Tải bản đầy đủ (.pdf) (39 trang)

Bất cập trong chính sách thuế dẫn đến nặng nề cho công tác sau ban hành chính sách thuế - 2 pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (238.93 KB, 39 trang )

- ở cấp quận, huyện: Có các tổ nghiệp vụ, tổ thanh tra, các đội thuế chủ yếu là quản
lý các hộ kinh doanh trên địa bàn.
II. Thực trạng công tác quản lí thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta
hiện nay
1. Kết quả công tác thu thuế
1.1. Về số lượng
1.1.1.Đối với các doanh nghiệp:
- Trước khi có Luật Doanh nghiệp:
Từ năm 1990 ban hành luật doanh nghiệp tư nhân, đồng thời một số chỉ thị quyết
định, chính sách khác đã được triển khai. Nhờ đó số lượng doanh nghiệp đã tăng lên
nhanh chóng, chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công
ty CP, cụ thể năm 1991 có tất cả 494 doanh nghiệp hoạt động thì năm 1992 có 5198
doanh nghiệp, năm 1993 có 6808 doanh nghiệp, năm 1994 có 10881 doanh nghiệp,
năm 1996 có 15.276 doanh nghiệp, năm 1999 có 37.577 doanh nghiệp. Như vậy
tính bình quân từ 1991-1999 mỗi năm tăng hơn 3000 doanh nghiệp.
Có thể nói rằng với nền kinh tế gồm 80 triệu người thì số DNNQD ở mức 37575
DN là quá ít. Trong đó số lượng các DNNQD hoạt động thương mại, dịch vụ hầu
như luôn tăng nhanh hơn số các DNNQD hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cụ thể:
Bảng 2: Cơ cấu các doanh nghiệp NQD
1991-1996 15.276 5.958 39 5.347 35
1997-1998 28.708 14.067 49 6.316 22
1999-2000 51.468 27.793 54 7.720 15
Nguồn: Báo cáo của Phòng Thương mại và công nghiệp.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Sau khi có Luật DN (năm 2000):
Nhờ xoá bỏ thủ tục xin giấy phép thành lập DN loại bỏ 165 loại giấy phép kinh
doanh, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong đăng ký kinh doanh mà trong vòng
chỉ 1 năm kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực 13.891 DN mới được thành lập
bằng 1/5 tổng số doanh nghiệp thành lập từ năm 1990 đến 1999. Và một điểm đáng
chú ý là trong một thời gian này có khoảng hơn 500 công ty Cổ phần mới được
thành lập lớn hơn tổng số công ty Cổ phần được thành lập suốt 9 năm trước cộng lại


vì từ năm 1991 đến 1999 có 214 công ty CP.
Theo số liệu tổng hợp của DNNQD đã đăng ký nộp thuế (đã được cấp mã số
thuế) của Bộ Tài Chính thì số DNNQD đang hoạt động thấp hơn mức cơ quan đăng
ký kinh doanh ghi nhận được.
Bảng 3: Tổng hợp số DNNQD đăng ký nộp thuế
Đơn vị tính: nghìn doanh nghiệp
Cty TNHH
Cty CPhần
DNTN
Tổng số
Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê.
Như vậy số DN nêu trên chưa kể HTX, quỹ tín dụng, các chi nhánh của các
công ty. Số liệu quản lý thu thuế thấp hơn so với số liệu cấp đăng ký kinh doanh số
liệu cấp đăng ký kinh doanh là cộng theo luỹ kế chưa loại trừ các trường hợp có
đăng ký kinh doanh nhưng không khai báo nộp thuế hoặc tạm nghỉ kinh doanh, do
vậy số DN đăng ký hoạt động lớn hơn nhưng số lượng DN thu thuế thì ít hơn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
1.1.2. Đối với hộ cá thể:
Ta xét bảng sau:
Bảng 4: Số hộ kinh doanh trong các năm
Đơn vị tính: nghìn hộ.
Năm Số hộ kinh doanh
1990 750
1995 1.150
1997 1.400
2000 1.700
2001 1.954
Nguồn: Tổng cục Thuế
Nổi lên trong những năm gần đây do Chính Phủ khuyến khích thành lập
doanh nghiệp, vì vậy nhiều hộ kinh doanh lớn đã chuyển lên thành lập DN, tức là có

sự chuyển dịch thu từ cá thể sang DN. Theo phản ánh của các địa phương, trong
năm 2000 có đến 2/3 số doanh nghiệp mới thành lập và chuyển từ hộ kinh doanh cá
thể lên.
1.2. Về vốn đầu tư
Theo số liệu điều tra liên bộ năm 1997 tổng số vốn đăng ký toàn ộ khu vực kinh tế
NQD là 26.845 tỷ đồng. Trong đó khu vực doanh nghiệp là 18.945 tỷ đồng, khu vực
hộ cá thể là 7.900 tỷ đồng. Số vốn thực tế đưa vào hoạt động sản xuất là 47.676 tỷ
đồng. Trong đó: - Khu vực Doanh nghiệp : 2.436tỷđồng.
- Khu vực Hộ cá thể : 15.134 tỷ đồng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, trong năm 2000 các DN NQD đã
đăng ký vốn lên đến 37.000 tỷ đồng, tài sản cố định (TSCĐ) với số vốn gần 7 tỷ
đồng, và là một trong những thành phần kinh tế có tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển
vào loại cao. Điều đó được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 5: Vốn theo đăng ký tính đến 31/12/1999.
Loại hình DN Vốn đăng ký(Tỷ đồng) Tỷ lệ(%)
DN Nhà nước 113.562 80,626
DN Tư nhân 6.177 4,385
Cty TNHH 13.373 9,495
Cty Cổ phần 5.280 3,749
HTX phi nông nghiệp 254 0,180
DN của các tổ chức 2.203 1,564
Tổng 140.849 100
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Vốn đầu tư của các hộ kinh doanh năm 1999 đạt 30.000 tỷ đồng chiếm 19,7% tổng
số vốn đầu tư toàn xã hội, tuy nhiên chỉ có khoảng 50% trong tổng số vốn này dùng
cho phát triển hoạt động sản xuất, 50% còn lại là dùng vào xây nhà ở làm cơ sở vật
chất cho các năm sau.
Số vốn trên còn thấp xa so với số vốn thực tế cần được huy động vào quá
trình sản xuất kinh doanh. Vì tính chung hàng năm khu vực NQD đầu tư vào hoạt

