên bán tin tưởng vào khả
năng thanh toán của bên mua nên hàng được giao trước.
Tuy nhiên, thể thức ủy nhiệm chi cũng có những tồn tại bởi vì: Thể thức này chỉ áp
dụng giữa hai đơn vị tín nhiệm lẫn nhau và dùng để thanh toán hàng hóa hay dịch
vụ đã hoàn thành. Vì thế bản thân nó chứa đựng chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến
hiện tượng tín dụng thương mại gây rủi ro, thiệt thòi cho khách hàng bán. Mặc dù
có những mặt hạn chế nhưng thể thức thanh toán này luôn đứng đầu về doanh số
cũng như về số món thanh toán trong suốt thời gian qua và sẽ còn phát triển nhiều
hơn nữa trong năm 2004 và trong tương lai.
2.2.3. Hình thức thanh toán ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu.
Có thể thấy ngay tình hình thanh toán bằng ủy nhiệm thu qua các năm của Ngân
hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thanh toán không dùng tiền mặt.
Thực tế cho thấy, tại Ngân hàng, hình thức thanh toán này chỉ áp dụng đối với
khoản chi phí dịch vụ có tính chất định kỳ thường xuyên như: tiền điện, tiền thuê
nhà, nước, của các tổ chức kinh tế trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố hoặc các khoản
tiền thu bán hàng do người bán và người mua thỏa thuận trước, khi đã có sự tin cậy
lẫn nhau, cho nên nó ít được sử dụng.
Thanh toán bằng ủy nhiệm thu chứng từ luân chuyển qua nhiều khâu và thực hiện
bằng hình thức ghi Nợ trướcvà ghi Có sau. Nếu ủy nhiệm thu thanh toán tiền hàng
với khách hàng có tài khoản ở cùng ngân hàng với đơn vị bán thì quá trình đơn
giản, nhanh chóng hơn, khách hàng chỉ cần nộp ủy nhiệm thu theo mẫu in sẵn của
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ngân hàng Nhà nước kèm hoá đơn thanh toán, sau khi nhân viên kế toán giao dịch
kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ ủy nhiệm thu và tài khoản bên mua đủ tiền thì tiến
hành ghi Nợ vào tài khoản bên mua và ghi Có vào tài khảo đơn vị bán. Nhưng trong
trường hợp hai bên mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau, ủy nhiệm thu sẽ được
gửi sang ngân hàng bên mua bằng phương thức thanh toán điện tử hay bằng phương
thức thanh toán bù trừ. Sau khi ngân hàng bên mua ghi Nợ vào tài khoản bên mua,
chứng từ ủy nhiệm thu quay về ngân hàng bên bán mới ghi Có vào tài khoản bên
bán.
Do sự phức tạp về quy trình thanh toán nên ủy nhiệm thu ít được các tổ chức kinh
tế, các cá nhân sử dụng một cách rộng rãi. Chính vì vậy khối lượng thanh toán ủy
nhiệm thu qua Ngân hàng như sau: năm 2001 số món thanh toán ủy nhiệm thu đạt
42 món với số tiền 26.764 triệu đồng chiếm 11,35% tổng doanh số thanh toán
không dùng tiền mặt, năm 2002 là 39.693,76 triệu đồng với 54 món chiếm 11,89%
tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt.
2.3 Đánh giá về thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba Đình
2.3.1. Thuận lợi.
Về mặt kỹ thuật, đến nay NHNo&PTNT Ba Đình đã được trang bị hệ thống
mạng máy vi tính nối mạng với NHNo&PTNT Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và công tác thanh toán không dùng
tiền mặt nói riêng. Nhiều ứng dụng công nghệ tin học đã được áp dụng trong các
nghiệp vụ ngân hàng, thanh toán bù trừ, thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng,
thông tin báo cáo phục vụ cho công tác quản lý và các nghiệp vụ khác. công nghệ
tin học cũng đã được áp dụng rộng rãi trong chuyển tiền điện tử, thông tin phòng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
ngừa rủi ro, thanh toán giám sát từ xa… vì thế tốc độ chu chuyển rất nhanh giảm
thời gian đọng vốn trong thanh toán, rút ngắn đáng kể thời gian chờ đợi của khách
hàng, đảm bảo bí mật, an toàn và chính xác.
Hệ thống ngân hàng cấp trên cũng đã xây dựng mới và sửa đổi các văn bản
quy tắc nghiệp vụ phù hợp với điều kiện ứng dụng kỹ thuật mới, phù hợp với thông
lệ quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được tính chặt chẽ và thông thoáng.
Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố con người quyết định mọi hoạt động của
ngân hàng, NHNo&PTNT Ba Đình đã đặc biệt coi trọng việc tạo nguồn nhân lực để
đảm bảo vận hành có hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn hiện nay và
đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai. Trên cơ sở tổ chức biên chế sẵn có
NHNo&PTNT Ba Đình đã đào tạo lại và phân công công tác hợp lý nên đã đáp ứng
được các nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
Hệ thống thanh toán trong nội bộ ngân hàng hiện nay tương đối phát triển so với
trước đây. Thanh toán qua hệ thống máy vi tính khá hoàn chỉnh và thực hiện quyết
toán ngay trong ngày đối với các khoản chuyển tiền trong nội bộ hệ thống.
Ngân hàng NHNo&PTNT Ba Đình hoạt động trên địa bàn quận Ba Đình và rộng
hơn là trên phạm vi Thủ đô Hà Nội. Đây là khu vực có trình độ dân trí cao nên
người dân dễ tiếp thu những tiến bộ mới nhất của xã hội, mà một trong những tiến
bộ đó là sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đồng thời, người dân ở
đây có mức thu nhập cao nên việc đến với thanh toán không dùng tiền mặt tương
đối dễ dàng hơn.
Hoạt động thương mại phát triển tạo môi trường thuận lợi cho công tác thanh toán
không dùng tiền mặt phát triển. Thủ đô Hà Nội là một thành phố có hơn 4 triệu dân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
nên sức tiêu thụ rất lớn, lại là nơi tập trung rất nhiều các khu công nghiệp, các công
ty, nên hoạt động thương mại diễn ra rất sôi động, do đó, lưu lượng thanh toán là rất
lớn. Đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng NHNo&PTNT Ba Đình phát triển
thanh toán không dùng tiền mặt.
2.3.2. Kết quả đạt được.
Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng thanh toán nói chung và thanh toán không
dùng tiền mặt nói riêng của NHNo&PTNT Ba Đình những năm gần đây ta có thể
thấy rằng : mặc dù phải đối mặt với nền kinh tế sôi động, chịu sự cạnh tranh gay gắt
của các tổ chức khác trên địa bàn nhưng NHNo&PTNT Ba Đình đã và đang từng
bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế. Với sự quyết tâm của ban
Giám đốc cùng tập thể cán bộ công nhân viên nên Ngân hàng đã dần vượt qua được
những khó khăn trở ngại của buổi đầu hoạt động, giành thế chủ động hoà nhập với
nền kinh tế thị trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra, góp phần vào công cuộc xây
dựng và phát triển kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của thanh toán không dùng tiền mặt NHNo&PTNT
Ba Đình đã chủ động đề nghị NHNo&PTNT Hà Nội đầu tư hiện đại hoá trang thiết
bị, đưa công nghệ thông tin vào phục vụ công tác thanh toán tại Ngân hàng. Đồng
thời, tích cực ứng dụng tin học vào hoạt động của Ngân hàng , từng bước xây dựng
Ngân hàng theo hướng hội nhập và hiện đại hóa như tham gia thanh toán điện tử
liên ngân hàng, đưa hệ thống máy ATM vào hoạt động và cải tiến báo Có qua mạng
SWIFT. Do vậy, đã căn bản thực hiện chuyển đổi công tác thanh toán từ phương
pháp thủ công sang phương pháp tin học, hiện đại. Chuyển hẳn từ thanh toán bằng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thư qua bưu điện hoặc điện thoại sang phương thức thanh toán qua mạng vi tính,
đảm bảo an toàn, chính xác, thuận lợi
Song song với việc hiện đại hoá về mặt vật chất, NHNo&PTNT Ba Đình không
ngừng nâng cao trình độ cán bộ nghiệp vụ thanh toán, trình độ khoa học để làm chủ
công nghệ mới và phong cách làm việc theo hướng cải cách hành chính cho phù
hợp với yêu cầu đòi hỏi của cơ chế thị trường.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện có hiệu quả tại chi nhánh
NHNo&PTNT quận Ba đình đã góp phần vào kết quả hoạt động chung của toàn bộ
hệ thống NHNo&PTNT VN.
Hoạt động thanh toán của Chi nhánh ngày càng thu hút nhiều khách hàng đến mở
tài khoản và giao dịch tại chi nhánh. Những nghiệp vụ phát sinh được hạch toán kịp
thời, chính xác. Thực hiện nghiêm túc các quy chế về chứng từ, quỹ đảm bảo thanh
toán, quỹ tiền mặt và khả năng thanh toán, chính vì vậy luôn được khách hàng tín
nhiệm.
