Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

Thủ tục pháp lý cho vốn nội địa và vốn ngoại cung tại các ngân hàng - 2 pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.39 KB, 35 trang )

Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì sẽ
khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và không hiệu quả vì nguồn vốn dài hạn có chi phí
huy động cao hơn trong khi cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay
trung và dài hạn.
Mô hình cấu trúc kỳ hạn giúp chúng ta phân tích sự phù hợp giữa nguồn vốn và sử
dụng vốn. Dựa vào đó ngân hàng điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn và danh mục tài sản
để vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tăng doanh lợi, đồng thời duy trì khả năng
thanh toán (trường hợp thiếu hụt dự trữ), đầu tư thêm tài sản sinh lời (trường hợp
thừa vốn), hoặc chuẩn bị tái đầu tư cho một tài sản sắp đến hạn.
Danh mục tài sản và cấu trúc thời hạn của tài sản thường được xây dựng dựa trên cơ
sở qui mô, cơ cấu nguồn vốn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp các ngân hàng phải
điều chỉnh lại cơ cấu nguồn vốn cho phù hợp với sử dụng vốn cho kế hoạch mở rộng
kinh doanh hoặc theo chỉ định của Chính phủ để đầu tư trong giai đoạn đó.
Sự phù hợp còn thể hiện giữa lẫi suất và từng nhóm tài sản với lãi suất phải trả cho
từng nguồn vốn. Về nguyên tắc lãi suất trên tài sản phải cao hơn lãi suất trên nguồn
có cùng kỳ hạn và các tài sản có thời hạn dài hơn phải có lãi suất cao hơn để bù đắp
chi phí trả lãi cao hơn của bên nguồn vốn.
d, Quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến huy động vốn
- Quản lý rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất phụ thuộc vào sự tương quan giữa độ nhạy cảm lãi suất của việc sử
dụng vốn với độ nhạy cảm lãi suất của huy động vốn. Rủi ro này làm thu nhập từ lãi
ròng của ngân hàng giảm xuống (chi phí trả lãi > chi phí thu từ lãi).
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Lãi suất luôn biên động. Các nhà quản lý ngân hàng khi đầu cơ trên những biến
động này, cách thức họ làm là sử dụng nguồn ngắn hạn để cho vay hay mua chứng
khoán có thời hạn dài hơn với kỳ vọng lãi suất hạ. Nếu đúng như dự đoán, ngân
hàng có thể bán các chứng khoán có giá trị cao hơn hay giữ các khoản cho vay
chứng khoán để hưởng các khoản thu nhập cao hơn thị trường. Đương nhiên là tình
trạng ngược lại khi lãi suất tăng đến chừng mực nào đó thu nhập lãi không đủ bù đắp
chi phí vốn.
Những thay đổi khó đoán trước của lãi suất có thể làm tăng khả năng sinh lợi của


ngân hàng. Tuỳ thuộc đặc điểm của nguồn vốn và danh mục tài sản thay đổi về lãi
suất có thể làm tăng hay giảm thu nhập ròng từ lãi. Vì vậy, song song với việc quản
lý rủi ro lãi suất các ngân hàng rất quan tâm đến các cơ hội đầu tư nếu lãi suất biến
động theo hướng có lợi.
Để phân tích rủi ro lãi suất có rất nhiều mô hình được áp dụng, trong đó mô hình
được sử dụng phổ biến nhất là phân tích khe hở (GAP analysis). Theo phương pháp
này, ngân hàng quản lý thu nhập ròng từ lãi trong ngắn hạn. Rủi ro được xác định
bằng cách tính chênh lệch tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất trong khoảng thời gian
nhất định từ đó có thể tính được mức độ biến động của thu nhập ròng từ lãi suất thay
đổi. Khe hở kỳ hạn (GAP) tương ứng với phần chênh lệch giữa tài sản nhạy cảm với
lãi suất và nợ nhạy cảm với lãi suất.
GAP = Tài sản nhạy cảm với lãi suất - Nợ nhạy cảm với lãi suất
Sử dụng những thông tin về GAP để phân tích độ nhạy cảm với lãi suất, từ phân tích
độ nhạy cảm với lãi suất các nhà quản lý có thể điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn cần
huy động sao cho đảm bảo có khe hở tích cực nhằm tăng thu nhập tiền lãi ròng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Duy trì sự ổn định thu nhập từ lãi (hạn chế rủi ro lãi suất) có thể thực hiện bằng cách
điều chỉnh qui mô tài sản và nguồn vốn nhạy cảm hoặc sử dụng các công cụ ngoại
bảng của bảng tổng kết tài sản như hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn và hoán đổi
l•i suất (Swap).
- Tính thanh khoản của nguồn vốn và quản lý rủi ro thanh khoản
Tính thanh khoản của nguồn vốn được đo bằng khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới
với chi phí và thời gian nhỏ nhất. Đối với các ngân hàng phân tích tính thanh khoản
của nguồn vốn đang trở thành trọng tâm quản lý nguồn vốn. Nhiều ngân hàng lớn do
thực hiện chuyển hoán kỳ hạn nguồn và duy trì tỷ lệ dự trữ thấp, rất quan tâm tới
khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đặc biệt là các
nguồn trong ngắn hạn. Sở dĩ như vậy là vì khả năng rủi ro thanh khoản rất dễ xảy ra.
Rủi ro thanh khoản tức là ngân hàng mất khả năng chi trả cho các nguồn huy động
từ bên ngoài. Có thể thấy các nguồn dài hạn như tiền gửi tiết kiệm, có kỳ hạn ổn
định ít bị rủi ro thanh khoản hơn các nguồn ngắn hạn nhất là tiền gửi thanh toán