động sản xuất chỉ chiếm 14-15% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. Tình hình này cho
thấy, trong thời gian tới cần có nhiều chính sách, giải pháp phù hợp để khuyến
khích khu vực này tăng cường đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
1.3 . Về lao động
Theo số liệu điều tra thống kê liên bộ giữa Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Công nghiệp, Tổng cục Thống kê thực hiện theo chỉ thị 675 của Thủ tướng
Chính phủ. Đến 31/12/1996 khu vực kinh tế NQD đã thu hút: 2.978.600 lao động
trong đó:
- Khu vực Doanh nghiệp: 560.000 lao động.
- Khu vực Hộ cá thể : 2.418.800 lao động.
Số lao động trên chưa kể lao động thời vụ, nếu tính cả số lao động này có thể lên
đến 4-4,5 triệu lao động. Hiện nay tính đến 31/12/2001 khu vực này đã có khoảng
7-8 triệu lao động. Nếu so với khu vực DNNN và DN có vốn đầu tư nước ngoài thì
số lượng lao động làm việc ở khu vực NQD là không nhỏ.
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng việc làm trong các khu vực doanh nghiệp
Đơn vị tính: %
Khu vực DN 1996 so với 1995 1997 so với 1996 1998 so với 1997
DNNN 21,7 4,7 0,3
Hộ cá thể 3,4 3,1 3,4
DN khối tư nhân 13,7 12,0 16,2
HTX 20,1 16,9 - 3,7
Nguồn: Tổng cục thuế
1.4. Về đóng góp cho ngân sách
Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế NQD mới
đúng bản chất là “ thuế”. Vì khác với DNNN, nhà nước không phải là chủ sở hữu tư
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
liệu sản xuất. Nhà nước thu thuế của các khu vực kinh tế NQD mà không phải đầu
tư trực tiếp vào khu vực này.
Ta có bảng sau:

Bảng 7: Thu ngân sách của khu vực kinh tế NQD
Năm Số thu (tỷ đồng) Tốc độ tăng (%)
1995 4.330 100
1996 5.187 119,7
1997 5.665 109,2
1998 5.828 102,8
1999 5.581 95,7
2000 5.830 104,5
2001 6.643 113,9
Nguồn: Tổng cục Thuế.
Trong đó thu từ khu vực DN có xu hướng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong
khi khu vực hộ cá thể chiếm tỷ trọng ngày càng giảm. Cụ thể là số thu DNNQD
năm 1995 chiếm 15% tổng số thu NQD, năm 1996 chiếm 27,4% tổng số thu, khu
vực DN NQD năm 2000 chiếm 40% tổng số thu, năm 2001 chiếm 45% tổng số thu.
Trong khi thu từ hộ kinh doanh tăng 3%, số thu này chưa bao gồm tiền sử dụng đất,
tiền thuê đất, thuế nhà đất, thuế xuất nhập khẩu, lệ phí, thuế GTGT nhập khẩu, thuế
thu nhập của người có thu nhập cao.
Năm 1999 số thu về thuế có giảm so với năm 1998 vì một phần thuế gián thu
(GTGT) đối với hàng hóa nhập khẩu chuyển cho ngành Hải quan thu. Những số liệu
trên chỉ là số phản ánh vào ngân sách nhà nước, thực tế khu vực NQD còn tham gia
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
đóng góp tài chính cho đất nước thông qua các hoạt động như ủng hộ lũ lụt, thương
binh liệt sĩ, đóng góp cho quỹ an ninh, xây dựng trường học
1.5. Về đóng góp vào GDP
Theo số liệu của Tổng cục Thuế, từ năm 1995-2000 GDP ( Tổng sản phẩm quốc
nội) khu vực kinh tế NQD thường chiếm trên 10% tổng GDP xã hội.
Ta có bảng sau
Bảng 8: Đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế NQD.
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng
1995 29.268 228.656 12,80 100,0

1996 31.675 271.888 11,65 108,2
1997 39.740 312.913 12,70 125,4
1998 44.090 361.393 12,20 110,9
1999 47.339 399.485 11,85 107,3
2000 52.734 462.579 11,40 111,3
Nguồn: Tổng cục Thuế.
Cũng theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm
của khu vực NQD năm nào cũng đạt cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và
tăng cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước.
Cụ thể trong 5 năm từ 1996-2000 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 6,94% trong
đó khu vực kinh tế NQD có tốc độ tăng như trên.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực kinh tế NQD góp phần vào việc thực hiện các
chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế do nhà nước đề ra hàng năm, làm cho bức tranh kinh
tế xã hội cả nước ngày càng sáng sủa, lành mạnh.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
2. Tình hình thực hiện các biện pháp quản lý thu thuế trong thời gian qua
Để hoàn thành công tác quản lý thu thuế năm 2001, từ tháng 11,12/2000 và liên tục
trong một vài tháng đầu năm 2001 Tổng cục Thuế đã chỉ đạo tập trung vào một số
biện pháp sau đây:
- Rà soát nắm hoạt động đối tượng kinh doanh đưa vào diện quản lý thuế.
- Điều chỉnh ngay doanh thu, mức thuế đối với hộ khoán, ổn định, phấn đấu mức
thuế mới tăng bình quân 10% so với mức thuế tháng 12/2000.
- Đẩy mạnh triển khai chế độ kế toán hộ kinh doanh đưa tất cả hộ kinh doanh có
môn bài bậc 1, bậc 2 vào diện triển khai.
- Tăng cường quản lý các doanh nghiệp NQD, thu đúng, thu đủ số thuế phát sinh.
- Đẩy mạnh kiểm tra, phát hiện các trường hợp gian lận thuế, lập hoá đơn, chứng từ
không đúng giá thực tế thanh toán.
- Thực hiện nghiêm túc các qui trình quản lý thu
Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thuế đã tích cực triển khai và đã đạt được
một số kết quả góp phần tăng thu nhập Ngân sách, chấn chỉnh công tác quản lý,

