Chống lại bệnh Alzheimer trong tương lai
Trong những chi phí về Y tế thì việc chăm sóc và điều trị cho những
bệnh nhân bị chứng bệnh Alzheimer (AD) hiện nay chiếm tới 300 tỷ USD
mỗi năm, tương đương với hai cơn thiên tai Katrina.
Điều nguy hiểm hơn nữa là sang năm sẽ là năm mà con số những
người thuộc thế hệ babyboomer ra đời sau năm 1945 sẽ bắt đầu gia nhập
hàng ngũ những người đến tuổi hưu trí 65 và con số bệnh nhân bị AD sẽ gia
tăng gấp bội vì các chuyên viên Y tế công cộng tiên đoán là sẽ lên tới 13
triệu người vào năm 2050, khi đó chắc chắn cả nước Mỹ sẽ không có đủ tiền
để chăm sóc cho con số bệnh nhân kể trên
Nguy cơ hàng đầu cho nước Mỹ.
Nhờ những khảo cứu và phát minh mới của Y học nên một số chứng
bệnh trước đây gây tử vong ở Mỹ đã bắt đầu giảm sút như bệnh tim mạch,
bệnh ung thư nhất là ung thư phổi ở nam giới. Nhưng tỷ lệ tử vong vì bệnh
AD thì lại gia tăng lên hàng thứ 6 trong các nguyên nhân tử vong.
Vì thế trong tháng 11 đã có 115000 người ký tên trong một thỉnh
nguyện thư lên chính phủ Obama yêu cầu gia tăng ngân sách cho những
khảo cứu về căn bệnh khó trị và tốn kém này. Lá thư yêu cầu chính phủ và
Quốc Hội đặt ưu tiên cho một kế hoạch rộng lớn phòng chống bệnh
Alzheimer lên hàng quốc sách trong tương lai giống như bài diễn văn của Tt
Kennedy hứa hẹn sẽ đưa người lên mặt trăng trong vòng 10 năm.
Khảo cứu và phòng bệnh không những giúp làm giảm tử vong mà còn
giúp cho nước Mỹ tránh được tai họa do những phí tổn gây ra cho ngân sách
quốc gia. Các nhà chuyên môn tin tưởng rằng nếu được cung cấp phương
tiện để khảo cứu thì hy vọng trong vòng 10 năm tới sẽ giải quyết được vấn
nạn của bệnh AD như Y học đã giải quyết được những vấn đề trước đây như
bệnh đau tim, cao huyết áp và một số ung thư tưởng chừng như bất trị. Ngân
sách dành cho khảo cứu vệ bệnh AD chỉ bằng 1 USD so với 300 USD dành
cho việc chăm sóc và điểu trị và cần phải được thay đổi lại.
Hiện nay đã có nhiều cố găng tìm hiểu về cách định bệnh và chữa trị
nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách nào chữa khỏi hẳn được bệnh AD.
Những khảo cứu tìm thuốc chủng ngừa (vaccine), thuốc mới trị bệnh chưa
đem lại kết quả rõ ràng và nhiều chuyên viên cho rằng phải tìm ra một chiều
hướng khác trong việc phòng bệnh AD trong đó dinh dưỡng và thay đổi nếp
sống cần được chú trọng hơn.
Phòng chống bệnh
Các Đại Học đang có nhiều cuộc khảo cứu về cách phòng bệnh AD
dựa trên một số khảo sát trước đây về một số những trường hợp ít bị bệnh
hoặc không bị tổn thương và có những triệu chứng của bệnh AD như mất trí
nhớ, hoang tưởng, tâm tính thay đổi và cơ thể suy sụp lần lần với diễn tiến
của căn bệnh.
Hai phương hướng được chú ý nhất là vấn đề dinh dưỡng và thay đổi
nếp sống (life style modifications).
BS Nicholas Scarmeas thuộc Đại Học Y Columbia (New York) đã
nghiên cứu cách dinh dưỡng của 2000 người trên 65 tuổi nhưng không có
triệu chứng sa sút trí tuệ (dementia). Những người áp dụng lối dinh dưỡng
Địa trung Hải thì giảm được 38 % nguy cơ bị bệnh AD, một trong những
nguyên nhân chính của hội chứng sa sút trí tuệ (dementia) có nhiều nguyên
nhân khác nhau và khảo cứu này được đăng tải trên tờ Archives of
Neurology năm 2010.