Để hạn chế, quản lý rủi ro thanh khoản căn cứ vào tính thanh khoản của nguồn tuỳ
thuộc rất lớn vào thị trường nợ của mỗi ngân hàng và chính sách tiền tệ được vận
hành. Hơn nữa, sự phát triển của các công cụ nợ sẽ cho phép ngân hàng có nhiều cơ
hội tiếp xúc với các nguồn, đa dạng hoá nguồn vốn huy động để phân tán rủi ro.
Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn bắt đầu từ việc phân tích thị trường nguồn
vốn của mỗi ngân hàng để thấy đặc điểm của mỗi nguồn. Có thể thấy ngân hàng cần
tập trung phân tích nguồn vay mượn từ NHNN và từ các TCTD khác. Các nguồn
này tuy ngắn hạn song có thể có được trong thời gian ngắn, nhằm đáp ứng nhu cầu
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thành khoản trong ngắn hạn đặc biệt là khi rủi ro thanh khoản xảy ra. Ngoài ra các
nguồn mà ngân hàng có ưu thế cũng cần được xét tới.
1.2.3. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn từ bên ngoài
1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Trên đây là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn từ bên ngoài. Tuy
vậy nếu chỉ căn cứ vào các chỉ tiêu trên là chưa đủ mà cần phải xem xét thêm về các
nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn cả nhân tố thuộc về ngân hàng lẫn
nhân tố khách quan. Các nhân tố thuộc về ngân hàng có thể thấy như:
- Chiến lược khách hàng của ngân hàng về huy động vốn
Giờ đây, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn ngân hàng, mà theo họ là thuận tiện
hơn chức không chỉ là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời từ lãi suất. Do đó các ngân hàng
nhận thấy cũng cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạt động kinh doanh
nói chung và trong huy động vốn nói riêng.
Trước tiên, ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những mong muốn của
người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thông qua phân tích lợi
ích của khách hàng. Mục đích gửi tiền của doanh nghiệp thường là nhờ ngân hàng
quản lý, ký quĩ hoặc nhờ chi trả trong thanh toán khi các cá nhân gửi tiết kiệm có
mục đích là hưởng lãi. Mục đích của tiền gửi trên loại tài khoản khách nhau cũng rất
khác nhau như tiền gửi giao dịch để phát hành séc thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn để
giành tiền cho tiêu dùng, đầu tư trong tương lai đồng thời hưởng lãi.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng xem xét đặc điểm đối tượng khách hàng mà ngân

hàng tài trợ (xem xét nhu cầu đầu tư, hình thức tài trợ, thị hiếu của khách)
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Trên cơ sở những thông tin của khách hàng trong hoạt động huy động và hoạt động
sử dụng vốn, ngân hàng có thể đưa ra hệ thống các chính sách và biện pháp phù hợp
để có được qui mô và cơ cấu nguồn vốn mong muốn. Hệ thống chính sách đáp ứng
và gợi mở nhu cầu liên quan đến huy động vốn bao gồm :
+ Huy động với qui mô, cơ cấu, kỳ hạn, lãi suất ra sao cho phù hợp, việc huy động
và sử dụng vốn gắn kết với nhau ra sao.
+ Các chính sách liên quan đến sản phẩm và dịch vụ tiền gửi ngân hàng. Nhóm
chính sách này nhằm vào việc đánh giá các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất
lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường đồng thời mở rộng phát
triển dịch vụ mới.
+ Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí dịch vụ được
coi là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ tài chính, ngân hàng sử dụng hệ thống lãi
suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và thay đổi
qui mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm vốn ngân hàng cần ấn định mức lãi
suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền
thường xuyên.
Hơn nữa, hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với qui mô và cơ cấu nguồn vốn.
Qui mô và cơ cấu nguồn vốn còn bị chi phối bởi giá cả của các dịch vụ khách như
chi phí chuyển tiền, phí dịch vụ thanh toán, ngân quĩ.
+ Các chính sách về tổ chức kỹ thuật: Đây là các chính sách và biện pháp nhằm làm
thuận lọi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng. Bao gồm việc bố trí
mạng lưới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ ngân hàng, cơ chế tài chính đồng thời
tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán sao cho nhanh chóng, an toàn, chính xác.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
+ Các chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được các NHTM
rất quan tâm nhằm tạo, củng cố uy tín của mình trên thị trường, gắn bó với khách
hàng truyền thống và hấp dẫn khách hàng mới. Trong điều kiện khó có thể duy trì
sự khác biệt về sản phẩm và giá cả như hiện nay, chất lượng dịch vụ trở thành công