khai thác nguồn thu thể hiện ở một số điểm sau.
2.1. Về quản lý đối tượng kinh doanh
2.1.1 Về quản lý các DN NQD
Công tác quản lý các DNNQD đã có chuyển biến đáng kể, các cục thuế đều bám sát
tiến độ cấp đăng ký kinh doanh (ĐKKD)của Sở Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện
đăng ký thuế, cấp mã số thuế đưa vào diện quản lý điển hình.
Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc
thực hiện, tức là người xin thành lập DN chỉ nộp hồ sơ cho Sở KH-ĐT. Cục thuế
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
phối hợp với Sở KH- ĐT ngay từ khi xem xét cấp đăng ký kinh doanh đảm bảo khi
được cấp ĐKKD, doanh nghiệp được cấp ngay mã số thuế. Với tốc độ thành lập
tương đối nhiều nhưng bằng cách này, Cục Thuế đã bám rất sát tiến độ cấp ĐKKD,
đảm bảo cấp ĐKKD đến đâu là có tên ngay trong danh bạ quản lý thuế.
Nhưng cũng có nhiều địa phương chưa có điều kiện thực hiện được theo phương án
trên nên các cơ quan thuế đã chủ động liên hệ với Sở KH - ĐT định kì nắm số
doanh nghiệp đã được cấp ĐKKD để thông báo kịp thời cho DN đến đăng ký thuế
xin cấp mã số thuế, do đó cơ sở đã được cấp ĐKKD và cơ sở được cấp mã số thuế
tương đối khớp nhau. Như Hải Phòng có 1138 DN được cấp ĐKKD thì có 1132 cơ
sở được cấp mã số thuế, Bến Tre có 367 DN được cấp ĐKKD thì có 366 DN được
cấp mã số thuế, ngoài ra còn có Bắc Giang, Khánh Hoà, Bắc Cạn doanh nghiệp
được cấp đăng ký đến đâu thì cấp ngay mã số thuế đến đấy.
Với các biện pháp phối hợp chặt chẽ với cơ quan cấp ĐKKD ngay từ đầu khi DN
xin cấp ĐKKD các địa phương đã phát hiện ngay nhiều trường hợp có những dấu
hiệu không lành mạnh, như khai khống địa chỉ, trụ sở, người đứng tên điều hành
công ty không đủ năng lực và trách nhiệm dân sự. Không đủ trình độ quản lý để chỉ
đạo tiếp các biện pháp nhằm ngăn ngừa các hành vi lợi dụng
Cũng do thực hiện tốt việc rà soát các DN nên các cục thuế đã nắm chắc hơn số
lượng DN đã giải thể, số lượng DN ngưng hoạt động, số DN đã rời địa bàn chuyển
đi nơi khác kinh doanh để có các biện pháp ngăn chặn tiêu cực xảy ra, như chỉ đạo
quyết toán thuế, thu hồi hoá đơn, thông báo hoá đơn bị thất thoát, thông báo DN đã

chuyển địa điểm chưa tìm thấy, thông báo DN không đến cơ quan thuế để khai nộp
thuế Như cục thuế Hà Nội qua rà soát có 158 DN không tìm thấy,448 DN không
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
hoạt động, 82 DN giải thể. Hà Tây qua rà soát có 43 DN đã bỏ kinh doanh chưa thu
hồi giấy phép, 41 doanh nghiệp tạm nghỉ. Tiền Giang cũng có 22 DN đã phá sản
còn ở Đồng Tháp đã phát hiện 54 doanh nghiệp giải thể, 20 doanh nghiệp không
hoạt động, 6 doanh nghiệp không tìm thấy Qua đó Cục thuế phối hợp kịp thời với
các cơ quan chức năng khác có biện pháp giải quyết như thu hồi ĐKKD, tạm đình
chỉ kinh doanh
2.1.2. Về quản lý hộ kinh doanh cá thể
Mặc dù nhà nước bảo hộ nhiều giấy phép ảnh hưởng đến quản lý của ngành thuế
nhất là với một số ngành như vận tải tư nhân, khách sạn tư nhân, nhà nghỉ, thuê
nhà Nhưng do chỉ đạo tập trung rà soát lại đối tượng kinh doanh nên một số hộ
quản lý thu thuế vẫn tăng hàng tháng. Nhiều địa phương có số hộ ghi thu môn bài
năm 2001 tăng cao hơn so với năm 2000 và cao hơn cả số hộ điều tra thống kê. Như
Hà Nam số hộ môn bài năm 2001 tăng hơn số hộ thu môn bài năm 2000 là 400 hộ,
Hưng Yên là 400 hộ, Bắc Ninh 400 hộ, Phú Thọ 800 hộ, Bến Tre 1500 hộ, Quảng
Trị 1200 hộ, Phú Yên là 1600 hộ. Bạc Liêu số hộ ghi thu môn bài là 1200 hộ so với
điều tra thống kê, Bắc Ninh tăng 2500 hộ, Bắc Cạn tăng 300 hộ, Quảng Bình tăng
1800 hộ
Theo số liệu tổng hợp nhiều địa phương đã kịp thời báo cáo UBND chỉ đạo các
ngành có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Thuế để quản lý đối với một số khu vực
khó quản lý như: Cục thuế Nghệ An phối hợp với cơ quan đăng ký phương tiện ô tô
(cơ quan đăng kiểm) ô tô nắm số lượng phương tiện ô tô, phân loại xác đinh đối
tượng sử dụng, mục đích kinh doanh. Trên cơ sở đó rà soát đối chiếu với số phương
tiện đang quản lý thu thuế môn bài, thuế tháng sau đó trình bày với UBND để chỉ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
đạo buộc phải đến trình báo với cơ quan thuế. Kết quả đã truy thu được gần 500
triệu đồng tiền thuế của các chủ phương tiện lâu nay kinh doanh không nộp thuế.
Cũng tương tự việc quản lý thu thuế đối với một số khu vực khó quản lý thì Cục