Lối dinh dưỡng này rất phổ biến tại các nước Hy lạp, Ý, Tây Ban
Nha, Lebanon gồm có nhiều loại hạt như hạnh nhân, hạt dẻ, cà chua, dàu
olive, cá biển, các loại rau cải, trái cây, rau xanh và nhất là ăn rất ít thịt bò và
các loại mỡ động vật, phó sản sữa nhiều mỡ (high fat dairy products). BS
Scarmeas là một người dân Mỹ gốc Hy lạp, sau khi về thăm một số dân sinh
sống tại các hải đảo trong biển Aegean thì thấy họ ít bị bệnh AD và tim
mạch nhờ lối dinh dưỡng đặc biệt của họ nên ông đã trở về Mỹ làm một báo
cáo vào năm 2006 Columbia Aging Project khuyến cáo lối dinh dưỡng kể
trên hòng tránh được bệnh AD.
Trước đây đã có nhiều khảo cứu xác nhận ưu điểm của lối dinh dưỡng
ĐTH trong việc chống lại bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não và gần đây
đã có thêm nhiều khảo cứu chứng minh lối dinh dưỡng ĐTH giúp tránh
được bệnh AD. Nhưng BS Samuel Gandy của Đại Học Mount Sinai nhận
định rằng lối dinh dưỡng ĐTH có thể giúp tránh được bệnh AD là vì có tác
dụng chống lại hiện tượng sơ cứng động mạch trong não bộ và chống lại
hiện tượng viêm (inflammation) dẫn đến sự hình thành của những tảng
amyloid gây tổn thương cho các tế bào thần kinh dẫn đến bệnh AD. BS
Gandy kết luận là dù cho cơ chế của lối dinh dưỡng ĐTH có ích cho hệ
thống tim mạch hay thần kinh thì cũng là một điều tốt cho tất cả trong khi
chờ đợi tìm ra thêm những khảo cứu mới.
Nói chung là sau khi phân tích lối dinh dưỡng ĐTH thì các chuyên
viên thấy rằng trong khẩu phần ăn hàng ngày có nhiều chất omega 3, omega
6. nhiều sinh tố E và B 12, folate là những chất đã được chứng minh giúp
chống lại bệnh tim mạch. BS Scarmeas tin rằng chất folate chống lại chất
độc homocystein, sinh tố E có tác dụng antioxidant rất mạnh trong khi
những loại thực phẩm mà người dân Mỹ tiêu thụ hàng ngày có quá nhiều mỡ
động vật trong thịt bò, thịt heo thì làm cho các động mạch bị sơ cứng khiến
các tế bào trong não bộ bi hư hỏng vì các tảng amyloid, dấu hiệu của bệnh
AD.
Nói chung là lối dinh dưỡng ĐTH có tác dụng bảo vệ não bộ chống lại
bệnh AD bằng nhiều đường lối (pathways) mà trong tương lai sẽ được làm
sáng tỏ. BS Steven Dekosky của Đại Học University of Virginia nhận định
là cần phải theo rõi trong nhiều năm mới có thể biết rõ thêm một số yếu tố
khác như ăn theo lối ĐTH trong vòng bao lâu và bao nhiều calorie và vấn đề
di truyền đối với bệnh AD.
Nếp sống (lifestyles modifications)
Một khảo cứu trên loài chó của Đại Học University of California
Irvine cho thấy là dinh dưỡng có nhiều chất antioxidants và kèm thêm với
những hoạt động thể chất và xã hội (social inter actions) giúp tránh được
hiện tượng của bệnh AD tức là những tảng amyloid trong não bộ. BS
Viorela Pop đã so sánh kết quả thì thấy là có nhiều yếu tố khác nhau gây ra
bệnh AD (multifactorial disease) trong đó có cả vấn đề dinh dưỡng và hoạt
động thể chất và tinh thần. Hiện nay Đại Học Loma Linda đang nghiên cứu
việc thay đổi nếp sống như hoạt động thể chất và tinh thần ảnh hưởng như
thế nào lên bệnh AD. Tại Loma Linda có cộng đồng Adventist có một nếp
sống gồm có dinh dưỡng trong lành, không hút thuốc lá, không ăn thịt hay
ăn rất ít, đời sống cộng đồng và hoạt động tinh thần rất mạnh và ngoài tuổi
thọ rất cao thì cũng ít bị AD như những nơi khác.
BS Trường Xuân, MD.