cụ cạnh tranh vô cùng quan trọng để thu hút vốn. Thái độ phục vụ thân thiện, chu
đáo , bố trí hệ thống thanh toán khoa học là những điều hết sức cần thiết để giữ vững
khách hàng hiện có và thu hút thêm khách hàng.
- Quy mô vốn chủ sở hữu:
Vốn của chủ đóng vai trò như cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị tài sản của
NHTM, nó đảm bảo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng là yếu tố quyết
định giới hạn tối đa của qui mô huy động vốn.
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng:
Ngân hàng phải dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng chiến lược kinh
doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và điều chỉnh cơ cấu nguồn
vốn là một bộ phận.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Đây là một trong các nguồn lực để ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Đó là mạng
lưới các chi nhánh, các điểm giao dịch với đặc thù ,vị trí, hệ thống thông tin và thiết
bị khác.
- Tài sản vô hình:
Tài sản vô hình quan trọng nhất của ngân hàng là uy tín của nó trong hệ thống, của
các thành viên trong hội đồng quản trị, ban giám đốc. Thuộc nhóm này phải kể đến
các quan hệ mà ngân hàng đã tạo lập được với khách hàng hiện có, khách hàng tiềm
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
năng, các trung gian tài chính và các cơ quan nhà nước. Các khách hàng được ngân
hàng huy động vốn, họ đều có tâm lý là muốn đảm bảo chắc chắn tiền của mình
không bị rủi ro và có lãi. Bởi vậy, họ tìm đến những ngân hàng có uy tín, có thương
hiệu lớn. Như vậy những NHTM có thương hiệu, có uy tín cao sẽ thu hút được
nguồn vốn cao hơn những NHTM khác.
- Tính chất sở hữu của ngân hàng:
Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài
chính, chiến lược kinh doanh từ đó ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và quản
lý, sử dụng vốn.
Ngoài ra: mạng lưới huy động, trình độ công nghệ ngân hàng, trình độ cán bộ cũng

là những yếu tố ảnh hưởng khác.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan (môi trường kinh doanh của ngân hàng)
Hoạt động huy động vốn nói chung và huy động vốn của ngành ngân hàng nói riêng
luôn gắn với môi trường kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là môi trường kinh tế và
pháp lý.
- Việc huy động của ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế, thu nhập dự tính của người lao động, tâm lý người gửi tiền, chu kỳ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế tác động trực
tiếp. Có thể thấy khi nền kinh tế có sự trượt giá của đồng tiền dẫn đến việc nguồn
vốn nhàn rỗi hầu như sẽ được chuyển thành những thứ có giá trị bền vững hơn (vàng
bạc, kim cương ) để an toàn hơn; nhất là khi tỷ lệ trượt giá cao hơn cả lãi suất huy
động thì vấn đề khai thác nguồn vốn lại càng khó khăn hơn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt chịu tác động bởi nhiều chính
sách, các qui định của Chính phủ và của NHTW. Thay đổi chính sách của nhà nước,
của NHTW về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh cũng như khả năng thu hút vốn của NHTM. Sự ổn định về chính trị hay chính
sách ngoại giao cũng tác động đến quan hệ nguồn vốn của một ngân hàng với các
quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
- Thông tin đại chúng: chính phương tiện truyền thông cũng ảnh hưởng đến khả
năng khai thác vốn của NHTM, bởi chính nó là thứ chuyển tải những thông tin về
các chính sách, tiện ích của NHTM đến mọi người, để mọi người có thể hiểu về lợi
ích của mình kho gửi tiền vào ngân hàng.
- Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thể khai
thác nhằm mở rộng qui mô huy động vốn của NHTM.
- Môi trường văn hoá như tâm lý, tập quán, thói quen sử dụng tiền của dân cư ảnh
hưởng nhiều đến quyết định kinh tế của người có thu nhập về tiêu dùng và tiết
kiệm, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các TCTD hay quyết định chi số tiền
nhàn rỗi của họ đầu tư vào bất động sản, động sản, chứng khoán.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hình ngân

hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Cạnh tranh có xu hướng gia tăng
mạnh, làm giảm đi sự khác biệt giữa các NHTM với các tổ chức tài chính phi ngân
hàng. Khách hàng có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư trực tiếp vào mua chứng khoán của
Chính phủ và công ty. Xu hướng cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gia
tăng do các yếu tố: Thay đổi chính sách về tài chính- tiền tệ, đổi mới tài chính của
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, xu hướng chứng khoán hoá.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Trong môi trường ngành ngân hàng, cạnh tranh về tiền gửi diển ra dưới nhiều hình
thức. Các ngân hàng có thể áp dụng các điều kiện giống nhau cho tất cả các khách
hàng gửi tiền. Vì lý do này, các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi được mở
rộng và được phổ biến nhanh chóng. Thêm vào đó nhiều tổ chức tài chính phi ngân
hàng có thể huy động gửi tiền có kỳ hạn, thậm chí còn cung cấp các tài khoản không
kỳ hạn ( tiết kiệm bưu điện). Do cạnh tranh, lãi suất tiền gửi tăng lên trong khi giá
dịch vụ liên quan đến tiền gửi giảm xuống, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
kinh doanh của các ngân hàng.
Trên đây là hệ thống lý luận liên quan đến hoạt động của ngân hàng và nguồn vốn,
chúng ta đã nghiên cứu các thành phần, cơ cấu nguồn vốn đối với hoạt động kinh
doanh của NHTM, các phương thức tạo lập vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến qui
mô, cơ cấu nguồn vốn.
Chương 2: thực trạng huy động vốn từ bên ngoài của NHTM CP quân đội thời gian
qua
2.1. Tổng quan về NHTM CP Quân đội
2.1.1. Giới thiệu chung về NHTM CP Quân đội
Trong những năm đầu thập kỷ 90, nhu cầu vốn và các dịch vụ tài chính cho hoạt
động kinh tế quốc phòng nhằm thực hiện những công trình quốc phòng, dự án quốc
gia của các doanh nghiệp Quân đội là rất lớn. Tuy nhiên, việc đáp ứng nhu cầu này
của các ngân hàng còn hạn chế. Chính vì vậy, ngày 04/11/1994, NHTM CP Quân
đội đã chính thức đi vào hoạt động theo Quyết định số 00374/ GP-UB của Uỷ ban
Nhân dân Thành phố Hà Nội và theo Giấy phép hoạt động số 0054/NH-GP ngày
14/09/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. NHTM CP Quân đội là

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
một trong 5 NHTM CP có trụ sở tại Hà Nội với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng, thời
gian hoạt động là 50 năm. Từ 20 tỷ vốn điều lệ đó đến 29/10/2004 số vốn chủ sở
hữu là 398,4 tỷ, tăng 19,9 lần so với năm 1994.
Mục tiêu ban đầu của Ngân hàng là đáp ứng nhu cầu về vốn và các dịch vụ tài chính
của các Doanh nghiệp Quân đội làm kinh tế. Cùng với quá trình phát triển kinh tế
của đất nước, với đường lối chính sách đứng đắn, NHTM CP Quân đội đ• gặt hái
được nhiều thành công, không những đáp ứng nhu cầu của các Doanh nghiệp Quân
đội mà còn phục vụ có hiệu quả tất cả các thành phần kinh tế, đóng góp một phần
quan trọng vào sự phát triển của các khách hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đối với cổ đông, NHTM CP Quân đội luôn đảm bảo tốt quyền lợi của cổ đông, duy
trì mức cổ tức hàng năm từ 15 – 20%/năm. Đối với nhân viên, Ngân hàng không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân viên, đảm bảo đầy đủ quyền
lợi cho người lao động.
2.1.2. Các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp
Với phương châm luôn mang lại những sản phẩm dịch vụ tiền ích đáp ứng tốt nhu
cầu khách hàng, NHTM CP Quân đội đã không ngừng nâng cao chất lượng những
sản phẩm dịch vụ hiện có cũng như nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ
mới.
Các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Quân đội bao gồm:
- Huy động vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư: Các sản phẩm huy
động vốn của NHTM CP Quân đội rất đa dạng gồm tiết kiệm và tài khoản tiền gửi
cá nhân và doanh nghiệp. Dòng sản phẩm tiết kiệm của Ngân hàng gồm các sản
phẩm Tiết kiệm truyền thống, tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm trả trước với nhiều kỳ hạn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
và lãi suất khác nhau. Ngoài ra, Ngân hàng còn nhận vốn uỷ thác đầu tư của các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Hoạt động tín dụng – bảo lãnh: cung cấp cho khách hàng một dòng sản phẩm
tín dụng rất đa dạng và phong phú bao gồm Cho vay vốn ngắn, trung và dài hạn
bằng VNĐ và ngoại tệ phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ; Tài trợ, đồng tài trợ

cho các dự án; Cho vay trả góp tiêu dùng, sinh hoạt gia đình; Cho vay mua ô tô trả
góp; Cho vay trả góp mua, xây dựng và sửa chữa nhà; Cho vay du học; Cho vay
mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá. Dịch vụ bảo lãnh gồm bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
bảo hành sản phẩm
- Thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu: Với mạng lưới gần 300 Ngân
hàng đại lý ở gần 70 nước trên thế giới, NHTM CP Quân đội cung cấp một cách
nhanh chóng và an toàn cho các khách hàng những sản phẩm dịch vụ theo tiêu
chuẩn quốc tế.
- Thẻ ngân hàng: Nhằm nâng cao hơn nữa dịch vụ tiện ích cho khách hàng,
năm 2004, Ngân hàng đã triển khai dịch vụ thẻ ATM Active Plus cho khách hàng.
Thẻ này mang lại cho khách hàng những tính năng ưu việt hơn hẳn những sản phẩm
thẻ của các Ngân hàng khác như cung cấp cho chủ thẻ dịch vụ bảo hiểm cá nhân tại
công ty Bảo hiểm Viễn Đông. Ngoài ra, nhờ việc kết nối thành công với Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam, khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại tất cả những
điểm chấp nhận thẻ của NHTM CP Quân đội và hệ thống ATM của VCB trên toàn
quốc.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ: là lĩnh vực khá mạnh của Ngân hàng Quân đội.
Với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp và hệ thống hỗ trợ hiện đại, Ngân hàng có thể
đáp ứng tốt nhu cầu ngoại tệ của khách hàng với mức giá cả cạnh tranh hợp lý với
thủ tục nhanh chóng thuận tiện. Ngoài ra, Ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách
hàng để quản lý, phòng ngừa rủi ro và các hình thức kinh doanh phù hợp có lợi.
- Các dịch vụ khác: Ngoài các sản phẩm trên, Ngân hàng còn cung cấp cho
khách hàng nhiều dịch vụ khác như Dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ngân quỹ, chi
trả lương hộ cho doanh nghiệp, dịch vụ chuyển tiền nhanh trong nước, dịch vụ kiều
hối
2.1.3. Mô hình tổ chức
NHTMCP Quân đội được tổ chức dưới hình thức Công ty Cổ phần của những người
chủ sở hữu tài sản và các doanh nghiệp theo luật định, trong đó các doanh nghiệp

Quân đội chiếm số lượng vốn lớn trong tổng số vốn của ngân hàng.
Cơ quan quyết định cao nhất của NHTMCP Quân đội là Đại hội cổ đông. Đại hội cổ
đông bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Điều hành ngân hàng là Tổng giám
đốc do Hội đồng quản trị chọn và bổ nhiệm, được Thống đốc NHNN chấp thuận.
2.1.4. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng trong những năm qua
Trong 10 năm qua, hoạt động kinh doanh của NHTM CP Quân đội đã liên tục phát
triển về quy mô, vốn điều lệ, mạng lưới, tổ chức, hoạt động đảm bảo an toàn, kết
quả kinh doanh có lãi, liên tục được Ngân hàng Nhà nước xếp loại A với số điểm
đánh giá từ 92-98 điểm/100 điểm.
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM CP Quân đội được thể hiện tóm tắt trên
bảng số liệu sau:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 29/10/04 KH04
- Vốn chủ sở hữu 250,91 278,88 340 398,45 420
+Vốn điều lệ 209,05 229,05 280 330 350
+ Vốn bổ sung 41,86 49,83 60 68,45 70
- Vốn huy động 2548,97 3118,81 3488 4010,7 4100
- Tổng tài sản 3034,46 3966,61 4320 5687,5 5100
- Tổng dư nợ 1743,77 2071,07 2951 3510,8 3600
+ Tỷ lệ nợ quá hạn 0,99% 1,62% 0,79% 1,3% <2%
- LNTT (sau khi đã trích dự phòng)
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm).
Về vốn huy động:
Biểu 1: tổng vốn huy động Đơn vị: Tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm)
Đến 29/10/2004, tổng vốn huy động của Ngân hàng đạt 4010,7 tỷ đồng, tăng 24% so
với năm 2003 và tăng 434,1 lần so với năm 1994 với các hình thức sản phẩm dịch

vụ huy động vốn đa dạng phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chính vì
vậy, lượng vốn huy động từ dân cư của Ngân hàng ngày càng tăng, lượng vốn huy
động trên thị trường liên Ngân hàng ngày càng giảm.
Huy động vốn đạt tốc độ tăng trưởng tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu về tín dụng và
hoạt động đầu tư. Đặc biệt, với chất lượng hoạt động hiệu quả và tình hình tài chính
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
lành mạnh, uy tín ngày càng tăng nên lượng vốn huy động từ dân cư của Ngân hàng
trong những năm gần đây tăng nhanh, đặc biệt là năm 2004 mặc dù lãi suất huy
động vốn không phải ở mức cao nhất trong các ngân hàng cổ phần.
Biểu 2: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động Đơn vị: %
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm)
Về hoạt động tín dụng:
Nhiều năm qua vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng, mang lại cho Ngân hàng một
nguồn thu nhập đáng kể. Đây sẽ là mảng hoạt động rất được Ngân hàng chú trọng
đầu tư cả về thị trường sản phẩm và chất lượng kinh doanh. Vì vậy, mặc dù tốc độ
tăng trưởng dư nợ hàng năm không cao nhưng nhờ có chất lượng tín dụng tốt, quy
trình quy chế chặt chẽ, nên tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp, đảm bảo tỷ suất lợi
nhuận và hiệu quả kinh doanh.
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng dư nợ và tỷ lệ nợ quá hạn
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 29/10/04 KH04
+/- (%) Tổng dư nợ - +18,75% +42,49% +18,66% +2,55%
Tỷ lệ nợ quá hạn 0,99% 1,62% 0,79% 1,3% <2%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm).
Cụ thể về tổng dư nợ từ năm 1994 đến 29/10/04 như sau:
Biểu 3: Tổng dư nợ Đơn vị: Tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm)
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Tổng dư nợ của Ngân hàng đến 29/10/2004 đạt 3501.8 tỷ đồng, tăng 234 lần so với
năm 1994. Cơ cấu và loại hình cho vay của Ngân hàng cũng ngày càng đa dạng. Bên
cạnh các sản phẩm truyền thống, Ngân hàng Quân đội còn phát triển thành công một
loạt các sản phẩm mới như cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng,
tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay mua ô tô trả góp, cho vay du học, đi lao động nước
ngoài, cho vay cổ phần hoá Chất lượng tín dụng luôn được Ngân hàng quan tâm
chú trọng. Tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng luôn ở mức thấp và nhỏ hơn mức 2%.
Về hoạt động cung cấp dịch vụ:
- Với nhiệm vụ là trung tâm thanh toán, NHTM CP Quân đội đã cung cấp những sản
phẩm ngày càng phong phú, đa dạng, thực hiện một cách nhanh chóng, an toàn,
thuận tiện phù hợp với quy định hiện hành và thông lệ quốc tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng đã có những
bước phát triển vững chắc. Từ chỗ phát hành gần 200 thư tín dụng năm 1996 tương
đương 63 triệu USD thì 9 tháng đầu năm 2004 tổng giá trị thanh toán XNK đã đạt
700 triệu USD.
Với mạng lưới gần 300 Ngân hàng đại lý ở gần 70 quốc gia trên toàn thế giới, Ngân
hàng cung cấp một cách nhanh chóng và an toàn cho các khách hàng những sản
phẩm dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng dịch vụ tốt, được khách hàng và
đối tác đánh gia cao. Trong năm 2004 Ngân hàng đã nhận được giải thưởng “thanh
toán và quản lý tiền tệ trên thị trường quốc tế năm 2004” do Ngân hàng HSBC trao
tặng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
- Dịch vụ bảo lãnh cũng được Ngân hàng thực hiện rất thành công. Kể từ ngày được
thành lập, NHTM CP Quân đội đã phát hành trên 14.000 thư bảo lãnh, góp phần
mang lại cho Ngân hàng nhiều chục tỷ đồng lợi nhuận.
- Bên cạnh đó, các dịch vụ khác như kinh doanh mua bán ngoại tệ, thu chi hộ, chiết
khấu chứng từ có giá đều có những bước phát triển vượt bậc. Đặc biệt, từ
07/01/2004 Ngân hàng còn mang lại cho khách hàng sản phẩm thẻ ATM Active Plus
- Connect 24 kết hợp với dịch vụ bảo hiểm_một sản phẩm lần đầu tiên có mặt ở Việt
Nam. Đây là sản phẩm của sự hợp tác giữa Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân hàng

Ngoại Thương Việt Nam và công ty bảo hiểm Viễn Đông, theo đó có thể giao dịch
tại tất cả các máy ATM và hàng ngàn POS của hai ngân hàng, đồng thời được bảo
hiểm an toàn cá nhân 24/24 tại công ty Viễn Đông với mức bảo hiểm tối đa đến 10
triệu VNĐ. Sau 3 tháng phát hành thẻ, Ngân hàng đã có 600 khách hàng sử dụng,
với trên 6.000 giao dịch và doanh số giao dịch 9 tỷ. Tính đến cuối năm 2004 số thẻ
đã phát hành lên đến 5.000 thẻ.
Kết quả tài chính:
Thu nhập và chi phí là các chỉ tiêu tài chính tổng hợp, đánh giá kết quả kinh doanh
của ngân hàng trong năm. Theo Qui định của Hội đồng Quản trị NHTMCP Quân đội
kết quả kinh doanh thể hiện thông qua các chỉ tiêu tổng thu, tổng chi và lợi nhuận
sau thuế.
Tổng thu
Thu nhập của NHTM bao gồm: thu từ lãi và thu nhập không phải từ lãi, đối với
NHTMCP Quân đội thu nhập bao gồm: thu từ lãi; thu ngoài lãi gồm thu từ các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
khoản phí và dịch vụ, thu từ tham gia thị trường tiền tệ, lãi từ kinh doanh ngoại hối
và thu khác.
Bảng 3: Cơ cấu tổng thu Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 29/10/04
I. Thu từ lãi
Tỷ trọng (%)
II. Thu ngoài lãi
Tỷ trọng (%)
1. thu từ các khoản phí và dịch vụ
Tỷ trọng (%)
2. thu từ tham gia thị trường tiền tệ
Tỷ trọng (%)
3. lãi từ kinh doanh ngoại hối
Tỷ trọng (%)
4. thu khác

Tỷ trọng (%)
Tổng thu
Nguồn: Báo cáo quyết toán NHTM CP Quân đội từ năm2000 đến 29/10/04
Như vậy, trong các khoản mục thu nhập thì thu từ lãi có qui mô, cơ cấu lớn nhất và
ổn định ở mức trên 86% qua các năm (năm 2000 là 125.736 triệu đồng; năm 2001 là
144.321 triệu đồng, tăng 15% so với năm 2000; năm 2002 tăng mạnh so với năm
2000, 2001, chiếm tỷ trọng 94,87%; hai năm tiếp theo tỷ trọng giảm nhưng ổn định
ở mức 86,5%).
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Sở dĩ thu từ lãi tăng nhanh và mạnh trong năm 2002 là do trong năm NHNN thực
hiện cơ chế cho vay theo thoả thuận, các NHTM và NHTMCP Quân đội có điều
kiện mở rộng dư nợ tín dụng. Các năm tiếp theo, thu từ lãi tăng đều ở mức năm sau
tăng khoảng 9% so với năm trước.
Thu ngoài lãi có tốc độ tăng trưởng không ổn định (năm 2000, 2001 thu ngoài lãi
chiếm tỷ trọng khoảng 10,97%; nhưng đến năm 2002, thu ngoài lãi giảm mạnh so
với 2 năm trước đó, chỉ chiếm 5,13%; sau đó lại tăng ở các năm tiếp theo chiếm
khoảng 13% tổng thu, năm 2003 là 13,98% và 29/10/04 tỷ trọng là 13,07%).
Trong các khoản mục thu ngoài lãi, lãi từ kinh doanh ngoại hối tăng trưởng ổn định,
tốc độ tăng khoảng 1,5%/năm. Nguyên nhân là do đây là một trong những thế mạnh
của NHTM CP Quân đội với những cán bộ ngoại hối rất giàu kinh nghiệm. Còn các
khoản thu còn lại có qui mô nhỏ, tỷ trọng nhỏ, tăng trưởng ổn định (sự biến động
qua các năm là không đáng kể).
Nhìn vào các khoản thu qua hai năm 2003 và tính đến 29/10/04 thì tỷ trọng của các
khoản thu rất ổn định (thu từ lãi chiếm khoảng 86,5%, thu ngoài lãi tỷ trọng
là13,5%). Điều này cho thấy cơ cấu tổng thu của NHTM CP Quân đội đã đi vào ổn
định tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các chiến lược kinh doanh của
mình.
Tóm lại, khoản mục thu nhập từ lãi đóng vai trò quan trọng đối với NHTMCP Quân
đội và là kết quả tài chính quan trọng được ngân hàng quan tâm hàng đầu.
Chi phí

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Các khoản mục chi phí của NHTMCP Quân đội bao gồm : Chi phí huy động vốn
(chi trả lãi); chi khác về hoạt động huy động vốn và dịch vụ, chi nộp thuế và các
khoản phí, lệ phí; chi cho cán bộ công nhân viên, chi phí quản lý khác.
Bảng 4: Cơ cấu chi phí Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 29/10/04
I. Chi phí trả lãi
Tỷ trọng (%)
II. Chi phí ngoài lãi
Tỷ trọng (%)
1. chi khác về hđ huy động vốn, dịch vụ
Tỷ trọng (%)
2. chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí
Tỷ trọng (%)
3. chi cho cán bộ công nhân viên
Tỷ trọng (%)
4. chi phí quản lý khác
Tỷ trọng (%)
Tổng chi
Nguồn:Báo cáo quyết toán của NHTMCP Quân đội từ năm2000 đến 29/10/04
Tương ứng với sự tăng của tổng thu nhập, tổng chi phí của NHTM CP Quân đội
cũng tăng dần qua các năm (Tổng chi phí năm 2001 tăng +19,87% so với năm 2000;
tổng chi năm 2002 tăng mạnh so với năm 2001 là +46,88%; năm 2003 tăng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
+18,63% so với năm 2002; tính đến 29/10/04 tăng so với năm 2003 +4,71% và dự
kiện sẽ tăng mạnh trong 2 tháng cuối năm).
Trong các khoản mục chi phí thì chi trả lãi có qui mô, cơ cấu lớn nhất chiếm từ
66% - 71%. Chi phí tăng mạnh chủ yếu là chi phí trả lãi tăng. Năm 2001, qui mô, cơ
cấu chi phí trả lãi tuy có tăng nhưng chiếm 66,19% tổng chi so với 66,94% tổng chi
của năm 2000 là do: NHNN qui định giảm dự trữ bắt buộc nên nguồn ngắn hạn sử

dụng để cho vay tăng (tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi dưới 12 tháng là 3% đối
với VND, tiền gửi từ 12 tháng trở lên không phải dự trữ bắt buộc).
Trong năm 2002, nhu cầu về vốn tăng mạnh. Điều này là do:
Một là, nền kinh tế nước ta chuyển biến khá, tốc độ tăng trưởng cao, hàng loạt dự
án lớn và quan trọng được thực hiện. Do đó nhu cầu vốn tăng;
Hai là, ngành ngân hàng tập trung tháo gỡ mọi khó khăn để đáp ứng nhu cầu vốn
cho nền kinh tế. Qui chế cho vay mới 1627 do Thống đốc ngân hàng đx tạo điều
kiện cho các ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động cho vay, mở rộng dư nợ, nhu
cầu về vốn tăng;
Ba là, thị trường bất động sản và thị trường vàng quốc tế nóng lên, người dân
chuyển sang tiết kiệm bằng vàng hoặc đầu tư bất động sản;
Bốn là, từ chương trình thực hiện Luật doanh nghiệp, hàng loạt các doanh nghiệp ra
đời đòi hỏi nguồn vốn để hình thành và hoạt động ), hệ quả là làm cho lãi suất huy
động chung của hệ thống NHTM tăng.
Cũng giống như tổng thu hai năm tiếp theo 2003 và tính đến 29/10/04 tỷ trọng chi
phí trả l•i tuy có giảm nhưng bắt đầu đi vào ổn định ở mức 67,93%.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Chi phí ngoài lãi chiếm tỷ trọng ổn định qua các năm trung bình chiếm 31,95%.
Trong các khoản mục chi phí ngoài lãi, chi phí quản lý chiếm tỷ trọng từ 18% - 27%
tổng chi.
Bảng 5: Lợi nhuận sau thuế Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 29/10/04
Tổng thu 141.356 162.108 216.186 255.538 282.912
Tổng chi 87.650 105.068 154.329 183.075 191.704
LNTT 53.706 57.039 61.857 72.463 91.208
Thuế thu nhập DN 17.186 18.252 19.794 23.188 29.186
LNST 36.520 38.787 42.063 49.275 62.022
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm)
Nếu nhìn về tổng thể kể từ năm NHTM CP Quân đội được thành lập cho đến nay

thì:
Biểu 4: lợi nhuận sau thuế Đơn vị: Tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các
năm)
Lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng đều tăng trưởng ổn định. Mức lợi nhuận của
Ngân hàng tăng từ 0,16 tỷ đồng trong năm tài chính 1994, lên 49,275 tỷ đồng năm
2003, và xấp xỉ 62 tỷ đồng trong 10 tháng đầu năm 2004, bằng 100% kế hoạch cả
năm. Kết quả đó đã đưa NHTM CP Quân đội trở thành một trong những Ngân hàng
có lợi nhuận trước thuế cao nhất trong hệ thống các NHTM CP trên địa bàn Hà Nội.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Nếu xét chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu thì NHTM CP Quân đội
luôn duy trì được mức ROE trên 20% trong những năm vừa qua. Chính vì vậy, tỷ lệ
chia cổ tức hàng năm đạt 15 - 20%.
Bảng 6: Chỉ tiêu ROE Đơn vị: %
Chỉ tiêu ROE 2001 2002 2003
NHTM CP Quân đội 22,86 19,8 21,49
NHTM CP khác 13 15,6 17,2
(Nguồn: Báo cáo kết quả kiểm toán của các NHTM CP qua các năm)
Các chỉ tiêu về vốn luôn đảm bảo yêu cầu NHNN quy định. Tốc độ tăng trưởng về
vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của Ngân hàng là khá cao, phù hợp với tốc độ tăng
trưởng của tổng tài sản.
Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động an toàn và đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển
thì việc tăng vốn chủ sở hữu của Ngân hàng là hết sức cần thiết.
Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng của một số chỉ tiêu
Đơn vị: %năm sau/năm trước
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 29/10/04
Vốn và quỹ Ngân hàng 125 111 122 117
Vốn điều lệ 122 110 122 118
Tổng tài sản 115 131 109 132
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh, kiểm toán của NHTM CP Quân đội qua các

năm)
Như vậy, qua việc phân tích các số liệu trên, chúng ta có kết luận về kết quả kinh
doanh như sau:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Nguồn vốn và tài sản của NHTMCP Quân đội tăng trưởng mạnh qua các năm đã tạo
điều kiện cho ngân hàng tăng cường huy động vốn, cơ cấu lại dư nợ tín dụng, mở
rộng hoạt động kinh doanh, tái cấu trúc nguồn vốn, tạo tiền đề tăng vốn điều lệ, từ
đó tăng tính cạnh tranh, nâng cao uy tín của ngân hàng.
2.2. Thực trạng hoạt động huy động vốn từ bên ngoài của NHTM CP Quân đội
2.2.1. Tổng quan về sự biến động nguồn vốn của NHTM CP Quân đội thời gian qua
Nguồn vốn của NHTM CP Quân đội cũng như các ngân hàng khác chiếm tỷ trọng
lớn nhất vẫn là vốn huy động từ bên ngoài. Ngân hàng Quân đội chủ yếu huy động
vốn thông qua hình thức tiền gửi, trong trường hợp đặc biệt ngân hàng huy động qua
hình thức tiền vay của các TCTD khác (vay để đáp ứng nhu cầu thanh khoản). Cụ
thể :
+ Tiền gửi của khách hàng: bao gồm tiền gửi của các tầng lớp dân cư và của các
TCKT khác.
+ Hiện nay, NHTMCP Quân đội chưa huy động vốn qua hình thức phát hành giấy tờ
có giá (kỳ phiếu, trái phiếu). Và cũng chưa vay NHNN.
+ Tiền vay của các TCTD khác.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh mà trực tiếp là tối đa hoá giá trị tài sản chủ sở hữu,
tối đa hoá lợi nhuận, chỉ tiêu được xác định trên cơ sở nguồn thu nhập và chi phí,
NHTMCP Quân đội đã khai thác đa vốn huy động từ bên ngoài và nâng cao hiệu
suất sử dụng vốn nhằm tăng cường qui mô tài sản sinh lời.
Để thấy được điều này, ta xét biến động nguồn vốn của NHTM CP Quân đội trong
thời gian qua:
Bảng 8: Nguồn vốn tại NHTMCP Quân đội
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đơn vị: Triệu đồng (VND, ngoại tệ qui đổi); Tỷ trọng: %
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 29/10/04

1.Vốn huy động
+ Tiền gửi của các TCKT-XH
+ Tiền gửi của các tầng lớp dân cư
+ Tiền gửi của các TCTD khác 501.271 16,52 284.983 7,18 785.838
18,19 913.308 16,06
+ Tiền vay của các TCTD khác
2. Vốn và quĩ của ngân hàng
3. Nguồn khác
Nguồn vốn
Nguồn:Báo cáo quyết toán niên độ NHTM CP Quân đội từ năm 2001 đến 29/10/04
Trong tổng nguồn vốn thì vốn huy động có qui mô lớn và tăng qua các năm. Năm
2002, vốn huy động tăng 22% so với năm 2001; năm 2003, vốn huy động tăng 12%
so với năm 2002; đến 29/10/04, vốn huy động tăng 25% so với năm 2003. Vốn huy
động về cơ cấu chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Năm 2001 chiếm 76,95%; năm 2002
chiếm 78,61%, năm 2003 chiếm 80,67%, tính đến 29/10/04 chiếm 76,34% nhưng
được dự báo tăng mạnh trong hai tháng cuối năm. Diễn biến nguồn huy động cụ thể
như sau:
Bảng 9: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động Đơn vị: %
Vốn huy động + 22 + 12 + 25
+ Tiền gửi của các TCKT-XH + 39 - 18 + 21
+ Tiền gửi của các tầng lớp dân cơư + 24 + 29 + 47
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
+ Tiền gửi của các TCTD khác - 76 + 176 + 16
+ Tiền vay của các TCTD khác + 68 - 12 + 5
Như vậy, về quy mô thì nguồn tiền gửi của các TCKT-XH chiếm tỷ trọng cao nhất
nhưng tốc độ tăng trưởng không ổn định. Còn về cơ cấu, nguồn tiền gửi này tỷ trọng
có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do nguồn tiền gửi của các tầng lớp dân cư tỷ
trọng có xu hướng tăng với tốc độ tăng trưởng khá nhanh tính đến 29/10/04 tốc độ
này là 49% so với năm 2003. Với tốc độ gia tăng như vậy nguồn ngày càng chiếm tỷ
trọng cao trong tổng nguồn huy động. Có thể nói đây là nguồn chủ lực cần huy động

tối đa.
Nguồn tiền gửi, vay của các TCTD khác có quy mô, cơ cấu không ổn dịnh. Tốc độ
tăng trưởng của không ổn định, có thể tăng đến 176% nhưng cũng có thể giảm 76%,
nguyên do đây hầu hết đều là nguồn ngắn hạn thậm chí chỉ là cho vay overnight
(qua đêm).
Dưới đây, chúng ta sẽ phân tích thực trạng huy động vốn mà trọng tâm là phân tích
qui mô, cơ cấu các nguồn huy động theo loại tiền và các nguồn phân loại theo kỳ
hạn, đối tượng của NHTM CP Quân đội.
2.2.2. Phân tích hoạt động huy động vốn theo loại tiền
2.2.2.1. Huy động vốn nội tệ của NHTM CP Quân đội
Như đã trình bày ở chương 1, huy động vốn có rất nhiều cách phân loại tuỳ theo các
tiêu chí, mục đích huy động khác nhau.
Đối với NHTM CP Quân đội họ rất quan tâm đến hình thức huy động vốn theo loại
tiền. Cũng giống các NHTM Việt Nam khác, trong hình thức huy động này, huy
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×