Đơn vị: triệu đồng
Doanh số thanh toán không dùng tiền mặt qua các năm không ngừng tăng lên. Các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát huy được ưu thế.
Thanh toán không dùng tiền mặt trong năm vừa qua đã đạt những kết quả đáng
khích lệ thanh toán không dùng tiền mặt chiếm trên 85%/ tổng thanh toán. Năm
2003, doanh số thanh toán không dùng tiền mặt là 2.798.722 triệuVND chiếm
86,13%tổng doanh số thanh toán.
2.3.3. Hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
* Hạn chế:
- Chi nhánh không được trực tiếp thanh toán bù trừ với các ngân hàng khác
mà phải thông qua NHNo&PTNT Hà Nội mà nguyên nhân là do NHNo&PTNT Ba
Đình là một đơn vị hạch toán phụ thuộc NHNo&PTNT Hà Nội và điều kiện về
quản lý và kỹ thuật chưa cho phép.
- Chưa nối mạng giữa Ngân hàng với các khách hàng lớn và truyền thống mà
nguyên nhân chủ yếu là chưa có điều kiện thuận lợi cả về vốn lẫn cộng nghệ. Khách
hàng có tài khoản tại ngân hàng khi muốn biết những thông tin về tài khoản của
mình thì phải gọi điện thoại tới ngân hàng để nhờ các nhân viên ngân hàng cung
cấp các thông tin này chứ chưa thể theo dõi trực tiếp thông qua hệ thống mạng vi
tính. Đây là một hạn chế mà ngân hàng NHNo&PTNT Ba Đình cần kiến nghị với
ngân hàng NHNo&PTNT Hà Nội và NHNo&PTNT Việt Nam để khắc phục trong
thời gian sớm nhất bởi vì trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng
hiện nay, một số ngân hàng như VIETCOMBANK đã đi trước trong vấn đề này.
- Chưa nối mạng trực tiếp giữa các hệ thống ngân hàng với nhau. Đây còn là
hạn chế chung của tất cả các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
- Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện tại ở Việt Nam còn
nhiều bất cập, trong quá trình thực hiện còn cần nhiều chứng từ và thủ tục không
cần thiết gây chậm trễ cho quá trình thanh toán.
- Các văn bản pháp lý về thanh toán không dùng tiền mặt vẫn còn thiếu và chưa phù
hợp nên chưa tạo môi trường và hành lang vững chắc cho hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Công nghệ thanh toán của Ngân hàng chưa hiện đại so với một vài ngân hàng khác
hoạt động trên cùng địa bàn.
- Vì là một đơn vị hạch toán phụ thuộc NNNo&PTNT Hà Nội nên NNNo&PTNT
Ba Đình chưa chủ động trong việc thực hiện các giải pháp để mở rộng các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt của mình.
*Nguyên nhân:
- Nền kinh tế của Việt Nam chưa phát triển dẫn đến thu nhập của dân cư nhìn chung
còn thấp(GDP bình quân đầu người chỉ gần 400 USD/năm) vì thế việc mở tài khoản
tiền gửi cá nhân phần lớn hiện nay chỉ là hình thức. Các NHTM nói chung và
NHNN&PTNT Ba Đình nói riêng đã vận động các cán bộ, nhân viên của mình mở
tài khoản - đây là những người hiểu biết rõ lợi ích của việc làm này nên cán bộ -
công nhân viên đã hưởng ứng 100% song do tiền lương chỉ đủ chi tiêu cho nhu cầu
tối thiểu hàng ngày nên sau khi nhập lương vào tài khoản là các “chủ tài khoản” lập
tức rút tiền mặt do đó không đem lại hiệu quả cho thanh toán không dùng tiền mặt.
- Do một thời gian dài sống trong nền sản xuất nhỏ tạo cho các tầng lớp dân cư tâm
lý ưa thích tiền mặt, khi giao dịch muốn sở hữu ngay, cầm chắc trong tay số tiền
thanh toán. Thói quen sử dụng tiền mặt là một thói quen lâu đời của người Việt
Nam do đó khó có thể thay đổi trong “một sớm, một chiều” được.
- Trình độ người dân nhìn chung còn chưa cao, không biết hoặc biết rất ít về các
hoạt động của ngân hàng.
- Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt mới chỉ được sử dụng phần nhiều ở các
doanh nghiệp quốc doanh, công ty cổ phần, các doanh nghiệp tư nhân lớn và các cơ
quan nhà nước. Khu vực tư nhân gần như nằm ngoài quá trình thanh toán không
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
dùng tiền mặt, mà đây là một thị trường nhiều tiềm năng và rộng lớn, chiếm 70%
thu nhập quốc dân.