thuế các tỉnh như Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang đã có văn bản hướng
dẫn quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh đánh bắt thuỷ hải sản. Các tỉnh Quảng
Ninh, Thanh Hoá, Hải Phòng có khu du lịch cũng cần phối hợp với cơ quan thuế
và các ngành chức năng để có biện pháp quản lý thu, chống thất thu đối với khu vực
NQD.
2.2 Về xác định doanh thu, mức thuế đối với hộ khoán
Qua nắm tình hình cho thấy, ngoài những địa phương do ảnh hưởng của lũ lụt cuối
năm 2000, các hộ hoạt động mới ổn định kinh doanh, chưa kịp xác định lại doanh
thu, mức thuế ngay từ đầu năm. Còn lại các địa phương đều đã chỉ đạo điều chỉnh
lại doanh thu, mức thuế đối với hộ khoán. Vì vậy, mặc dù một số lượng lớn các hộ
kinh doanh lớn chuyển lên DN và số hộ triển khai kế toán tăng lên chuyển nộp thuế
theo kê khai nhưng doanh thu, mức thuế hộ khoán vẫn tăng, tuy chưa đạt yêu cầu
của Tổng cục Thuế đề ra. Một số địa phương có mức tăng cao là Hà Nam 15%,
Quảng Bình gần 10%.
Việc quản lý doanh thu, mức thuế đối với hộ kê khai cũng được các địa phương tập
trung chỉ đạo, khắc phục tình trạng bán hàng nhưng không xuất hóa đơn, lập sổ sách
kế toán hình thức. Vì vậy doanh thu hộ kê khai nhiều địa phương cũng tăng. Điển
hình như là Hải Dương tăng 50%, Hưng Yên tăng 80%, Bắc Ninh 40%, An Giang
tăng 40%, Bạc Liêu tăng 70%
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Vậy để đạt được những kết quả đó, công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh đ• được
đẩy mạnh công khai, dân chủ trong việc xác định doanh thu, tính thuế các biện pháp
của Bộ Tài chính đã hướng dẫn việc thành lập các Hội đồng tư vấn Thuế ở các
phường xã, ban hành quy chế phối hợp giữa chi cục thuế, đội thuế với hội đồng tư
vấn, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo và chỉ đạo cũng như sự giám sát của cấp Uỷ và
chính quyền phường xã địa phương đối với công tác quản lý thu thuế.
2.3 Ngành thuế đã nghiên cứu, xây dựng các quy trình nghiệp vụ và chỉ đạo
thực hiện các quy trình đề ra
Tổng cục Thuế đã xây dung các quy trình:
- Quản lý thu thuế các doanh nghiệp nộp theo phương pháp khấu trừ.

- Quản lý thu thuế với hộ kinh doanh khoán ổn định.
- Quản lý hộ xin nghỉ kinh doanh.
- Xét miễn giảm thuế đối với hộ có thu nhập thấp.
2.4 Việc phân cấp quản lý đẩy mạnh triển khai chế độ kế toán, chế độ lập hoá
đơn chứng từ
2.4.1. Về quản lý đối với các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
Ngành thuế đã chỉ đạo cho tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện chế độ kế
toán hoá đơn chứng từ theo phương pháp kê khai để đảm bảo công tác tự tính thuế
của doanh nghiệp. Đặc biệt từ năm 1999 cùng với việc triển khai luật thuế GTGT,
thuế TNDN và đổi mới tổ chức quản lý thu đã có những chuyển biến tích cực; theo
đánh giá của các cục thuế từ chỗ chỉ có 40-50% doanh nghiệp thực hiện kế toán nay
lên đến 80 - 85% doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ kế toán và 100% doanh nghiệp
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thực hiện kê khai nộp thuế trong đó 90% đã lập và nộp tờ khai đúng thời hạn. Đã cơ
bản chấm dứt được tình trạng nộp thuế khoán trong các doanh nghiệp
Theo thống kê số thu thì khu vực doanh nghiệp NQD chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
trong tổng thu của khu vực NQD. Do vậy phản ánh kết quả quản lý doanh nghiệp
tương đối tốt. Nguyên nhân thu ở khu vực NQD tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng thu NQD là do số lượng doanh nghiệp tăng nhiều nhưng về cơ bản vẫn là
công tác quản lý đã có chất lượng cao hơn. Thể hiện ở những điểm sau:
- Trong việc quản lý đối tượng kinh doanh (trình bày ở mục 2.1.1).
- Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục thuế phân cấp một số doanh nghiệp cho các chi
cục quản lý, một mặt tạo điều kiện cho cục thuế có điều kiện để đi sâu quản lý các
doanh nghiệp lớn, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm các biểu hiện
gian lận thuế, đồng thời tập trung nguồn thu hơn, mặt khác đối với các doanh
nghiệp được phân cấp cho chi cục, các chi cục quản lý sát hơn nên số thu cũng tăng.
- Cục thuế đã chú ý hơn đến việc kiểm tra quyết toán thuế, đối chiếu hoá đơn,
chứng từ mua bán hàng hoá, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp lợi dụng
trốn lậu thuế, hoàn thuế không đúng nhất là đối với các doanh nghiệp kinh doanh
hàng hoá nông sản.

Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, có số lượng doanh nghiệp NQD rất lớn, qua
công tác xét cấp kinh doanh, cấp mã số thuế và quản lý, cục Thuế đã tổng hợp và
đưa ra một số dạng, hình thức kinh doanh trốn lậu thuế giúp cho phòng quản lý, các
Chi cục Thuế sớm nhận diện để có biện pháp ngăn ngừa. Thực hiện chỉ đạo của
Tổng cục Thuế về quản lý chống hành vi lập hóa đơn, chứng từ không đúng giá
thanh toán, cục Thuế đã sớm có văn bản hướng dẫn và chỉ đạo xử lý thống nhất trên
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
địa bàn thành phố vì vậy nhiều doanh nghiệp kinh doanh xe máy đã lập hóa đơn
tương đối trung thực, nộp thuế GTGT đầu ra và thuế TNDN đều đặn
Cục thuế Thành phố Hà nội ngay từ đầu năm đã chỉ đạo đôn đốc các doanh nghiệp
kê khai tạm nộp thuế TNDN, tổ chức kiểm tra tờ khai, thực hiện ấn định thuế
TNDN đối với các doanh nghiệp kê khai không trung thực nên kết quả thu 6 tháng
từ khu vực doanh nghiệp đạt khá. Đồng thời qua kiểm tra quyết toán thuế, cũng chỉ
đạo đối chiếu tờ khai để điều chỉnh kịp thời. Do đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ
nhưng qua kiểm tra quyết toán, đấu tranh vẫn chấp nhận phải nộp thuế TNDN theo
số liệu ấn định của cơ quan Thuế.
Cục thuế Thành phố Đà nẵng, Đồng nai chú trọng kiểm tra, đối chiếu việc lập
chứng từ mặt hàng nông sản của các doanh nghiệp, phát hiện nhiều trường hợp lập
không đúng, truy thu hàng tỷ đồng.
Các cục Thuế Thái Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ cũng chỉ đạo kiểm tra, xử
lý các cơ sở kinh doanh xe máy ghi hoá đơn không đúng giá trị thực tế góp phần
tăng thu ngân sách.
Để chống thất thu ngân sách đối với doanh nghiệp kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn,
Cục thuế Quảng Ninh, Khánh Hoà, Lâm Đồng đã tham mưu trình UBND ban hành
bảng giá tính thuế áp dụng cho từng loại phòng nghỉ, yêu cầu khách sạn, nhà nghỉ
phải nộp hồ sơ, phòng nghỉ, khách đến nhà nghỉ phải đánh dấu vào sơ đồ để tiện
cho công tác kiểm tra.
2.4.2. Về quản lý đối với các hộ kinh doanh cá thể
Đối với hộ cá thể ngành thuế cũng đã triển khai việc thực hiện kế toán hộ
kinh doanh, khuyến khích mọi hộ kinh doanh thực hiện kế toán và lập hoá đơn,

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
chứng từ. Để thúc đẩy các địa phương đẩy mạnh triển khai kế toán hàng năm, Tổng
cục Thuế đều giao chỉ tiêu cho các Chi cục Thuế phải tổ chức triển khai. Theo số
liệu tổng hợp đến hết năm 2000 có trên 100 ngàn hộ kinh doanh thực hiện chế độ kế
toán chiếm khoảng 70% số hộ kê khai kinh doanh lớn, trong đó khoảng 50% số hộ
làm kế toán đã được cơ quan thuế chấp thuận chuyển sang nộp thuế theo kê khai ở
các mức độ khác nhau. Số còn lại tuy đã kê khai nhưng do nội dung kê khai chưa
đúng, thiếu trung thực nên cơ quan thuế phải áp dụng việc ấn định thuế. Về số hộ
kinh doanh triển khai hết tháng 6/2001, theo số liệu kiểm tra của 48 địa phương số
hộ được giao triển khai là 85.570 hộ, số hộ đã triển khai là 72.100 hộ đạt 85% số hộ
được giao và so với tháng 12/2000 số lượng hộ kinh doanh đã triển khai kế toán
tăng 2 lần. Theo thống kê số hộ lớn chiếm 45% tổng số hộ kinh doanh nhưng số
thuế chiếm trên 80% tổng số thuế ở khu vực hộ cá thể. Vì vậy cần tiếp tục đẩy mạnh
triển khai kế toán và tập trung chống thất thu vào những hộ này, còn lại 55-60% hộ
vừa và nhỏ sẽ tiếp tục thực hiện ổn định thuế để họ yên tâm kinh doanh.
Vậy qua triển khai chế độ kế toán hộ kinh doanh kết quả thu thuế đối với hộ
kinh doanh nộp thuế theo kê khai tăng lên rõ rệt (như nêu ở phần trên) nhiều hộ
kinh doanh qua triển khai thực hiện sổ sách kế toán, số thuế tăng gần gấp nhiều lần
so với số thuế thu khoán. Ngoài ra qua doanh thu phản ánh trên sổ sách kế toán còn
giúp cho cơ quan Thuế đánh giá đầy đủ hơn tình hình quản lý doanh thu, thất thu về
doanh thu, làm cơ sở để điều chỉnh doanh thu đối với hộ khoán.
Để triển khai tốt chế độ kế toán hộ kinh doanh các địa phương đã tập trung
chỉ đạo kiên quyết vừa chú trọng công tác cán bộ, từ giao nhiệm vụ cụ thể cho đội
trưởng đội thuế chịu trách nhiệm triển khai đến việc tăng cường chế độ báo cáo định
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
kỳ để nắm tình hình, rút kinh nghiệm và chỉ đạo kịp thời vừa kết hợp với các biện
pháp khác như kết hợp triển khai chế độ kế toán với việc sử dụng hoá đơn của hộ
kinh doanh, thành lập và mở rộng các loại dịch vụ kế toán, tăng cường kiểm tra xử
lý vi phạm, tháo gỡ kịp thời các khó khăn trong quá trình triển khai nên kết quả
vừa tăng về số hộ, doanh thu mức thuế kê khai cũng tăng.

2.5 Tình hình quản lý và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế khu vực kinh tế NQD
2.5.1. Đối với hộ kinh doanh cá thể
Để tránh cho cán bộ thuế phải trực tiếp đi thu tiền của từng hộ kinh doanh dễ dẫn
đến tiêu cực, từ nhiều năm nay ngành Thuế đã phối hợp với Kho bạc tổ chức cho hộ
kinh doanh nộp tiền trực tiếp vào Kho bạc. Theo báo cáo của các địa phương về cơ
bản các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh lớn, hộ sản xuất kinh doanh ở
những địa bàn tập trung đều đã thực hiện nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc, cơ quan
Thuế chỉ làm nhiệm vụ đôn đốc và kiểm tra việc nộp thuế, cơ quan Kho bạc trực
tiếp thu tiền thuế. Trường hợp cơ quan Kho bạc chưa tổ chức thu trực tiếp thì cơ
quan Thuế mới tổ chức thu.
Tuy nhiên do lực lượng của Kho bạc còn mỏng nên ở một số nơi để hỗ trợ thu thuế
nhanh nên cơ quan Thuế phải cử cán bộ cùng tham gia với Kho bạc tổ chức thu nộp
thuế.
Với những biện pháp chủ đạo nêu trên, công tác quản lý thu thuế NQD trong những
năm qua đã có những chuyển biến tương đối tích cực, giảm dần thất thu thuế cả về
đối tượng và về doanh số.
Theo thống kê số hộ quản lý thu thuế trong mấy năm gần đây đạt khoảng 1,6 triệu
hộ bằng khoảng 85% số hộ điều tra thống kê. Số hộ chưa quản lý thu thuế tập trung
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
vào những loại hộ sản xuất trong các làng nghề, hộ kinh doanh sớm tối, hộ hành
nghề xe ôm, xích lô, xe súc vật kéo. Tất cả các hộ kinh doanh có địa điểm cố định
về cơ bản đã được đưa vào diện quản lý thu thuế thường xuyên.
2.5.2. Đối với khu vực doanh nghiệp
Cơ quan thuế đã phối hợp với kho bạc tổ chức cho doanh nghiệp nộp thuế qua kho
bạc đồng thời để giám sát chặt chẽ hơn việc thành lập, hoạt động và ngừng hoạt
động của doanh nghiệp. Từ năm 1999 chuyển giao lên cục Thuế quản lý đã xác định
được 5.000 doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh nhưng thực tế không hoạt động
hoặc giải thể, nhưng cơ quan cấp đăng ký kinh doanh vẫn không thu hồi giấy phép.
Năm 2001 dự toán từ NQD nhà nước giao tăng trên 10% so với thực thu năm 2000.
Để thực hiện được dự toán trên, ngay từ tháng 12/2000 Tổng cục Thuế đã chỉ đạo

cơ quan Thuế các cấp tập trung hoàn thiện các biện pháp đã nêu trên:
III. Một số tồn tại về công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD ở
nước ta hiện nay
A. Những tồn tại chung
1. Một số tồn tại trong các chính sách thuế
1.1. Thuế GTGT
Theo quy định tại Luật thuế GTGT thì mọi tổ chức, cá nhân không phân biệt thành
phần kinh tế, quy mô kinh doanh đều là đối tượng nộp thuế GTGT và đòi hỏi mọi
đối tượng nộp thuế phải thực hiện chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ.
Nhưng trên thực tế, việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ tại
các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể không nghiêm, đa số không thực hiện,
do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách thuế.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Theo thông lệ quốc tế, thuế GTGT thường chỉ áp dụng đối với các tổ chức kinh tế
đạt đến một quy mô kinh doanh nhất định. Luật thuế GTGT hiện hành áp dụng với
tất cả các đối tượng, nhất là các đối tượng chưa thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn,
chứng từ vừa làm công tác quản lý thuế thêm phức tạp, vừa ảnh hưởng đến nghĩa vụ
và quyền lợi của các tổ chức kinh doanh.
Về thuế suất thuế GTGT: Nguyên tắc của thuế GTGT là thuế suất được xây dựng và
áp dụng theo mặt hàng. Qua một số lần điều chỉnh, bổ sung nguyên tắc này đã
không được duy trì, thuế suất thuế GTGT một số hàng hoá, dịch vụ vừa theo mặt
hàng, vừa theo công dụng. Cùng là sản phẩm cơ khí nhưng máy móc thiết bị thì áp
thuế 5%, sản phẩm cơ khí tiêu dùng thì áp dụng thuế suất 10%, dẫn đến có mặt hàng
nếu cơ sở kinh doanh mua về thì được coi là máy móc thiết bị, nhưng đối tượng
khác mua về thì bị coi là sản phẩm tiêu dùng. Ví dụ: Máy in nếu bán đồng bộ với
máy tính thì được coi là máy móc thiết bị và được áp dụng thuế suất 5%, nhưng nếu
bán rời thì áp dụng thuế suất 10%.
Việc phân biệt các máy móc, dụng cụ chuyên dùng cho y tế, giáo dục, quốc phòng,
an ninh rất phức tạp. Ví dụ: Bảng nếu bán cho nhà trường được coi là dụng cụ để
giảng dạy được áp dụng thuế suất 5%, các đối tượng khác mua thì áp dụng thuế suất

10%.
Về kê khai nộp thuế: Theo Luật thuế GTGT, mọi tổ chức và cá nhân kinh doanh
hàng tháng đều phải nộp tờ khai gửi cơ quan thuế, không phân biệt quy mô, có phát
sinh doanh số hay không Cùng với việc kê khai cơ sở kinh doanh còn phải lập
bảng kê hoá đơn, chứng từ liên quan đến hàng hoá mua vào, bán ra. Đối với khu
vực kinh tế NQD, nhất là đối với những cơ sở có quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
nhẹ, không có người chuyên trách, việc lập tờ khai và bảng kê hàng tháng như vậy
gặp nhiều khó khăn và tăng chi phí.
Theo luật thuế GTGT hiện hành cho áp dụng khấu trừ theo tỷ lệ đối với một số hàng
hoá, chủ yếu là hàng nông sản là nhằm hỗ trợ cho các đối tượng nộp thuế mua hàng
hoá nông sản. Nhưng trên thực tế đang bị lợi dụng, trong khi việc đối chiếu, xác
minh của cơ quan thuế không thể thực hiện được đối với mọi trường hợp, do đó đã
có nhiều đối tượng nộp thuế lợi dụng quy trình này kê khai tăng giá mua, lập bảng
kê khống, tăng số thuế đầu vào nhằm mục đích trốn thuế hoặc hoàn thuế khống, gây
thất thoát cho ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh
nghiêm túc.
Việc thực hiện tính thuế theo hai phương pháp: khấu trừ và trực tiếp đã dẫn đến
cùng kinh doanh một mặt hàng nhưng mức thuế phải nộp khác nhau, có mặt hàng
thực hiện theo phương pháp khấu trừ thì số thuế phải nộp lớn hơn nếu tính theo
phương pháp trực tiếp hoặc ngược lại, điều này vừa gây bất bình đẳng giữa các đối
tượng nộp thuế, vừa sơ hở để đối tượng kinh doanh lợi dụng.
Về hoá đơn chứng từ: Luật thuế GTGT chỉ được phát huy đầy đủ tính ưu việt nếu
thực hiện đầy đủ việc mua bán hàng hoá có hoá đơn, chứng từ. Thực tiễn ở nước ta,
việc thực hiện hoá đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá chưa nghiêm túc, chưa phải
là yêu cầu bắt buộc đối với mọi đối tượng mua hàng. Vì vậy nhiều tổ chức và cá
nhân kinh doanh không xuất hoá đơn giao cho người mua, làm ảnh hưởng đến việc
xác định nghĩa vụ thuế. Nhiều doanh nghiệp còn vi phạm việc lập và sử dụng hoá
đơn như: ghi hoá đơn không đúng phát sinh kinh tế, mua bán và sử dụng hoá đơn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

của cơ sở khác để lập giao cho khách hàng cũng ảnh hưởng đến việc xác định
nghĩa vụ thuế của bên mua.
1.2. Thuế TNDN
- Các doanh nghiệp NQD hiện nay đang áp dụng thuế suất thuế TNDN 32% cao
hơn so với doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoài nước đang được hưởng thuế suất
TNDN 25%.
- Theo quy định chi phí tiền lương đối với kinh tế NQD được xác đinh tính vào chi
phí căn cứ vào hợp đồng lao động và phải phù hợp với định mức tiền lương được áp
dụng cho doanh nghiệp Nhà nước hoạt động cùng lĩnh vực, ngành nghề, không
được chấp nhận một khoản chi phí có tính chất tiền công, tiền lương nào.
Tuy nhiên trong thực tế để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
cao, các doanh nghiệp phải trả lương cho người lao động theo mức độ cống hiến và
đòi hỏi của họ, dẫn đến không phản ánh đúng lợi nhuận kinh doanh của doanh
nghiệp
+ Đối với các trường hợp không có hợp đồng lao động về nguyên tắc được xác định
theo mức lương do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định cho từng ngành nghề.
Nhiều doanh nghiệp lợi dụng lập danh sách lao động khống nhằm mục đích tăng chi
phí, giảm thu nhập chịu thuế.
+ Đối với hộ kinh doanh cá thể không được tính vào chi phí giá trị sức lao động của
bản thân chủ hộ bỏ ra để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Tiền công trả cho người
lao động khác thường không được xác định rạch ròi trong chi phí vì hộ kinh doanh
áp dụng biện pháp khoán do không thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ.
Điều này ảnh hưởng đến tính công bằng của chính sách thuế.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Chi phí khác: Thường trong qúa trình kinh doanh ngoài các chi phí như KH
TSCĐ, tiền lương, cơ sở kinh doanh còn phải chi các hoạt động có tính chất tự
nguyện như: lũ lụt, tiếp khách Những khoản này đều bị khống chế khi chi cao hơn
thì không được tính vào chi phí. Vì vậy thuế TNDN đã tính khống mà cơ sở kinh
doanh vẫn phải nộp.
- Về miễn thuế đối với hộ kinh doanh có thu nhập thấp theo quy định hộ kinh doanh

có thu nhập dưới mức lương tối thiểu là 210.000 đồng/ tháng thì được miễn thuế,
nếu thu nhập cao hơn thì phải nộp thuế. Điều này mâu thuẫn với mức miễn thuế
theo chính sách thuế thu nhập của người có thu nhập cao, chính sách này quyết định
khởi điểm đánh thuế là 2 triệu trở lên/ tháng/người.
- Thuế TNDN bổ sung: Theo quy định thì căn cứ vào lợi thế khách quan của doanh
nghiệp để xác định với mức thuế suất là 25%, nhưng trong thực tế điều này khó xác
định nên mọi đối tượng có thu nhập cao đều phải nộp thuế thu nhập bổ sung.
1.3. Thuế XNK
Thuế xuất nhập khẩu trong thời gian qua về cơ bản đã thực hiện được mục tiêu kinh
tế của Đảng và Nhà nước trong 10 năm đổi mới là khuyến khích sản xuất trong
nước thay thế cho hàng nhập khẩu, tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, bước
đầu phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên chính sách Thuế XNK của ta đã bộc lộ
những hạn chế là.
- Việc xác định các mức thuế bảo hộ còn thiếu chọn lọc chưa tính đến lợi thế so
sánh của nền kinh tế, chưa tính đến điều kiện và thời hạn bảo hộ, một mặt đã tạo
tâm lý ỷ lại cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước chủ yếu hướng vào sản xuất
thay thế hàng nhập khẩu, không vươn rộng lên mở rộng thị trường ra bên ngoài.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Biểu thuế nhập khẩu hiện hành còn tương đối phức tạp với nhiều mức thuế khác
nhau, tạo kẽ hở để các doanh nghiệp trốn lậu thuế gây khó khăn cho quản lý thuế.
- Chính sách miễn giảm thuế còn khá rộng rãi một mặt tạo kẽ hở cho việc trốn, lách
thuế làm thất thu cho ngân sách Nhà nước, mặt khác làm cho chính sách thuế XNK
thiếu tính minh bạch.
1.4. Thuế Môn bài
Thuế môn bài một năm thu một lần nhằm mục đích kiểm kê, kiểm soát, phân loại cơ
sở kinh doanh.
Thuế môn bài hiện đang có 6 mức: 850.000 đồng, 550.000 đồng, 325.000 đồng,
165.000 đồng, 60.000 đồng, 25.000 đồng, không phân biệt tổ chức kinh tế hay hộ
kinh doanh cá thể nên đã bộc lộ những nhược điểm.
- Thuế môn bài chưa thể hiện được đầy đủ mục đích phân loại cơ sở kinh doanh vì

tổ chức kinh tế có thu nhập hàng chục tỷ đồng/năm cũng nộp thuế môn bài theo
mức 850.000 đồng/năm trong khi hộ kinh doanh cá thể thu nhập từ 1.250.000 đồng
trở lên đều phải nộp theo mức thuế môn bài trên. Như vậy đã không khuyến khích
được đối tượng nộp thuế một cách công bằng.
- Thuế môn bài đang áp dụng chỉ phù hợp với thuế doanh thu và thuế lợi tức của
những năm 1996. Từ năm 1999 thực hiện luật thuế GTGT và thuế TNDN thì thuế
môn bài đã không còn phù hợp nữa.
2. Về nhận thức tư tưởng vẫn còn sự phân biệt đối xử.
Thực tiễn đến nay vẫn chưa thay đổi nhiều trong cả các cơ quan quản lý Nhà nước
và nhân dân.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Báo Doanh nghiệp 4/2001 trong bài “có sự phân biệt đẳng cấp trong kinh doanh ở
Việt nam” tác giả đã đăng một chuyên đề khoa học của Viện nghiên cứu về Đào tạo
và quản lý. Qua 11 chỉ tiêu đưa ra để đánh giá cho thấy.
Bảng 10: Phân loại tiêu chí so sánh các loại hình doanh nghiệp
Tiêu chí so sánh DNNN DN vốn F.D.I DNNQD
1- Về thành lập và đăng ký kinh doanh C B A
2- Về giải thể doanh nghiệp. C B A
3- Về phá sản doanh nghiệp. A A A
4- Về vay vốn và tham gia thị trường A B C
5- Tuyển dụng lao động A B C
6- Chính sách tiền lương, tiền công B A C
7- Thuế và các chính sách tài chính B A C
8- Chính sách về đất đai. A B C
9- Hợp tác kinh doanh và liên doanh với nước ngoài. B A C
10- Xuất, nhập khẩu và xúc tiến thương mại. A B C
11- Thanh tra, kiểm tra. B A C
Nguồn: Báo Doanh nghiệp số 4 - 2000
Nếu quy định sự thuận lợi cao nhất là A, sự thuận lợi ở mức trung bình là B và sự
khó khăn là C thì với 11 tiêu chí đã nêu cho thấy các doanh nghiệp NQD chỉ có 3

tiêu chí là giành được sự thuận lợi cao, 3 tiêu chí này có thể do bản thân doanh
nghiệp tự quyết định còn 9 tiêu chí khác có liên quan đến các cơ quan quản lý thì
đều thuộc loại C.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Bảng so sánh phản ánh sự nhận thức của cơ quan quản lý vừa thể hiện sự phân biệt
đối xử của bản thân cơ quan quản lý và các thành phần kinh tế.
Trong dân cư quan niệm rằng kinh tế NQD vẫn gắn liền với ý nghĩ “buôn gian bán
lậu” vẫn chưa phải đã hết, thể hiện qua việc mua sắm hàng hoá vẫn muốn mua của
Nhà nước, con em xin việc làm cũng muốn trở thành công chức hoặc cán bộ công
nhân viên Nhà nước
Bản thân các ông chủ kinh doanh cũng chưa tự thoát được những mặc cảm mà xã
hội đã gán cho từ đó chưa mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nhiều
người kinh doanh vẫn còn có ý thức nghe ngóng chờ đợi. Bên cạnh đó trong chính
sách thuế và tổ chức quản lý thuế cũng còn thực hiện tương đối rõ nét sự đối xử
này.
3.Các chính sách chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chồng chéo gây khó khăn cho hoạt
động kinh tế NQD
Trước hết nói về Luật Doanh nghiệp đã được thực hiện từ 1/1/2000 nhưng đến nay
còn nhiều văn bản hướng dẫn vẫn chưa được ban hành hoặc chưa có hướng dẫn cụ
thể làm cho cơ sở kinh tế NQD lúng túng khi thực hiện, các cơ quan quản lý gây
phiền hà sách nhiễu như qui định các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và những
điều kiện để kinh doanh các ngành nghề đó; các lĩnh vực kinh doanh bỏ giấy phép
và chuyển thành điều kiện kinh doanh; thế nào là ngành nghề mới Danh mục các
ngành nghề khu vực kinh tế NQD được ban hành từ năm 1993 đã lạc hậu so với
thực tế nhưng chưa được sửa đổi lại. Hệ thống phân loại và đăng ký mã số ngành
nghề, mặt hàng có sự khác biệt và không thống nhất giữa các ngành gây khó khăn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
cho cơ sở đăng ký khi nhập khẩu, khi áp thuế suất. Nhiều trường hợp xảy ra tranh
chấp cuối cùng các cơ sở kinh tế NQD vẫn là người thiệt nhất.
Trong chính sách thuế có tình trạng tương tự. Các luật và các văn bản hướng dẫn

chuyên ngành thường đưa nội dung thuế nhưng mâu thuẫn với các luật thuế hiện
hành, làm cho doanh nghiệp rất lúng túng khi triển khai thực hiện. Do đó ngày
24/4/2001 Thủ tướng Chính phủ đã phải có chỉ thị 07/2001-CT-TTg yêu cầu tất cả
các ngành khi xây dựng các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực chuyên ngành không
được đưa nội dung quy định về thuế trong các văn bản đó đồng thời phải rà soát
ngay nội dung quy định về thuế trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành, phát những điểm không phù hợp với luật thuế để kiến nghị Bộ Tài chính và
Chính phủ xem xét quyết định.
4. Khu vực kinh tế NQD thiếu thông tin, dịch vụ tư vấn thuế
Trước hết, đó là các thông tin liên quan đến luật pháp điều chỉnh và chi phối quá
trình thành lập và hoạt động của doanh nghiệp. Theo phản ánh của các doanh
nghiệp họ đều biết được các văn bản pháp quy qua hệ thống thông tin báo chí và
đến khi các văn bản pháp luật họ tiếp nhận được thường rất chậm. Không có cơ
quan nào đứng ra chịu trách nhiệm phổ biến và hướng dẫn họ. Trong các trường
hợp xảy ra tranh chấp, chưa có cơ quan pháp luật nào đứng ra trung gian giải quyết
hoặc tư vấn cho họ giải quyết.
Phát triển kinh tế thị trường đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu những thông
tin về thị trường, giá cả và dự báo diễn biến rủi ro của thị trường và giá cả là rất
quan trọng giúp họ có thể tránh được rủi ro. Tuy nhiên đến nay chưa có cơ quan nào
tư vấn giúp họ trong việc này dẫn đến nhiều trường hợp bán hàng bị ép giá, mua
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×