- NHNo&PTNT Ba Đình mới được thành lập và đi vào hoạt động nên vẫn còn đang
trong quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động, khai thác và tìm
kiếm thị trường. Do đó, phần nào cũng ảnh hưởng đến công tác thanh toán nói
chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của Ngân hàng.
- Nhà nước chưa có các chính sách phối kết hợp các ngành có liên quan trong quá
trình thanh toán để đưa thanh toán không dùng tiền mặt trở thành hình thức thanh
toán có tính “xã hội hoá” cao. (Hiện nay, các cơ quan, doanh nghiệp mới chỉ coi tổ
chức thanh toán không dùng tiền mặt là trách nhiệm riêng của ngân hàng).
- Mặc dù, trong những năm qua, Chính phủ cũng như NHNo&PTNT Việt Nam đã
ban hành nhiều nghị định, nghị quyết về công tác tổ chức thanh toán không dùng
tiền mặt nhưng vẫn chưa đạt đến sự thống nhất, hoàn thiện, còn gây nhiều bất cập
trong thanh toán. Bản thân các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng chưa
thật sự thuận tiện để người dân có thể dễ dàng sử dụng.
- Công tác tuyên truyền, quảng cáo của Ngân hàng còn hình thức, chưa hiệu quả,
còn ở trong tình trạng “đợi khách” chứ chưa thực sự tiếp cận, lôi cuốn khách hàng
bằng phương pháp Marketing thiết thực, đó cũng là nguyên nhân làm hạn chế sự
hiểu biết của dân chúng về Ngân hàng.Từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
của thanh toán không dùng tiền mặt.
- Bên cạnh đó, việc tổ chức phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống
ngân hàng ở nước ta còn lạc hậu Các ngân hàng hầu như chỉ bó hẹp sự giao dịch
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
trong hệ thống của mình, việc hợp tác giữa các ngân hàng thiếu đồng bộ Từ đó
dẫn đến tốc độ thanh toán chậm, thủ tục thanh toán rườm rà.
Hệ thống cơ sở hạ tầng liên quan đến các hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt chưa phát triển tương xứng cũng ảnh hưởng đến kết quả thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân hàng, đặc biệt là đối với công tác thanh toán bằng thẻ.
- Thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và trình độ quản lý của người Việt Nam nhìn chung
là còn kém.
- Thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa phát triển. Thị trường chứng khoán là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán. Khối lượng giao dịch trên thị
trường này là rất lớn và chủ yếu thực hiện thanh toán qua chuyển khoản do đó sẽ
thúc đẩy rất lớn tới thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng. Thị trường
chứng khoán phát triển cũng sẽ đẩy mọi người gần gũi hơn với các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt, nó có tác dụng tuyên truyền sâu rộng thanh toán không
dùng tiền mặt cho mọi người. Khi thị trường chứng khoán phát triển, các doanh
nghiệp phải công khai tình hình tài chính của mình cho các cổ đông và phải tạo
niềm tin cho các nhà đầu tư với hi vọng tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường
mà việc đầu tiên nên làm mà ai cũng biết đó là thực hiện giao dịch qua hệ thống tài
khoản trong ngân hàng.
Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại Nhno&ptnt
ba đình.
1. Định hướng của Ngân hàng trong thời gian tới về công tác thanh toán không
dùng tiền mặt.
- Hạn chế cho vay bằng tiền mặt, tăng cường cho vay bằng chuyển khoản.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền nhanh WU.
- Khuyến khích sử dụng tài khoản cá nhân.
- Tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.
- Nối mạng với các khách hàng lớn hoặc khách hàng truyền thống để thực hiện các
giao dịch qua mạng.
- Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt ở các phòng giao dịch.
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ và chuyên môn của các cán bộ phụ trách phần thanh
toán không dùng tiền mặt.
2. Giải pháp mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo&PTNT Ba Đình.
- Giải pháp về lãi xuất.Có mức lãi suất linh hoạt để kích thích người dân sử dụng
các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và sử dụng các tại khoản cá nhân.
- Giải pháp về sản phẩm.
+ Công bố, đa dạng hóa và phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Đối với mỗi hình thức thì có một mức phí phù hợp để khuyến khích người dân sử
dụng.
+ Cung cấp thêm các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mở rộng.
+ Nâng cao chất lượng phục vụ của các phòng giao dịch, cho phép các phòng giao
dịch thực hiện tất cả các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
- Giải pháp phát triển thị trường.
+ Kết hợp với các siêu thị, trung tâm thương mại. Các siêu thị hiện nay còn ít và
hàng hoá bán ra lại chủ yếu thu bằng tiền mặt, nhưng trong tương lai gần khi nền
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -